Hệ thống ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc - thu hút toàn bộ tiền tiết kiệm của hộ gia đình và cung cấp đến 95% vốn cho khu vực doanh nghiệp, là một trong những lĩnh vực chủ chốt dẫn dắt sự tăng trưởng ấn tượng của kinh tế trung quốc từ những năm 1978.
Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế theo định hướng thị trường vào năm 1978, ngành ngân hàng đã có những thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên , bước ngoặt đáng chú ý nhất là vào năm 1995 khi hệ thống ngân hàng Trung Quốc chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Cũng kể từ đó, hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) Trung Quốc đã tiến hành nhiều chương trình cải cách, cơ cấu mạnh mẽ gắn kết và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997 và giai đoạn từ khi Trung quốc chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2001 cho đến nay.
Có thể nhận thấy các chương trình cải cách, tái cơ cấu hoạt động của hệ thống ngân hàng Trung quốc từ năm 1978 đến nay là hoạt động thường xuyên, gắn bó mật thiết với các chương trình cải cách và phát triển kinh tế của đất nước. Và cho đến nay, ngành ngân hàng của Trung quốc đã thực sự lớn mạnh về cả quy mô và phạm vi hoạt động, có thể sánh ngang với các nền kinh tế công nghiệp hóa hàng đầu trên thế giới. Vì vậy mà các trải nghiệm của Trung quốc trong việc thực hiện cải cách, tái cơ cấu ngân hàng được là xem là những bài học quý, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Để đạt được vị thế như ngày hôm nay, Chính phủ Trung Quốc đã sử dụng các công cụ rất hữu hiệu trong các chương trình tái cấu trúc ngân hàng nhằm khôi phục lại lòng tin của xã hội thông qua việc khắc phục những yếu kém cố hữu mà hệ thống thường gặp phải, đó là tình trạng thanh khoản và khả năng sinh lời. Các chương trình tái cấu trúc không chỉ tập trung xử lý những vấn đề của từng ngân hàng (kết cấu tài sản - vốn) mà còn quan tâm mạnh mẽ đến các mức độ đáp ứng của cơ sở hạ tầng trong việc tạo lập môi trường hoạt động cho ngành ngân hàng (việc tuân thủ các quy định về an toàn hoạt động, các quy định liên quan đến sự tham gia cả các ngân hàng nước ngoài,…)
Các công cụ áp dụng cho từng ngân hàng, đặc biệt là NHTM thuộc sở hữu Nhà nước:
1/ Tăng cường năng lực tài chính:
Trong giai đoạn đầu của quá trình tái cơ cấu, Chính phủ thông qua Bộ Tài chính đã bơm vốn cho các NHTM thuộc sở hữu nhà, sau đó khuyến khích các ngân hàng chủ động tăng vốn thông qua việc tạo điều kiện cho các ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán và huy động vốn từ các tổ chức, ngân hàng nước ngoài dưới hình thức mua cổ phần hoặc thực hiện liên minh liên kết.
2/ Tập trung xử lý nợ xấu: Nợ xấu gia tăng là một nhân tố hạn chế lớn nhất khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Và nếu các ngân hàng phải trực tiếp xử lý các khoản nợ này ra khỏi bảng cân đối thì tất yếu sẽ làm suy giảm vốn của ngân hàng. Vào những năm 90 do thị trường vốn tại Trung Quốc chưa phát triển và khá phân đoạn nên Chính phủ Trung quốc đã lựa chọn phương pháp xử lý nợ xấu tập trung. Có nghĩa là sử dụng phương pháp hoán đổi nợ và vốn cổ phần là chủ yếu. Theo đó, tất cả các khoản nợ xấu từ ngân hàng sẽ được bán cho một hoặc một vài công ty quản lý tài sản mới được thiết lập (AMC) với một tỷ lệ chiết khấu nhất định. Khoản tiền để trả cho các tài sản đó sẽ được quy đổi thành giá trị phần vốn góp của công ty quản lý tài sản đầu tư vào ngân hàng. Theo cách này thì phần vốn cơ bản của ngân hàng sẽ được bảo toàn nhưng quan hệ sở hữu sẽ bị suy giảm một phần. Sau đó thì các AMC sẽ tập trung vào việc thu hồi các khoản nợ xấu.
Ngoài ra, để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàng, Chính phủ còn khuyến khích thực hiện các thương vụ sáp nhập giữa các ngân hàng yếu với các ngân hàng hoạt động thành công trên thị trường với kỳ vọng cho rằng quản lý thành công sẽ tạo ra sự khác biệt và tính hiệu quả của việc quản lý thành công này không bị cản trở bởi quy mô hoạt động. Và theo phương châm này thì các ngân hàng nước ngoài thực sự đóng vai trò quan trọng. Trong một số trường hợp đặc biệt sự tham gia của các đối tác nước ngoài có thể xem là đối tác “kép”. Điều đó có nghĩa là họ vừa cung cấp vốn vừa giúp cho các ngân hàng yếu kém xác định và thực hiện những thay đổi trong hoạt động quản lý của mình.
3/ Tái cơ cấu hoạt động quản lý
Hệ thống ngân hàng Trung quốc đã khỏi động chương trình này bắt đầu bằng việc tăng cường công tác đào tạo các cán bộ quản lý nhằm nâng cao độ nhạy bén của họ đối với những thay đổi của thị trường và xác định rõ ảnh hưởng của hoạt động quản lý đối với khả năng sinh lời của ngân hàng. Đồng thời nhấn mạnh hoạt động quản lý cần phải tương thích với quá trình hoạt động để đảm bảo đạt được các quyết định mục tiêu cũng như nhận biết kịp thời những ảnh hưởng của các quyết định này. Sự tương thích này được thể hiện thông qua một hệ thống kế toán và thông tin hoàn thiện, các quy trình phê duyệt và đánh giá tín dụng hiệu quả, mô hình quản lý rủi ro lành mạnh, quy trình phát triển các sản phẩm mới khoa học và đồng bộ.
Tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng hoạt động của hệ thống
1/ Tư nhân hóa và giảm quy mô
Một trong những giải pháp quan trọng đã đem đến sự thành công trong việc cải cách khu vực ngân hàng tại Trung quốc đó là việc chuyển 04 NHTM thuộc sở hữu nhà nước lớn - chiếm 70% tài sản và thị phần tín dụng của đất nước sang các doanh nghiệp cổ phần. Quá trình tư nhân hóa này đã tạo ra một sân chơi bình đẳng trong lĩnh vực ngân hàng. Chính vì vậy, mà Chính phủ Trung Quốc đã rất quyết tâm trong việc tạo lập một cơ sở bền vững để các ngân hàng có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế. Mặc dù vậy thì các ngân hàng này vẫn được xếp vào nhóm “quá lớn để đổ vỡ” nên vấn đề quy mô ngân hàng như thế nào là hợp lý cũng được cân nhắc trong giai đoạn này. Các cơ quan quản lý đã tiến hành rà soát và đưa các quy định hạn chế bớt các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như việc thành lập các công ty con phi tài chính, các hoạt động tín thác và đầu tư, chứng khoán,… Việc tiến hành đồng thời giải pháp tư nhân hóa và thu hẹp quy mô hoạt động không chỉ giúp cho các ngân hàng tăng cường được năng lực cạnh tranh mà còn giúp cho các ngân hàng có quy mô thu hẹp tập trung phát triển chuyên sâu vào một số nhóm sản phẩm.
2/ Ban hành, đổi mới các quy định điều tiết hoạt động ngân hàng và tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát
Các cơ quản lý tăng cường các hoạt động thanh tra, giám sát , đặc biệt đối với các ngân hàng lớn nhằm ngăn chặn nguy cơ lan truyền rủi ro hệ thống giống như cuộc khủng hoảng ở khu vực Đông á vào năm 1997. Đồng thời trong giai đoạn cải cách, các cơ quan này cũng đã tích cực ban hành một khuôn khổ điều tiết linh hoạt đảm bảo cho các ngân hàng phát triển ổn định trong môi trường hoạt động liên tục thay đổi và độ mở ngày càng gia tăng.
3/ Chấp nhận sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài.
Chính phủ Trung Quốc đã triển khai việc cải cách và cơ cấu lại hoạt động ngân hàng một cách linh hoạt theo hướng tìm kiếm sự trợ giúp các ngân hàng yếu kém từ ngân hàng nước ngoài một cách thận trọng.
Mặc dù các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế nhất định, nhưng khi chấp nhận để các ngân hàng này gia nhập thị trường, Chính phủ Trung Quốc đã phải chuẩn bị một nền tảng vững chắc cho công tác thanh tra, giám sát. Hơn nữa các ngân hàng này được phép gia nhập thị trường sẽ tập trung nguồn lực tín dụng cho các khu vực chủ chốt của nền kinh tế đồng thời cũng phải tuân thủ các quy định về hạn mức giới hạn hoạt động tại một vài khu vực, lĩnh vực chính yếu để ngăn chặn việc “thu hoạch thành quả” của các ngân hàng nước ngoài.
Thạc sỹ Nguyễn Thu Trang
Viện Chiến lược Ngân hàng