Tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Mai Thị Ánh Tuyết - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang.
Câu hỏi:
Hiện nay, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm phổ biến ở mức 12-13%, với lãi suất huy động khoảng 7-8% đã góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay, tháo gỡ khó khăn doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế điều hành với trần lãi suất huy động 7,5%/năm và chỉ áp dụng 10%/năm đối với 5 lĩnh vực ưu tiên, còn lại nhiều lĩnh vực vay còn ở mức cao. Do đó, với cơ chế điều hành trần lãi suất huy động sẽ khó kéo mặt bằng lãi suất để đáp ứng yêu cầu vay vốn tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Vậy xin hỏi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước:
1. Vì sao cơ chế điều hành trần lãi suất lại không áp trần cho vay mà áp trần lãi suất huy động?
2. Giải pháp nào để mặt bằng lái suất kéo xuống thấp để phục hổi nên kinh tế thông qua kích thích sản xuất phát triển?
3. Giải pháp nào để giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay trong điều kiện tài sản thế chấp của doanh nghiệp đang khó khăn?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết như sau:
1. Về vấn đề không áp trần lãi suất cho vay mà áp trần lãi suất huy động:
Trong kinh tế thị trường, tổ chức tín dụng tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng là lãi suất thỏa thuận. Tuy nhiên, Điều 12 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 có quy định ”Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng”.
Cuối năm 2010, nhiều tổ chức tín dụng đua nhau tăng lãi suất huy động vốn để giải quyết khó khăn về thanh khoản, giành thị phần, gây xáo trộn thị trường và đẩy mặt bằng lãi suất cho vay lên cao. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã nghiên cứu và cân nhắc lựa chọn giữa việc chỉ quy định trần lãi suất huy động hoặc chỉ quy định trần lãi suất cho vay, hoặc vừa quy định trần lãi suất huy động vừa quy định trần lãi suất cho vay. Qua thực tiễn điều hành, Ngân hàng Nhà nước thấy nếu phải áp dụng trần lãi suất thì áp dụng trần lãi suất huy động là biện pháp ít hành chính nhất và có cơ sở khoa học, giúp Ngân hàng Nhà nước điều hành thị trường tốt hơn. Việc quy định trần lãi suất huy động kết hợp với điều chỉnh linh hoạt mức trần lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát, kinh tế vĩ mô và điều kiện thị trường tiền tệ đã có tác dụng kiểm soát lãi suất thị trường ở mức hợp lý, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay.
Ngân hàng Nhà nước không quy định trần lãi suất cho vay chung để tránh tình trạng cào bằng lãi suất cho vay đối với tất cả các đối tượng khách hàng. Đối với các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao), cần có một mức lãi suất thấp; trong khi đó, đối với các lĩnh vực không khuyến khích, là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, phải kiểm soát chặt chẽ theo chủ trương của Chính phủ, lãi suất cho vay cần cao hơn. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định lãi suất cho vay tối đa đối với lĩnh vực ưu tiên nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng kinh doanh này được tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với mức lãi suất thấp hơn, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên.
2. Về giải pháp kéo mặt bằng lãi suất xuống thấp để phục hồi nền kinh tế thông qua kích thích sản xuất phát triển:
Trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ, từ cuối năm 2011 đến nay, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô trong đó, điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước phù hợp với diễn biến lạm phát, các cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối và tỷ giá. Thực tế, từ tháng 3/2012 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 8 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động VND và trần lãi suất cho vay đối với 05 lĩnh vực ưu tiên, kêu gọi các tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh giảm lãi suất của các khoản cho vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp. Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm khoảng 8-13%/năm so với cuối năm 2011. Lãi suất của các khoản cho vay mới đã giảm mạnh, đối với các lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 8-10%/năm, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ở mức 9-12%/năm, trong đó, đối với khách hàng tốt chỉ từ 7-8%/năm; mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 và thấp hơn năm 2007. Lãi suất của các khoản vay cũ cũng đã giảm mạnh, tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm giảm mạnh từ mức khoảng 65% vào thời điểm trước ngày 15/7/2012 xuống còn 20,6% vào cuối năm 2012 và đến nửa cuối tháng 5/2013 chỉ còn khoảng 12,2%.
Trong thời gian tới, căn cứ vào diễn biến kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vay vốn và tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
3. Về giải pháp để giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay trong điều kiện tài sản thế chấp của doanh nghiệp đang khó khăn:
Bên cạnh việc điều hành giảm mạnh mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, như: (1) Chủ động rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn trong việc trả nợ vốn vay; (2) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; (3) Xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật và trên cơ sở khả năng tài chính, quy chế miễn, giảm lãi của tổ chức tín dụng; (4) Đổi mới quy trình, thủ tục cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và không trái với quy định của pháp luật, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay; (5) Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh… (6) Tích cực chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động).
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức nhiều đoàn công tác làm việc với Lãnh đạo Tỉnh, thành phố, đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan ở các tỉnh, thành phố nhằm đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khả năng tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản phẩm tồn kho của các lĩnh vực (như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng) để xử lý khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.
Về vấn đề tài sản đảm bảo, theo quy định tại Bộ luật Dân sự và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, tổ chức tín dụng được xem xét quyết định cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Theo đó, doanh nghiệp có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng thời hạn, thì có thể được tổ chức tín dụng xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tín chấp (cho vay không phải thế chấp tài sản).
Ngoài ra, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn, theo đó, cho phép chủ trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng đối với các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ nông nghiệp làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; đến 500 triệu đồng đối với đối tượng là các hợp tác xã, chủ trang trại; cho vay tín chấp trên cơ sở có đảm bảo của tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn theo quy định pháp luật hiện hành.
Thời gian qua, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước cũng đã yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động phối hợp với doanh nghiệp vay, nâng cao vai trò thẩm định và mạnh dạn cho vay nếu xét thấy dự án có hiệu quả; tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cùng chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện hỗ trợ cùng đồng hành phát triển.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Mai Thị Ánh Tuyết. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.