Số liệu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho thấy, đến hết năm 2015, tập đoàn này có gần 102.000 tỷ đồng tiền gửi NH. Trong đó có khoảng 25.270 tỷ đồng tiền gửi không kỳ hạn và 76.300 tỷ đồng tiền gửi ngắn hạn từ 3 tháng – dưới 12 tháng.
Trú ẩn vào tiết kiệm
Hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn Nhà nước chạy lòng vòng kiếm lãi từ kênh tiết kiệm và con số này vẫn đang tiếp tục tăng lên
Thạch Bình
Sau khi Bộ KH&ĐT đưa ra danh sách các tập đoàn, tổng công ty thuộc các bộ, ngành chưa chấp hành việc công bố thông tin theo quy định tại Nghị định 81/2015, hàng loạt các DN lớn như Sabeco, Habeco, Vinataba… đã rục rịch tiến hành công bố thông tin, đặc biệt là các thông tin tài chính.
Tuy nhiên, ngay sau khi các DN này tiết lộ báo cáo kinh doanh, dư luận bắt đầu mổ xẻ tình hình tài chính của họ. Trong đó, những vấn đề liên quan đến tình trạng tiền mặt và các khoản gửi tiết kiệm hàng trăm ngàn tỷ đồng trở thành tâm điểm với nhiều dấu hỏi.
Cái lý của giải pháp gửi tiền
Ghi nhận thông tin từ một số DNNN cho thấy, hiện nay kênh đầu tư thu nhập cố định (fixed income - bao gồm hoạt động gửi tiết kiệm và ủy thác vốn đầu tư tại NH) là kênh được hầu hết các tập đoàn, tổng công ty áp dụng và duy trì thực hiện.
Số liệu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho thấy, đến hết năm 2015, tập đoàn này có gần 102.000 tỷ đồng tiền gửi NH. Trong đó có khoảng 25.270 tỷ đồng tiền gửi không kỳ hạn và 76.300 tỷ đồng tiền gửi ngắn hạn từ 3 tháng – dưới 12 tháng.
Không chịu kém cạnh, các tập đoàn lớn như Sabeco, Habeco, Vinatex, Vinataba… cũng được xem là những “ông vua tiền mặt” bởi số tiền mà họ gửi tiết kiệm tại các NHTM luôn ở mức hàng chục ngàn tỷ đồng. Chẳng hạn, tính đến cuối tháng 6/2016, Sabeco có hơn 9.360 tỷ đồng gửi các NHTM. Trong khi đó, tại Habeco con số này là 3.200 tỷ đồng; tại Vinatex là trên 2.400 tỷ đồng và Vinataba là gần 2.900 tỷ đồng…
Vấn đề đặt ra là tại sao các DNNN lại “ôm tiền” gửi NH lấy lãi với tỷ lệ lớn như trình bày ở trên thay vì đầu tư vào các kênh kinh doanh sinh lời khác? Một phần câu trả lời sẽ được giải đáp bởi mô hình hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Với chức năng và nhiệm vụ được giao là kinh doanh vốn và kiếm tiền cho Nhà nước, nhiều năm nay SCIC không bị trói buộc vào các trách nhiệm xã hội. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ của SCIC (tại Điều 3, Quyết định 151/2005 của Thủ tướng Chính phủ) cũng chỉ yêu cầu DN này phải đầu tư vốn vào các lĩnh vực theo chỉ đạo hoặc đầu tư góp vốn vào các DN khác, đầu tư trên thị trường vốn, chứng khoán… chứ không bắt SCIC phải gánh trách nhiệm tái cơ cấu nền kinh tế, chia sẻ khó khăn với các DN. Đặc biệt là không cấm SCIC được gửi NH lấy lãi.
Thực tế, với phần vốn chi phối của mình tại các DNNN, nhiều năm qua SCIC đã không có động lực phải tính toán kênh đầu tư nào hiệu quả nhất. Thời điểm năm 2012, khi số tiền SCIC đem gửi tiết kiệm lên đến mức 19.600 tỷ đồng nhiều ý kiến đã cho rằng đơn vị này chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Nhiều chuyên gia đòi hỏi SCIC phải chia sẻ vốn ra thị trường để góp phần hỗ trợ phục hồi nền kinh tế. Tuy nhiên, SCIC đã không làm thế. Đến hết năm 2015 số tiền mà DN này đem gửi NH vẫn đạt con số gần 25.000 tỷ đồng, riêng tiền lãi cũng đạt trên mức 1.000 tỷ đồng.
Cái lý của việc SCIC nói riêng và các DNNN nói chung khi dành tỷ lệ vốn rất lớn để gửi NH nằm ở chỗ trách nhiệm. Bất cứ một DN nào đem tiền Nhà nước đi kinh doanh đều phải chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn. Trong hoàn cảnh đấy, kênh gửi tiết kiệm là kênh đầu tư đơn giản, ít rủi ro và dễ kiểm soát nhất. Do đó, gửi NH tất nhiên được SCIC và các tập đoàn, tổng công ty lựa chọn thay vì phải đau đầu tính toán với các phương án đầu tư khác vốn ẩn nhiều rủi ro và dễ dàng rơi vào trường hợp mất vốn Nhà nước.
Ảnh hưởng xấu đến tái cấu trúc DNNN
Phân tích một cách công bằng trên phương diện kinh doanh có thể nói SCIC và các DNNN đang có quá nhiều lợi thế cạnh tranh.
Với đặc điểm riêng có của mình - là một đơn vị được lãnh đạo bởi nhiều cán bộ cấp cao của Chính phủ (trong đó có cả Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ Tài chính và Bộ KH&ĐT) - không thể phủ nhận rằng SCIC là đơn vị nắm và hiểu rõ nhất về nền kinh tế cũng như các xu thế, chính sách đang và sẽ được ban hành.
Trong bối cảnh đấy, SCIC dễ dàng xác định được nên đầu tư vốn vào đâu, khi nào thì thoái vốn, khi nào thì gửi tiền vào NH, khi nào thì đầu tư chứng khoán… Chính vì vậy việc SCIC và các DNNN đầu tư tỷ lệ lớn vốn vào kênh gửi tiết kiệm cho thấy rằng bản thân các DN này đánh giá đây là kênh trú ẩn an toàn và phát đi thông điệp thiếu tin tưởng vào thị trường chứng khoán.
Đến đây, nền kinh tế bắt đầu phải đối mặt với nhiều hệ lụy. Khi hầu hết các DNNN chọn giải pháp an toàn để kinh doanh vốn, thì mục tiêu mở rộng các kênh đầu tư kinh doanh nhằm tạo tiền đề hấp dẫn khối tư nhân tham gia cổ phần hóa bị chững lại. Sự linh hoạt của các DN trong việc chọn lựa các mảng đầu tư mạo hiểm mới cũng sẽ bị chậm trễ hoặc bị triệt tiêu.
Còn nhớ thời điểm 2011, vì để phát triển mảng kinh doanh lúa gạo theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, CTCP Bảo vệ Thực vật An Giang đã phải kiến nghị SCIC trả phần vốn góp (26,1%) về cho UBND tỉnh An Giang để địa phương và DN chủ động tính toán. Kết quả là sau 4 năm SCIC trả vốn, mảng kinh doanh lúa gạo của DN này từ chỗ chỉ chiếm 2% doanh thu đã bứt lên mức 36% - tương đương 3.000 tỷ đồng vào cuối 2015, góp phần đưa doanh thu của tập đoàn này lên mức trên 8.000 tỷ đồng, cao hơn 3.000 tỷ đồng so với thời điểm SCIC còn là cổ đông chiến lược.
Như vậy có thể thấy, dù việc chọn kênh đầu tư fixed income là câu chuyện tính toán riêng của SCIC và các DNNN nhưng chính hoạt động dồn vốn quá lớn vào việc gửi tiết kiệm đã khiến cho tiến trình tái cấu trúc DNNN theo chủ trương của Chính phủ bị chững lại. Việc xoay đảo lòng vòng nguồn vốn hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn từ DNNN đến NH không mang lại sự tăng trưởng trên thực tế. Điều này gián tiếp khiến cho thị trường vốn thiếu động lực để phát triển, đồng thời khối DNNVV, khối DN tư nhân khởi nghiệp cũng sẽ gặp khó khăn hơn do thiếu vốn và thiếu các cơ hội đầu tư.