Vàng được biết đến như tiền tệ quốc tế, là dự trữ ngoại hối quốc gia và được coi như “phong vũ biểu đo lường sự hoang mang của nhà đầu tư”. Khi các nhà đầu tư lo ngại về nền kinh tế, họ chuyển sang nắm giữ vàng làm tăng cầu và đẩy giá vàng đi lên. Ngược lại, khi kinh tế khởi sắc, các khoản tiền đầu tư được chuyển sang các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác là nguyên nhân giảm giá vàng
Vàng được mua bán trên thị trường từ bốn nguồn chính: khai khoáng, tái chế, ngân hàng trung ương, các quỹ đầu tư và dân cư. Sản lượng vàng từ công nghiệp khai khoáng là tương đối ổn định. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, mỏ khai thác vàng mới mở thay thế cho những mỏ cũ đã cạn kiệt, nên sản lượng vàng khai thác được trên toàn cầu không tăng lên. Tương tự như vậy, sản lượng vàng có được từ tái chế cũng là những con số không mấy chênh lệch giữa các năm, chiếm khoảng một phần tư tổng lượng cung vàng. Vàng cũng được bán ra từ các ngân hàng trung ương, trong đó ngân hàng trung ương bán ròng lớn nhất là Fed. Hầu hết các ngân hàng trung ương đều có dự trữ ngoại hối dưới dạng vàng, tuy nhiên, ảnh hưởng của các ngân hàng trung ương tới giá vàng thế giới không phải là quá lớn. Theo số liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, các ngân hàng trung ương chỉ nắm giữ khoảng 16% lượng vàng được sản xuất. Mặt khác, Hiệp định Washington về Vàng (the Washington Agreement on Gold – WAG) năm 1999 đã đặt trần mức vàng bán ra đối với các thành viên tham gia, bao gồm Mỹ, Nhật bản, Châu Âu, Úc, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Theo đó, thỏa thuận trong Hiệp định hạn chế số lượng vàng bán ra của mỗi ngân hàng trung ương là dưới 500 tấn 1 năm. Cuối cùng, cung vàng từ các quỹ đầu tư tín thác và vàng trong dân cư hiện nay đang là yếu tố biến động nhiều nhất trong tổng lượng cung vàng, quyết định giá vàng thế giới. Hoạt động của các quỹ đầu tư tín thác vàng (ETFs) hiện nay khá sôi động, với các quỹ nổi tiếng như SPDR Gold Trust, Gold Billion Securities, ETFS Physical Gold…, trong đó quỹ lớn nhất là SPDR. Tính đến ngày 16/4/2013, quỹ nắm giữ khoảng 1.154 tấn vàng với giá trị khoảng 51,2 tỷ USD. Tỷ lệ vàng nắm giữ trong dân cư rất khác nhau tại các quốc gia do tâm lý, thói quen và tình hình chính trị khác nhau. Việc tính toán chính xác lượng vàng trong dân cư là điều không hề dễ dàng, gây khó khăn cho dự báo phần trăm giá vàng bị tác động bởi lượng cung này.
Vàng có giá trị sử dụng trong công nghiệp và khoa học, chiếm khoảng 10% tổng cầu toàn thế giới. Cầu về vàng cho các ngành công nghiệp trang sức hay chế tạo máy móc (gọi là cầu vàng tiêu dùng) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng cầu về vàng (khoảng trên 2/3 tổng cầu từ trước năm 2008, nhưng từ năm 2009 đến nay đã giảm tỷ trọng xuống còn xấp xỉ 50% tổng cầu do cầu đầu tư và cầu mua vàng dự trữ của các ngân hàng trung ương tăng lên). Trong 4 năm gần đây, lượng cầu vàng này khá ổn định qua các năm mặc dù trong ngắn hạn có thể có biến động do yếu tố mùa vụ (ví dụ như mùa cưới hỏi ở Ấn Độ và dịp Tết ở Trung Quốc) và có thể dự đoán trước. Cầu vàng từ phía các ngân hàng trung ương đã tăng lên qua các năm, đến năm 2012 đã chiếm tỷ trọng 12% trong tổng lượng cầu vàng. Từ chỗ bán vàng trong các năm 2003 -2008, đến năm 2009 các ngân hàng trung ương ngừng bán vàng và từ năm 2010 đến nay lượng vàng ngân hàng trung ương mua vào đã không ngừng tăng lên. Xu hướng hiện nay của các ngân hàng trung ương là ngày càng gia tăng dự trữ bằng vàng và các ngoại tệ khác như Bảng Anh, Yên Nhật và Nhân dân tệ thay thế Đô la Mỹ và đồng Euro nhằm mục đích đa dạng hóa danh mục dự trữ quốc gia, đặc biệt là tại các quốc gia mới nổi.
Trên thực tế, yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất đến giá vàng là cầu vàng đầu tư. Cầu về vàng của các nhà đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô, như chính sách lãi suất của các ngân hàng trung ương trên thế giới, đặc biệt là Fed; các chỉ số kinh tế như CPI; PPI; cán cân thương mại, tỷ lệ thất nghiệp; giá trị đồng USD; thị trường chứng khoán; tình hình chính trị…
Biểu đồ 1. Thay đổi thành phần cầu vàng qua các năm 2003-2012
(Nguồn: LBMA, Thomson Reuters GFMS, World Gold Council )
Giá vàng thế giới có khuynh hướng đi xuống trong 6 tháng vừa qua, đặc biệt giảm sâu vào giữa tháng 4 năm 2013. Giá vàng lao dốc đã trở thành mối quan tâm của dư luận từ Hội đồng Vàng thế giới đến các quĩ đầu tư vàng và nhà đầu tư cá nhân, đặc biệt khi giá vàng giảm so với tất cả các đồng tiền trên thế giới. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho hiện tượng này.
Biểu đồ 2. Biến động giá vàng trong 6 tháng từ tháng 11/2012 -04/2013
(Nguồn: Goldprice.org)
Biểu đồ 3: Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 2000 đến tháng 3 năm 2013
(Nguồn: U.S. Bureau of Labour Statistics)
Biểu đồ 4: Các chỉ số chứng khoán trên thị trường Mỹ
(Nguồn: Yahoo Finance)
Những tín hiệu đáng mừng từ nền kinh tế Mỹ không những vực dậy niềm tin của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư mà chính Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cũng tin tưởng rằng nước Mỹ đang dần hồi phục và kinh tế đang đi lên. Biên bản cuộc họp tháng 3 của Fed đã ghi nhận việc nhiều quan chức của cơ quan này muốn kết thúc gói QE3 vì cho rằng kinh tế đang khởi sắc. Ngày 13/04, trên kênh CNBC, ông Eric Rosengren, chủ tịch Fed tại Boston đã nhắc lại quan điểm này. Điều này sẽ tiếp tục tạo sức ép lớn hơn nữa lên giá vàng.
Một nguyên nhân khác khiến vàng giảm giá là thông tin ngày 11/4, bộ ba chủ nợ gồm Ủy ban Châu Âu (EC), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thông báo Síp cần huy động thêm 6 tỷ euro nữa để có thể nhận được 10 tỷ euro cứu trợ, vực dậy hệ thống tài chính nước này. Nhiều báo cáo cho thấy Síp sẽ phải bán một lượng lớn vàng dự trữ của ngân hàng trung ương để có thêm 400 triệu euro. Ngân hàng trung ương Síp sau đó đã phủ nhận thông tin này, tuy nhiên các nhà đầu tư vẫn không khỏi nghi ngờ tính xác thực của nó. Khối lượng bán vàng của Síp, nếu có, là không hề lớn so với thị trường. Mặc dù vậy, các thành viên thị trường đã đặt câu hỏi tương tự như vậy về các quốc gia khác ở châu Âu liệu có phải bán vàng như Síp hay không. Trên thực tế thì các quốc gia như Bồ Đào Nha hay Italy thì đều có lượng vàng dự trữ khá lớn.
Sự đi xuống của lạm phát trên phạm vi toàn cầu khiến sự hấp dẫn của vàng với vai trò là kênh đầu tư chống lạm phát hàng đầu suy giảm. Các nhà đầu tư đặt niềm tin rằng lạm phát sẽ tăng lên nhận thấy đây là thời điểm họ phải từ bỏ vàng. Theo tính toán của JP.Morgan về chỉ số giá tiêu dùng tại 30 quốc gia chiếm trên 90% sản lượng kinh tế toàn thế giới thì lạm phát toàn cầu đã đạt đỉnh 4% vào năm 2011 và giảm đi từ đó. Từ tháng 2/2012 đến tháng 3/2013, CPI toàn cầu đã giảm đi và giá cả chỉ tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Biểu đồ 5. Chỉ số CPI toàn phần toàn cầu từ năm 2010 - 2013
Về năm 2013, JPMorgan đưa ra 2 kịch bản lạm phát từ mô hình tính toán của mình, trong đó kịch bản chính là kịch bản tăng giá dựa trên những xu hướng giá cả theo dự báo của các nhà phân tích đối với từng lĩnh vực trên toàn thế giới. Kịch bản này cho thấy, lạm phát sẽ tăng rất nhẹ trong thời gian còn lại của năm từ mức hiện tại, ở mức khoảng 2,6%, một con số tương đối nhỏ. Kịch bản còn lại là kịch bản giảm giá dựa trên phân tích của các chuyên gia kinh tế của JPMorgan, tính đến giá cả của các hàng hóa giao sau, cùng nhiều yếu tố khác.
Dự báo lạc quan về lạm phát của JPMorgan cũng là một yếu tố củng cố thêm niềm tin lạm phát sẽ không tăng đột biến của các nhà đầu tư, qua đó tạo áp lực giảm giá vàng.
Trong tình hình giá vàng đang biến động giảm, việc các tổ chức tài chính lớn như Goldman Sachs, Deutsche Bank… đưa ra dự báo trùng nhau về diễn biến giá vàng trong tương lai sẽ tiếp tục đi xuống là một động thái định hướng niềm tin của các nhà đầu tư rằng nắm giữ vàng trong thời điểm hiện tại là điều bất lợi. Ngày 10/4, Tập đoàn Goldman Sachs giảm dự báo giá vàng năm 2013 xuống 1.545 USD một ounce từ 1.610 USD trước đó. Dự báo giá vàng cho năm 2014 cũng chỉ còn 1.350 USD một ounce. Tập đoàn này đã nhận định: "Chúng tôi tin rằng việc giá vàng bật lại là điều không thể. Mức giảm này có thể còn nhanh và mạnh hơn dự đoán". Ngân hàng Societe Generale trước đó cũng cho biết giá vàng đang trong thời kỳ bong bóng. Deutsche Bank cũng hạ dự báo giá vàng năm 2013 thêm 12% với lý do đồng USD đang mạnh lên và nhu cầu mua vàng làm tài sản trú ẩn giảm đi.
Các luận điểm đã nêu ra ở trên là những nguyên nhân có thể giải thích cho hiện tượng vàng giảm giá liên tục trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, liệu tình hình kinh tế thế giới mà điển hình là kinh tế Mỹ có thực sự tác động đến giá vàng hay không là một điều còn nhiều tranh cãi. Trong khi kinh tế Mỹ khởi sắc thì kinh tế các khu vực chủ chốt khác như Châu Âu và Trung Quốc lại đang chững lại và có nguy cơ thụt lùi.
Kinh tế Châu Âu đầu năm 2013 vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công dai dẳng, mà mới đây nhất khủng hoảng ngân hàng tại Síp một lần nữa lại khiến cả Châu Âu chao đảo. Các quốc gia khác như Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland vẫn đang vật lộn với khó khăn chồng chất như tỷ lệ thất nghiệp và nợ xấu ngân hàng cao, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia ở tình trạng báo động ngay cả khi các gói cứu trợ đều đã được rót xuống. Ngay cả Đức, quốc gia hùng mạnh nhất khu vực, cũng đang chịu ảnh hưởng của việc thị trường ôtô Châu Âu sụt giảm nghiêm trọng khiến cường quốc dẫn đầu trong ngành công nghiệp xe hơi này đã giảm đến 17.1% doanh số trong tháng 3 năm 2013.
Về phía khu vực Trung Quốc, Tổng cục Thống kê nước này ngày 15/4 đã chính thức công bố tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm là 7,7%, thấp hơn con số dự tính 8% mà các chuyên gia phân tích đưa ra trước đó. Mức tăng này cũng giảm đáng kể so với con số 7,9% của quý 4 năm 2012. Như vậy, GDP quý 1 năm 2013 của Trung Quốc giảm tốc bất chấp tăng trưởng tín dụng bùng nổ (tăng khoảng 60% so với cùng kỳ năm ngoái) thực sự là một điều bất lợi đối với nền kinh tế nước này. Minh họa rõ nét nhất cho sự yếu đi của nền kinh tế Trung Quốc là tăng trưởng sản xuất công nghiệp tháng 3 giảm tốc còn 8,9% so với mức dự báo trên 10%. Tháng 8 năm 2012 năm ngoái, khi Trung Quốc ở thời điểm chạm đáy của thời kỳ giảm tốc tăng trưởng, sản xuất công nghiệp của nước này cũng tăng với tốc độ tương tự.
Trong khi hai khu vực kinh tế quan trọng là Châu Âu và Trung Quốc đã phát triển không mấy khả quan trong quý 1 năm 2013, bản thân kinh tế Mỹ - nền kinh tế được đánh giá là đang trên đà đi lên, cũng đã xuất hiện tín hiệu tiêu cực. Đó là doanh số bán lẻ trên thị trường Mỹ giảm đi trong tháng 3/2013. Cụ thể, doanh số bán lẻ trong tháng 3 đã giảm đột ngột 0,4% xuống còn 418,3 tỷ USD sau khi tăng 1% trong tháng trước đó. Tuy doanh số bán lẻ vẫn cao hơn 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đây vẫn là dấu hiệu đáng lo ngại đối với nền kinh tế nước này, có khả năng làm giảm đáng kể mức tăng trưởng trong quý 1.
Như vậy, liệu diễn biến giá vàng đang đi xuống như hiện nay có phải do nguyên nhân tình hình kinh tế thế giới tác động một phần hay không cũng là một điều đáng bàn. Tất cả các nguyên nhân tác động đến giá vàng cho đến nay đều là phỏng đoán, và khó có thể nói chắc chắn rằng điều gì đang diễn ra trên thị trường. Nhiều báo cáo cho biết giá vàng giảm do các lệnh bán cắt lỗ tự động của nhà đầu tư. Khi vàng giảm đến gần một mức định trước, các lệnh này thường gây ra cơn bão bán vàng hàng loạt nếu được phát ra.
Thị trường vàng hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào hoạt động của các quỹ đầu tư tín thác vàng (ETF) như: SPDR Gold Trust, Gold Bullion Securities, ETFS Physical Gold... Các quỹ ETF phát hành một dạng chứng chỉ về vàng và được bảo đảm bằng vàng thật, niêm yết tại các sàn chứng khoán. Do đó, khi các nhà đầu tư của SPDR mua bán một số lượng lớn chứng chỉ quỹ GLD sẽ tác động mạnh đến giá vàng. Trên thực tế, vào năm 2008 khi các nhà đầu tư SPDR bán ra lượng chứng chỉ quỹ tương đương với 20,5 tấn vàng khiến giá vàng thế giới giảm mạnh.
Trong đợt giảm giá vàng lần này, từ ngày 11/4 đến 16/4/2013, các nhà đầu tư lớn sở hữu nhiều chứng chỉ vàng GLD cũng bán ra lượng chứng chỉ làm giảm lượng vàng nắm giữ của quỹ này từ 1.181,43 tấn (tương đương 59,4 tỷ USD) xuống còn 1.154 tấn vàng như hiện nay. Do vậy, quan điểm cho rằng giá vàng giảm do chịu tác động của làn sóng bán tháo chứng chỉ vàng của các quỹ không phải là không có cơ sở. Rất có thể, việc tham gia của các quỹ đầu tư tín thác vàng trên thị trường cổ phiếu đã khiến việc kinh doanh vàng vật chất chỉ là kinh doanh khống. Khi giao dịch trên thị trường này bùng nổ thì sẽ đẩy giá vàng vật chất giảm. Trong trường hợp giá vàng giảm sâu sẽ có thể tạo hiệu ứng bán tháo hàng loạt và khi đó các nhà đầu tư lớn sẽ mua lại vàng để đầu cơ.
Có rất nhiều nhân tố tác động trái chiều đến giá vàng hiện nay, do đó việc dự báo giá vàng tăng hay giảm trong thời gian tới sẽ phải tính đến việc liệu nhân tố khiến vàng tăng giá sẽ lấn át những yếu tố khác tác động làm giảm giá vàng hay ngược lại.
Thứ nhất, có thể thấy rằng bản thân việc giảm giá của vàng, tới một ngưỡng tối đa nào đó, sẽ là động lực khiến người dân đổ xô mua vàng vật chất và các nhà đầu tư bắt đầu tham gia vào thị trường dưới tư cách người mua. Vàng giảm giá tới mức giới hạn sẽ tự tạo đà đẩy giá vàng đi lên. Một trong những bằng chứng xác thực nhất của nhận định này là cầu vàng vật chất trong các ngày 13- 16/4 đột ngột tăng vọt, đã được ghi nhận tại các quốc gia như Ấn Độ, Hongkong, Makao, Mỹ và Trung Quốc…Nhu cầu vàng vật chất tăng kỷ lục tại nhiều nơi trên thế giới khiến các nhà bán lẻ tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á – Thái Bình Dương cạn kiệt kho dự trữ khi lực mua lấn át nguồn cung.
Thứ hai, kinh tế Châu Âu và Trung Quốc hiện vẫn chưa có dấu hiệu tăng trưởng khả quan. Nguy cơ về một cuộc khủng hoảng kéo dài và tăng trưởng chậm lại ở 2 khu vực kinh tế trên là một sức ép khiến giá vàng tăng giá. Bên cạnh đó, kinh tế Mỹ tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng liệu điều này có được dài lâu cũng là một dấu hỏi khi mới đây vụ đánh bom tại Boston làm dấy lên những nghi ngại vào tình hình chính trị nước này.
Thứ ba, thị trường chứng khoán toàn cầu kết thúc đà phục hồi sau vụ đánh bom tại Boston, Mỹ. Không chỉ có các chỉ số chứng khoán của Mỹ mà các chỉ số chứng khoán FTSE 100 của Anh, CAC 40 của Pháp, DAX của Đức, Nikkei 225 của Nhật... đều đồng loạt giảm điểm. Không có gì là chắc chắn khi cho rằng thị trường chỉ đi xuống trong ngắn hạn do chỉ một sự kiện gây ra. Nếu tâm lý của các nhà đầu tư trở lại bi quan về tình hình kinh tế năm 2013, thất vọng về lợi nhuận của các doanh nghiệp thì việc giá vàng tăng sẽ là điều tất yếu.
Thứ tư, chính sách tiền tệ nới lỏng của các ngân hàng trung ương Fed, ECB và BOJ nếu không được tính toán hợp lý sẽ dẫn đến lạm phát và tạo áp lực tăng giá vàng.
Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều nguyên nhân khiến các nhà đầu tư bi quan về thị trường vàng trong thời gian tới như kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi, khả năng các ngân hàng trung ương châu Âu phải bán vàng trả nợ, CPI toàn phần toàn cầu giảm, dự báo sai lệch của các tổ chức tài chính hàng đầu về giá vàng cao hơn rất nhiều so với thực tế và các tổ chức này phải lần lượt hạ dự báo giá vàng. Năm 2012, giá vàng năm 2012 dừng ở mức 1.700 USD/oz, thấp hơn dự báo 2.400 USD/oz do Citibank đưa ra. Trong báo cáo gần đây nhất, ngày 10/4, Goldman Sachs đã hạ dự báo giá vàng trung bình dự báo cho năm 2013 còn 1.545 USD/oz, từ mức 1.610 USD/oz trước đó, gây thêm bất an khi khuyến cáo các nhà đầu tư nên bán vàng. Mặt khác, đà suy yếu của đồng Euro cộng thêm việc Nhật phá giá đồng Yên sẽ nâng cao vị thế của đồng bạc xanh mà biến động giá luôn đi ngược với giá vàng. Một yếu tố khác nữa là vai trò đặc biệt quan trọng của các quỹ đầu tư vàng, các tổ chức tài chính kinh doanh vàng trên thị trường có ảnh hưởng lớn đến giá vàng. Không loại trừ trường hợp các tổ chức này chủ động tạo ra làn sóng bán tháo vàng khiến giá vàng giảm sâu rồi mua vào nhằm trục lợi…
Mặc dù tồn tại cả 2 loại nhân tố tác động trái chiều đến giá vàng trong tương lai nhưng gần như tất cả các tổ chức tài chính uy tín đều nhận định giá vàng trong năm 2013 sẽ tiếp tục giảm, với những con số dự báo mới đây nhất xoay quanh khoảng 1500 – 1700 USD/Oz, thấp hơn rất nhiều so với mức dự báo trước đó là 1750 – 1900 USD/Oz.
Bảng 1. Dự báo giá vàng trung bình năm 2013 của một số tổ chức tài chính lớn
Tổ chức tài chính |
Giá vàng 2013 (USD/Oz) |
Goldman Sachs ( Mỹ) |
1.545 |
Deutsche Bank (Đức) |
1.637 |
UBS Bank (Thụy Sỹ) |
1.740 |
Credit Suisse (Thụy Sỹ) |
1.580 |
Societe Generale (Pháp) |
1.500 |
HSBC (Hồng Kong, Thượng Hải) |
1760 |
(Nguồn: Tổng hợp)
Để đưa ra dự báo giá vàng giảm, các tổ chức tài chính đều có những lý do thuyết phục của riêng mình. Theo như báo cáo của Goldman Sachs thì “Bất chấp những rủi ro gia tăng ở châu Âu và một vài thống kê gây thất vọng của kinh tế Mỹ gần đây, giá vàng hầu như không có sự thay đổi trong vòng một tháng qua. Thực tế này phản ánh rằng, giới đầu tư không còn bị vàng thu hút nữa” và “Lạm phát tăng có thể sẽ đóng vai trò là chất xúc tác cho chu kỳ tăng giá tiếp theo của vàng, nhưng có lẽ điều này phải vài năm nữa mới xảy ra”. Ngân hàng Duetsche của Đức lại lấy việc đồng USD mạnh lên và nhu cầu mua vàng phòng rủi ro ở mức yếu làm cơ sở cho việc dự báo giá vàng giảm của mình. Ngân hàng Societe Generale của Pháp đưa ra báo cáo “Sự chấm hết của kỷ nguyên vàng”, trong đó nhận định rằng giá vàng năm 2013 không có động lực nào đáng kể để có thể tăng lên.
Nguyễn Hà Phương
Phòng Nghiên cứu Tiền tệ - Ngân hàng quốc tế
Viện Chiến lược Ngân hàng