Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi:
1. Báo cáo của Chính phủ cho thấy tăng trưởng huy động vốn tăng 12,7% nhưng dư nợ tín dụng chỉ tăng 2,5%. Trong khi đó, các NHTM vẫn tiếp tục cạnh tranh thu hút tiền gửi dưới nhiều hình thức và doanh nghiệp phản ánh việc tiếp cận vốn vay vẫn còn nhiều khó khăn. Điều này cho thấy dòng tiền huy động tuy có gia tăng nhưng tiền cung ứng cho sản xuất kinh doanh vẫn bị ách tắc.
Xin Thống đốc cho biết nguyên nhân của hiện tượng này? Dòng tiền đang chảy về đâu?
2. Thống đốc đánh giá tình hình nợ xấu của NHTM hiện như thế nào? Thống đốc có giải pháp gì để giải quyết vấn đề nợ xấu này?
Nguồn kinh phí và thời gian cần thiết để giải quyết vấn đề nợ xấu là bao nhiêu?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Nguyễn Ngọc Hoà như sau:
1. Về vấn đề tiền huy động sử dụng như thế nào khi tăng trưởng tín dụng so với huy động vốn là quá thấp, trong khi doanh nghiệp vẫn khó khăn khi tiếp cận vốn cho sản xuất – kinh doanh.
Trong 10 tháng đầu năm 2012, huy động vốn tăng cao (tính đến 25/10/2012, huy động vốn tăng 14,71%) trong khi tín dụng khó mở rộng (tính đến ngày 25/10/2012, tín dụng tăng 3,11%) do một số nguyên nhân như:
Về phía doanh nghiệp và người dân, do sức cầu trong nước và cầu nước ngoài yếu, hàng tồn kho tăng cao, khả năng tiêu thụ của thị trường khó khăn, nên doanh nghiệp giảm nhu cầu vay vốn; một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nên không đủ điều kiện vay vốn; người dân cũng hạn chế chi tiêu và giảm nhu cầu vay vốn tiêu dùng trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Về phía các tổ chức tín dụng, sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng ở mức cao, đến nay, để thực hiện tái cơ cấu, các tổ chức tín dụng phải vừa tích cực huy động vốn, vừa giảm tốc độ tăng tín dụng để cơ cấu lại tài sản có, tài sản nợ theo hướng lành mạnh, đảm bảo quản trị tốt rủi ro, đảm bảo khả năng chi trả, nâng cao chất lượng hoạt động; các tổ chức tín dụng, nhất là ngân hàng thương mại cổ phần cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn khách hàng mới, hạn chế cho vay đối với một số ngành nghề kinh doanh nhiều rủi ro; các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay bằng ngoại tệ theo chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ.
Do đó, để cơ cấu tài sản có phù hợp với điều kiện chưa mở rộng được tín dụng, nguồn tiền do chênh lệch giữa huy động vốn và tín dụng được các tổ chức tín dụng sử dụng chủ yếu vào một số mục đích như: (1) Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, vừa hỗ trợ nguồn vốn cho ngân sách nhà nước, vừa giúp các tổ chức tín dụng nắm giữ các khoản dự trữ đệm để khi thiếu thanh khoản có thể vay Ngân hàng Nhà nước qua các kênh như nghiệp vụ thị trường mở, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, vay cầm cố giấy tờ có giá (2) Do không mở rộng được tín dụng nên nhu cầu vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước giảm, tổ chức tín dụng đã trả nợ Ngân hàng Nhà nước các khoản vay tái cấp vốn trước đây và mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước; (3) Gửi tại Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo thanh khoản và dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước khi huy động vốn tăng lên.
Trong thời gian tới, với các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước và việc triển khai tích cực, có hiệu quả các giải pháp của các bộ, ngành theo chủ trương của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP, hàng tồn kho được giải phóng, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp dần phục hồi, thì tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2012 sẽ tăng trưởng ở mức hợp lý.
2. Về xử lý nợ xấu:
2.1. Về thực trạng nợ xấu: Đến ngày 30/6/2012, nợ xấu theo các tổ chức tín dụng báo cáo là 119.139 tỷ đồng, chiếm 4,49% so với tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, số liệu nợ xấu do tổ chức tín dụng báo cáo chưa chính xác. Theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2012 chiếm khoảng 8,8% tổng dư nợ tín dụng.
Số nợ xấu này không phải mới phát sinh mà trên thực tế đã được tích lũy trong một thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô và bắt đầu lộ diện từ Quý IV/2011 trở lại đây khi môi trường kinh doanh xấu đi, tín dụng tăng chậm và Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các tổ chức tín dụng.
2.2. Một số giải pháp đã và đang được triển khai nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu gia tăng:
- Giải pháp về cơ chế, chính sách
+ Ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN, đến ngày 30/6/2012 có 36,5 ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ. Giải pháp này đã giúp giảm bớt áp lực trả nợ, lãi phạt và tăng khả năng tiếp cận vay vốn ngân hàng đối với khách hàng vay.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp: (i) xem xét cấp tín dụng hợp vốn theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước đối với các dự án lớn có hiệu quả; (ii) tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ, thực hiện mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/2/2006 của Ngân hàng Nhà nước, báo cáo Ngân hàng Nhà nước các khoản nợ muốn mua/bán nhưng chưa tìm được đối tác.
+ Điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng, góp phần giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tiếp tục vận hành và tăng trưởng, từ đó góp phần đảm bảo nguồn tài chính cho doanh nghiệp và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng (dự kiến ban hành trong quý IV/2012). Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng (các tỷ lệ an toàn, uỷ thác và nhận uỷ thác,...) nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện các giải pháp cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra các tổ chức tín dụng trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu, đồng thời yêu cầu ngân hàng vi phạm giới hạn tỷ trọng tín dụng phải thu hồi nợ đã góp phần tạo nguồn mở rộng tín dụng cho các đối tượng không khuyến khích.
- Các giải pháp về phía các tổ chức tín dụng
+ Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;
+ Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có triển vọng tốt sau cơ cấu lại nợ để khách hàng giảm bớt khó khăn tài chính tạm thời và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu mới trả nợ tổ chức tín dụng.
+ Tích cực xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ để thu hồi vốn, giảm nợ xấu. Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợ xấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phục hồi và phát triển tốt; Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay, đồng thời tham gia cơ cấu lại doanh nghiệp.
+ Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Tính đến cuối tháng 8/2012, số dự phòng rủi ro đã được các tổ chức tín dụng trích lập chưa sử dụng là 72.907 tỷ đồng, tăng hơn 14 ngàn tỷ đồng so với cuối năm 2011. Trong 8 tháng đầu năm 2012, số nợ xấu được các tổ chức tín dụng xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro là gần 8 ngàn tỷ đồng.
- Các giải pháp hỗ trợ:
Hiện nay, để hỗ trợ xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu một cách tập trung với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương phối hợp triển khai thêm các giải pháp hỗ trợ xử lý nợ xấu như:
+ Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước, đồng thời có giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
+ Đối với một số khoản vay thế chấp bằng bất động sản, công trình sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được, Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản đó để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
+ Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các tổ chức tín dụng hoàn thiện các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng và giúp tổ chức tín dụng thu hồi tài sản sớm nhất.
+ Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
+ Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng. Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt phương án xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
+ Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu và lành mạnh hoá tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn, song nhờ chủ động triển khai kịp thời các chính sách, biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại từ quý II/20121.
2.3. Về nguồn kinh phí giải quyết nợ xấu:
Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng để sớm trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập Công ty quản lý tài sản (VAMC) nhằm xử lý nợ xấu một cách tập trung và với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Một số nội dung có tính nguyên tắc về VAMC:
+ VAMC được thành lập trên cơ sở Luật Doanh nghiệp và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+ VAMC là một doanh nghiệp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ thành lập, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.
+ Mục tiêu của VAMC là xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính và giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và cá nhân vay vốn ngân hàng, tối đa hóa giá trị thu hồi nợ.
+ Nguồn vốn hoạt động của VAMC bao gồm: (i) Vốn điều lệ của VAMC khoảng 2.000 tỷ đồng được lấy từ vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước; (ii) Các quỹ được phép trích lập; (iii) Phát hành trái phiếu và các công cụ nợ đặc biệt để tạo nguồn xử lý nợ xấu. Đây là nguồn vốn chủ yếu để VAMC xử lý nợ xấu; (iv) Các nguồn vốn huy động khác không trái với quy định của pháp luật.
+ VAMC thực hiện mua, tiếp nhận các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm bằng tài sản, chủ yếu là bất động sản. tổ chức tín dụng bán nợ được thanh toán bằng trái phiếu VAMC hoặc bằng công cụ nợ đặc biệt tuỳ theo phương thức mua bán nợ được thoả thuận giữa VAMC và tổ chức tín dụng bán nợ. VAMC chủ yếu thanh toán các khoản nợ mua từ các tổ chức tín dụng bằng trái phiếu và công cụ nợ do VAMC phát hành, do đó lượng tiền thực đầu tư cho VAMC không lớn.
+ VAMC sẽ xử lý các khoản nợ xấu thông qua: (i) Cơ cấu lại khoản nợ; (ii) Cơ cấu lại doanh nghiệp vay; (iii) Thu nợ, bán tài sản bảo đảm; (iv) Sử dụng các khoản nợ, tài sản đã tiếp nhận, mua để góp vốn, mua cổ phần, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh; (v) Quản lý, bảo quản, sửa chữa, nâng cấp, đầu tư tài sản; (vi) Khai thác, cho thuê tài sản hình thành từ tiếp nhận, mua nợ và tài sản của các TCTD.
+ Giá trị nợ và tài sản chuyển giao, bán cho VAMC được dựa trên nguyên tắc tự nguyện giữa VAMC và tổ chức tín dụng bán nợ. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp hành chính cần thiết buộc tổ chức tín dụng phải bán nợ xấu cho VAMC để cơ cấu lại và lành mạnh hóa tài chính của tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn của tổ chức tín dụng.
+ Hoạt động mua bán nợ của VAMC được tiến hành công khai, minh bạch. Giá trị tài sản và khoản vay mua bán được định giá bởi tổ chức chuyên môn độc lập.
2.4. Thời gian cần thiết để giải quyết nợ xấu: Nợ xấu của hệ thống ngân hàng không phải là vấn đề riêng của hệ thống ngân hàng và không phải chỉ do ngân hàng gây ra. Nợ xấu là vấn đề kinh tế vĩ mô và phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau. Xử lý nợ xấu đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp kinh tế vĩ mô (thúc đẩy sản xuất kinh doanh; kích thích đầu tư, tiêu dùng; xử lý hàng tồn kho, phát triển thị trường bất động sản...) và các giải pháp tự xử lý của các tổ chức tín dụng. Thời gian nhanh, chậm và mức độ hiệu quả của việc xử lý nợ xấu phụ thuộc rất lớn vào các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nút thắt của nền kinh tế và nỗ lực của ngành ngân hàng, đặc biệt sự hỗ trợ của Chính phủ về cơ chế, chính sách, nguồn lực cho xử lý nợ. Tuy nhiên, với hàng loạt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, hỗ trợ thị trường bất động sản, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng và việc thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia,... chúng ta cố gắng đến cuối năm 2015, nợ xấu giảm về mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng theo đúng thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hòa. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.