Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2013 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, sản xuất trong nước trầm lắng, cầu nội địa yếu, sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm, nợ xấu gia tăng, tình trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể hoặc phá sản từ cuối năm 2012 tiếp tục xảy ra trong những tháng đầu năm 2013, … Mặc dù vậy, trước sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt của Chính phủ (thông qua Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu), Kinh tế 6 tháng đầu năm cũng đạt được các kết quả đáng chú ý như sau:
Tăng trưởng kinh tế đạt kết quả khả quan
Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2013 ước tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012 (xấp xỉ mức tăng 4,93% năm 2012) với tốc độ tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước lần lượt ở mức 4,76% trong Quý I và 5% trong Quý II. Tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm tuy không cao như mong đợi nhưng vẫn là mức tăng khá hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước còn nhiều khó khăn và phải ưu tiên cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Một điểm tích cực là tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đã đạt được ở cả 3 nhóm ngành. Trong đó, GDP do nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thuỷ sản tạo ra tuy tăng không cao, thậm chí tốc độ tăng 6 tháng đầu năm còn thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ trong 2 năm trước, nhưng tiếp tục đạt đỉnh cao mới về giá trị sản xuất và về sản lượng một số sản phẩm chủ yếu. Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà phục hồi và có những chuyển biến đáng kể khi tăng trưởng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng chung của toàn bộ nền kinh tế. Nhóm ngành dịch vụ tiếp tục tăng với mức đóng góp lớn nhất và là nhóm ngành duy nhất trong 3 nhóm ngành có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2011, 2012 và 2013
|
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước(%) |
Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 6 tháng 2013 |
||
|
6 tháng 2011 |
6 tháng 2012 |
6 tháng 2013 |
|
Tổng số |
5,92 |
4,93 |
4,90 |
4,90 |
Nông, lâm thuỷ sản |
3,90 |
2,88 |
2,07 |
0,40 |
Công nghiệp xây dựng |
6,63 |
5,59 |
5,18 |
1,99 |
Dịch vụ |
6,23 |
5,29 |
5,92 |
2,51 |
Nguồn: Tổng cục thống kê
Lạm phát diễn biến thuận lợi
Kết thúc tháng 6/2013, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,4% so với tháng 12 năm ngoái và tăng 6,69% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng CPI 6 tháng đầu năm thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, và thậm chí thấp hơn nhiều mức trung bình 6 tháng từ năm 1995 tới nay (4,82%). Trong 6 tháng vừa qua, ngoại trừ 2 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng khá mạnh do yếu tố mùa vụ (mức tăng lần lượt là 1,25% và 1,32%), CPI trong 4 tháng tiếp theo gần như không tăng, thậm chí có 2 tháng CPI ở mức âm. Cụ thể, mức tăng CPI từ tháng 3 tới tháng 6 lần lượt là -0,19%; 0,02%; -0,06% và 0,05%.
Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm 2013, diễn biến giá cả một số mặt hàng trong rổ tính CPI có một số đặc điểm khá tương đồng so với diễn biến giá nửa đầu năm 2012, CPI vẫn tiếp tục bị chi phối bởi xu hướng giảm của các nhóm hàng thiết yếu. Xu hướng giảm hoặc tăng chậm lại của giá các mặt hàng thiết yếu chiếm quyền số lớn trong rổ hàng hóa như lương thực thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông đã tác động mạnh tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng CPI 6 tháng đầu năm 2013.
Ngoài ra, giá nhóm hàng “thuốc và dịch vụ y tế” tiếp tục tăng khá mạnh tại một số tỉnh thành trong cả nước chưa tiến hành điều chỉnh tăng vào năm 2012 đã trở thành nhóm hàng có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng CPI tổng thể.
Diễn biến giá một số nhóm hàng
|
Tỷ trọng đóng góp các nhóm hàng trong nửa đầu năm 2013
|
|
Nguồn: TCTK |
Hoạt động thương mại khởi sắc
Đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng GDP trong quý là nhờ hoạt động thương mại có nhiều khởi sắc, đặc biệt từ hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra, tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng ước đạt 62,1 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động nhập khẩu, nhất là nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ đầu tư và sản xuất kinh doanh cải thiện đáng kể trong Quý II, kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 63,5 tỷ USD, tăng 17,4%. Như vậy, nhập siêu 6 tháng đầu năm khoảng 1,4 tỷ USD, bằng 2,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, đây là mức tăng thấp và có thể kiểm soát được.
Xuất nhập khẩu giai đoạn T1/2012 đến T6/2013
Nguồn: Tổng cục thống kê
Vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng chuyển dịch theo hướng tích cực
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện Quý I/2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 448,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% so cùng kỳ năm trước và bằng 29,6% GDP. Như vây, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP 6 tháng đầu năm 2013 thấp hơn so với năm 2012 (31%), trong khi tăng trưởng GDP tương đương cùng kỳ năm trước, nên đây là tín hiệu khả quan cho biết hiệu quả đầu tư có thể đã được cải thiện.
Lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2013 (nghìn tỷ đồng)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Phân tích vốn đầu tư toàn xã hội theo cơ cấu cũng thấy có những chuyển dịch theo hướng tích cực. Nguồn vốn từ khu vực nhà nước tính theo giá thực tế tăng thấp (3,5%) nhưng tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng năm nay đã giảm xuống so với cùng kỳ năm trước (37% so với 37,9%). Trong khi đó, nguồn vốn ngoài nhà nước tính theo giá thực tế có tốc độ tăng cao nhất (9,9%) nên tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đã tăng lên (từ 36,1% lên 37,5%). Vốn đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn duy trì ở mức 25,5%, không thay đổi nhiều so với cùng kỳ những năm trước, tuy nhiên đạt kết quả tích cực trong cả vốn thu hút và thực hiện. Trong 6 tháng đầu năm, lượng vốn đầu tư đã tăng cả về tổng vốn đăng ký (đạt 10,5 tỷ USD, tăng 15,9%), cả về lượng vốn thực hiện (đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,6%).
Với những thay đổi trong tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư như vậy cộng với những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý vốn đầu tư đã góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư, thể hiện ở chỉ số ICOR đã có xu hướng giảm so với năm 2012. Hiện tại, tính đến thời điểm hết Quý II/2013 chỉ số ICOR hiện ở mức 6,04, thấp hơn so với mức xấp xỉ 6,66 năm 2012.
Đà phục hồi của khu vực sản xuất ngày càng trở nên rõ ràng
Kết thúc 6 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp đã bắt đầu có chuyển biến khi lượng hàng tồn kho đang giảm dần qua các tháng. Bên cạnh đó, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã tăng dần qua từng tháng và trong 6 tháng qua, chỉ số IIP ước tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số IIP Quý II/2013 tăng 6%, đạt mức khá cao so với mức tăng 4,5% trong Quý I. Điều đáng chú ý đóng góp từ nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng từ 4,6% ở Quý I lên 6,9% trong Quý II.
Chỉ số IPP giai đoạn 2012 đến T6//2013 Chỉ số tồn kho giai đoạn 2012 đến T6/2013
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cùng với đà phục hồi của khu vực sản xuất, kể từ khi bước vào Quý II, hoạt động của khu vực doanh nghiệp có nhiều khởi sắc, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đã cải thiện và bắt đầu tăng. 4 tháng đầu năm, đăng ký thành lập mới giảm 1,2%, nhưng 5 tháng đã tăng 4,8%, 6 tháng tăng 7,6%. Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động đã quay trở lại cũng có tín hiệu tích cực. Trong 4 tháng 8.300 doanh nghiệp, 5 tháng 8.800 doanh nghiệp và 6 tháng 9.300 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp giải thể đã giảm: 3 tháng giảm 14%, 4 tháng giảm 4,8%, 5 tháng giảm 0,9%.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu phục hồi tích cực như vậy, vẫn còn tồn tại một số khó khăn cần tiếp tục giải quyết, cụ thể như sau:
Tổng cầu của nền kinh tế vẫn còn yếu thể hiện ở sức mua tiêu dùng thấp.
Kể từ đầu năm 2013 đến nay, chỉ số này liên tục sụt giảm, thậm chí có những tháng còn rơi vào mức tăng trưởng âm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2013, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm ước tính tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,9%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 6,7% của cùng kỳ năm 2012. Đây là mức tăng chậm nhất kể từ năm 2005 trở lại đây và điều này chứng tỏ sức cầu nội địa đang rất yếu kém.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa giai đoạn T1/2012 đến T6/2013
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hoạt động xuất nhập khẩu còn tiềm ẩn một số vấn đề đáng lo ngại
Mặc dù nhập siêu tăng dần trong thời gian qua nhưng nhập khẩu hàng hóa chủ yếu vẫn tập trung cho hoạt động gia công, lắp ráp trong khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với mức đóng góp giá trị gia tăng không lớn cho nền kinh tế.
Khi xem xét cơ cấu xuất khẩu phân theo khối doanh nghiệp cũng có thể nhận thấy xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng cao hơn xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước. Tính chung, khối này đã xuất siêu 5,4 tỷ USD trong khi các doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu 6,8 tỷ USD. Như vậy, một lần nữa khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng và quyết định đối với việc cải thiện cũng như kết quả cán cân thương mại cả nước trong khi khối doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể hiện được những tín hiệu phục hồi tích cực.
Giá trị xuất nhập khẩu phân theo khối doanh nghiệp (Triệu USD)
|
2009 |
2010 |
2011 |
2012 |
6T 2013 |
Xuất khẩu |
56884 |
71629 |
96257 |
114631 |
62053 |
Trong nước |
26730 |
32801 |
41796 |
42333 |
20913 |
FDI |
29854 |
38828 |
54461 |
72298 |
41140 |
Nhập khẩu |
68830 |
84004 |
105774 |
114347 |
63456 |
Trong nước |
43957 |
47526 |
58011 |
54009 |
27730 |
FDI |
24873 |
36478 |
47763 |
60338 |
35726 |
Xuất (nhập) siêu |
-11946 |
-12375 |
-9517 |
284 |
481 |
Trong nước |
-17227 |
-14725 |
-16215 |
-11676 |
-6817 |
FDI |
4981 |
2350 |
6698 |
11960 |
5414 |
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thu ngân sách gặp nhiều vấn đề khó khăn
Theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm đạt hơn 356.500 tỷ đồng, bằng 43,7% dự toán; trong đó, thu nội địa bằng 43,3% dự toán, đây là mức thấp so với cùng kỳ một số năm gần đây. Có thể nói, thu ngân sách Nhà nước đạt thấp so yêu cầu dự toán và thực hiện cùng kỳ năm trước. Bộ Tài chính nhận định, với tiến độ thu này, kết hợp với việc thực hiện một số chính sách ưu đãi về thuế thì khả năng giảm thu ngân sách Nhà nước là rất lớn.
Về chi ngân sách Nhà nước, lũy kế thực hiện chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 448.910 tỷ đồng, bằng 45,9% dự toán, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm phát sinh nhiều nhu cầu tăng chi ngân sách Nhà nước, nhất là nhu cầu ứng chi đầu tư phát triển để kích cầu nền kinh tế, áp lực cân đối nguồn đảm bảo nhiệm vụ chi hoàn thuế giá trị gia tăng, xử lý các khoản thiếu chi cấp bù chênh lệch lãi suất các Ngân hàng chính sách, xử lý khắc phục thiên tai, dịch bệnh...
CPI mặc dù ở mức thấp song nhiệm vụ kiểm soát lạm phát vẫn không thể lơ là
Một điểm đáng chú ý đối với diễn biến thực tế của CPI trong hai quý vừa qua đó là mức tăng trưởng âm trong tháng 5 sau khi có tăng nhẹ trong tháng 4 và giảm trong tháng 3. Theo quan sát số liệu quá khứ cho thấy CPI tăng trưởng âm vào tháng 3 đã từng xảy ra vào một số năm (năm 2006, 2007, 2009, 2013) do tác động của yếu tố mùa vụ song việc CPI giảm trong tháng 5 là hiện tượng chưa từng xảy ra trong vòng 10 năm trở lại đây. Hiện tượng này cho thấy hiện tại tổng cầu đang rất yếu, sản xuất kinh doanh chưa có nhiều khởi sắc.
Diễn biến CPI cũng như bối cảnh kinh tế trong nửa đầu năm 2013 có một số điểm khá tương đồng với các năm 2009 và 2012 (CPI nửa đầu năm 2009 và 2012 lần lượt là 2,68% và 2,52%). Và bài học kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy lạm phát có thể thấp trong nửa đầu năm song nhanh chóng tăng trở lại trong 6 tháng cuối năm. Chính vì vậy, mặc dù lạm phát hiện đang ở mức thấp và so với năm ngoái thì khả năng cán đích của lạm phát năm nay là tương đối thuận lợi song xu hướng diễn biến chưa ổn định và những bài học trong quá khứ không cho phép chủ quan với nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, đặc biệt trong điều kiện kinh tế còn nhiều diễn biến khó lường.
Diễn biến CPI nửa đầu năm 2009, 2012, 2013
Nguồn: TCTK
Như vậy, với những tín hiệu khả quan đã đạt được trong 6 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế 2013 được kỳ vọng có thể đạt được mục tiêu, song để tín hiệu trên thành hiện thực, thì cần phải giải quyết và kiểm soát được những điểm chưa ổn định, những tồn tại của nền kinh tế, đồng thời cần tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả 2 Nghị quyết số 01/NQ-CP và số 02/NQ-CP của Chính phủ, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu chiếm lĩnh thị trường, tạo nguồn lực phát triển kinh tế.
Ths. Trần Ngọc Lan
Ths. Hoàng Trà Mi