Ngày 28/9/2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số 27/2016/TT-NHNN hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông tư 27/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2016 và thay thế Thông tư số 30/2013/TT-NHNN ngày 09/12/2013.
QUY TRÌNH MỚI VỀ XÂY DỰNG, BAN HÀNH THÔNG TƯ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Ngày 28/9/2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số 27/2016/TT-NHNN hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông tư 27/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2016 và thay thế Thông tư số 30/2013/TT-NHNN ngày 09/12/2013.
Thông tư 27/2016/TT-NHNN hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối do Ngân hàng Nhà nước ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, bao gồm: Luật, Pháp lệnh, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư. Bài viết này xin giới thiệu tóm tắt quy trình mới về xây dựng, ban hành thông tư của Ngân hàng Nhà nước.
Quy trình xây dựng, ban hành thông tư của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được tiến hành theo 08 bước sau đây:
1. Đăng ký chương trình xây dựng thông tư của NHNN (Điều 12, 13, 14)
Các đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình lập đề nghị xây dựng thông tư trình Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách cho ý kiến và gửi Vụ Pháp chế tổng hợp. Nội dung đề nghị xây dựng thông tư cần nêu rõ: tên thông tư, sự cần thiết ban hành, căn cứ ban hành, đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh, nội dung cơ bản, đơn vị chủ trì soạn thảo, thời gian dự kiến ban hành và kế hoạch soạn thảo đối với từng văn bản.
Kế hoạch soạn thảo văn bản phải dự kiến cụ thể theo tháng các thời điểm sau: xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách mới (nếu có); hoàn thành việc xây dựng dự thảo thông tư; hoàn thành việc lấy ý kiến đối với dự thảo thông tư; gửi Vụ Pháp chế thẩm định dự thảo thông tư; trình Thống đốc ký ban hành thông tư.
Vụ Pháp chế xem xét, tổng hợp đề nghị xây dựng thông tư của các đơn vị, trình Thống đốc ký ban hành (hoặc điều chỉnh) chương trình xây dựng thông tư của NHNN trước ngày 15/12 hằng năm.
Riêng đối với các thông tư thuộc danh mục văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, sau khi danh mục văn bản quy định chi tiết được phê duyệt, đơn vị được giao chủ trì soạn thảo Thông tư có trách nhiệm phối hợp với Vụ Pháp chế để đăng ký vào chương trình xây dựng thông tư của NHNN (Điều 15, 16).
2. Xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách (khoản 1 Điều 19)
Đối với các thông tư quy định chi tiết luật, pháp lệnh không bắt buộc phải xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách khi xây dựng thông tư. Nhưng đối với việc xây dựng các thông tư để quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của NHNN, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách mới (nếu có) theo quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 34/2016/NĐ-CP.
3. Xây dựng dự thảo Thông tư (Điều 20)
Đơn vị chủ trì soạn thảo thông tư tổ chức thực hiện các hoạt động sau đây:
(i) Xây dựng đề cương;
(ii) Soạn thảo dự thảo thông tư;
(iii) Dự thảo tờ trình, trong đó nêu rõ: sự cần thiết ban hành văn bản; mục đích, quan điểm chỉ đạo việc xây dựng dự thảo văn bản; quá trình xây dựng dự thảo văn bản; bố cục và nội dung cơ bản của dự thảo văn bản; những vấn đề xin ý kiến (nếu có);
(iv) Bản thuyết minh các nội dung của dự thảo thông tư hoặc bản so sánh và thuyết minh những điểm khác nhau giữa dự thảo thông tư với văn bản được sửa đổi, bổ sung, thay thế (trường hợp soạn thảo thông tư sửa đổi, bổ sung, thay thế).
(v) Đối với những dự thảo thông tư có quy định về thủ tục hành chính, đơn vị chủ trì soạn thảo phải thực hiện đánh giá tác động của thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 48/2013/NĐ-CP).
4. Lấy ý kiến dự thảo thông tư (Điều 21)
Đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách duyệt nội dung dự thảo và đề xuất lấy ý kiến của các đơn vị, tổ chức, cá nhân. Việc lấy ý kiến thực hiện như sau:
(i) Lấy ý kiến các đơn vị có liên quan thuộc NHNN;
(ii) Lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trường hợp dự thảo thông tư liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp), cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan, đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của NHNN để lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân.
Trường hợp cấp bách về tiến độ, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách xem xét, quyết định việc tổ chức lấy ý kiến theo một trong hai hình thức:
(i) Lấy ý kiến đồng thời các đơn vị có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, cơ quan, tổ chức khác có liên quan; hoặc
(ii) Tổ chức cuộc họp để lấy ý kiến tham gia trực tiếp.
5. Xin ý kiến Ban lãnh đạo NHNN (Điều 22)
Trong trường hợp dự thảo thông tư có nội dung phức tạp, còn có nhiều ý kiến khác nhau, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách để xin ý kiến Ban lãnh đạo NHNN.
6. Tổng hợp, tiếp thu ý kiến tham gia (Điều 23)
Trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày hết hạn tham gia ý kiến, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến, chỉnh lý dự thảo thông tư. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, đơn vị chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể.
Việc tiếp thu ý kiến góp ý đối với quy định về thủ tục hành chính trong dự thảo thông tư phải được thể hiện thành một phần riêng trong văn bản tiếp thu, giải trình ý kiến.
Đối với những vấn đề phức tạp còn có ý kiến khác nhau, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách để xin ý kiến chỉ đạo.
7. Thẩm định dự thảo thông tư (Điều 24)
Sau khi chỉnh lý dự thảo thông tư theo ý kiến tham gia của đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan, ý kiến chỉ đạo của Ban lãnh đạo NHNN (nếu có), đơn vị chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo thông tư đến Vụ Pháp chế để thẩm định. Hồ sơ thẩm định gồm:
(i) Công văn đề nghị thẩm định;
(ii) Dự thảo tờ trình Thống đốc;
(iii) Dự thảo thông tư sau khi tiếp thu ý kiến của đơn vị, tổ chức, cá nhân;
(iv) Bản tổng hợp ý kiến, giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến của đơn vị, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;
(v) Bản thuyết minh các nội dung của dự thảo thông tư hoặc bản so sánh và thuyết minh những điểm khác nhau giữa dự thảo thông tư với văn bản được sửa đổi, bổ sung, thay thế (trường hợp soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế);
(vi) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách mới (nếu có); bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);
(vii) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có).
Các nội dung cụ thể về trình tự, thủ tục thẩm định thông tư thực hiện theo quy định tại Điều 24 Thông tư 27.
8. Trình ký ban hành thông tư (Điều 23):
Sau khi hoàn tất thủ tục thẩm định, Đơn vị chủ trì soạn thảo trình Thống đốc ký ban hành thông tư, hồ sơ gồm:
(i) Tờ trình Thống đốc về việc ban hành thông tư;
(ii) Dự thảo thông tư đã được Vụ Pháp chế đóng dấu thẩm định;
(iii) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của các đơn vị, tổ chức, cá nhân về nội dung dự thảo thông tư;
(iv) Văn bản thẩm định; văn bản giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;
(v) Văn bản bảo lưu ý kiến của Vụ Pháp chế (nếu có);
(vi) Báo cáo đánh giá tác động, bản đánh giá thủ tục hành chính, báo cáo lồng ghép vấn đề bình đằng giới (nếu có);
(vii) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có).
Ngoài ra, một số nội dung khác liên quan đến quy trình xây dựng, ban hành Thông tư của NHNN được quy định cụ thể tại Thông tư 27/2016/TT-NHNN.
Nguyễn Tthị Lương Trà-PC