Rào cản bủa vây kiểm tra chuyên ngành
Lĩnh vực gây ra nhiều rào cản nhất ở môi trường đầu tư
Khanh Đoàn
Mỗi năm DN cả nước phải chi trả tối thiểu khoảng 1.600 tỷ đồng và 2,5 triệu ngày công để thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá, trong khi tỷ lệ các lô hàng không đạt chuẩn chất lượng chưa bao giờ tới 1%. Số liệu thống kê sơ lược của ông Phạm Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát và quản lý về hải quan, Tổng cục Hải quan, đã cho thấy sự tốn kém không đáng có của thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất nhập khẩu.
Rà soát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), thủ tục kiểm tra chuyên ngành đang bị “bủa vây” bởi hàng trăm văn bản từ cấp luật cho tới nghị định, thông tư, khiến đây được đánh giá là lĩnh vực gây ra nhiều rào cản nhất trên môi trường đầu tư. Phát biểu tại hội thảo “Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết EVFTA về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất nhập khẩu”, ông Phạm Thanh Bình bổ sung, nếu chỉ nhìn trên bề nổi, có thể nói mức độ đơn giản của thủ tục quản lý chuyên ngành hiện hành đã khá tương thích với cam kết tại EVFTA. Tuy nhiên nếu căn cứ vào mục tiêu của cam kết này là tạo thuận lợi cho thương mại và những gì diễn ra trong thực tế, thì có thể nói thủ tục quản lý chuyên ngành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay chưa tương thích với cam kết hiệp định.
Ông Bình dẫn chứng, quy trình thủ tục nhìn chung chưa đơn giản. Đơn cử như thủ tục chứng nhận hàng hoá hợp quy không theo mặt hàng mà theo chủ hàng, dẫn tới rất nhiều người làm thủ tục hợp quy cho một mặt hàng. Như vậy dù đã được chứng nhận, song mỗi lô hàng nhập khẩu sau đó lại phải tiếp tục làm thủ tục giám định, kiểm tra gồm 2 giai đoạn, 7 bước, do 2 cơ quan, tổ chức tiến hành. Trong đó riêng cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng phải tới 3 lần, ở 3 thời điểm khác nhau.
Về thời gian kiểm tra, trừ thời gian kiểm dịch thực vật tương đối ngắn (1-2 ngày), còn lại thời gian kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, hiệu suất năng lượng… đều rất dài, chưa kể thời gian công bố hợp quy, tất cả phải mất khoảng 7-30 ngày, trong thực tế còn dài hơn.
Giải thích cụ thể hơn, ông Bình lấy ví dụ, sản phẩm nồi cơm điện nhập khẩu bị điều chỉnh bởi 3 luật. Đó là Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá kiểm tra chất lượng điện; Luật Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng kiểm tra về dán nhãn năng lượng; và Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm kiểm tra về an toàn thực phẩm. 3 nội dung nằm ở 3 luật khác nhau, thuộc 3 bộ khác nhau điều chỉnh và quản lý, chưa kể các bộ quản lý chuyên ngành lại chỉ định 3 tổ chức khác nhau đánh giá tiêu chuẩn của sản phẩm, gây ra rất nhiều thủ tục phức tạp, tốn kém, kéo dài cho DN.
Bên cạnh đó, dù pháp luật đã cam kết không phân biệt đối xử trong quản lý chuyên ngành, song thực tế áp dụng lại không đúng như vậy khi các bộ liên tục vẽ thêm thủ tục. Điển hình là Điều 34 Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá, Điều 38 Luật An toàn thực phẩm, Thông tư 27/2012 của Bộ Y tế, Thông tư 28/2012 của Bộ Khoa học Công nghệ…
Những quy định này được đánh giá là “mình làm khó ta”. Tuy nhiên, những dẫn chứng cụ thể được nhóm rà soát đưa ra chỉ là vài nét chấm phá nhỏ trong bức tranh vô cùng lộn xộn và phức tạp của thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Bởi theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, thủ tục này có liên quan đến xấp xỉ 380 văn bản các loại, thuộc nhiều cấp, nhiều bộ, ngành khác nhau. Bà Trang cũng nhấn mạnh, đây là lĩnh vực điển hình cho thấy sự bất hợp lý trong xây dựng văn bản pháp luật khi thông tư, nghị định nằm dưới luật nhưng lại ngang nhiên “tiếm quyền” của luật.