Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Phá sản ngân hàng: Cẩn trọng và trách nhiệm

14/12/2016 23:56:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Kể từ sau khủng hoảng tài chính thế giới, “too big to fail” hay cơ chế ngăn ngừa phá sản ngân hàng (đặc biệt là các ngân hàng lớn), trở thành tâm điểm của không ít chỉ trích. Một vài ý kiến cho rằng, nếu tạo điều kiện cho ngân hàng yếu kém chấm dứt hoạt động, sẽ nhanh chóng làm “trong sạch” phần còn lại của hệ thống tài chính, ngân hàng. Mặt khác, một số nhà kinh tế kiên trì bảo vệ những giá trị truyền thống của “too big to fail”. Với lý lẽ cho rằng, các ngân hàng lớn có vai trò đặc biệt trong việc dẫn dắt hệ thống tài chính - kinh tế. Họ là những tổ chức “đứng mũi chịu sào” khi luôn nhận về mình những rủi ro đa dạng và khó kiểm soát nhất. Thay vì sa vào cuộc tranh luận khó tìm đến kết luận chung giữa hai luồng quan điểm, bài viết giải thích cơ chế cốt lõi của hoạt động ngân hàng nhằm đề cập một góc nhìn cơ bản nhưng đa chiều về loại hình kinh doanh rất đặc thù, kinh doanh ngân hàng. Qua đó, có thể phần nào hình dung và chia sẻ với những khó khăn của các nhà hoạt động chính sách khi đứng trước bài toán không dễ có lời giải: Cho phép phá sản hay không để xảy ra phá sản ngân hàng?

Sự thịnh vượng của hệ thống ngân hàng, sự phát triển của một nền kinh tế và tính ổn định chính trị, xã hội luôn song hành với nhau.

Why banks? Tại sao một xã hội văn minh lại cần đến sự hiện diện của ngân hàng? Một câu hỏi tưởng chừng ngô nghê nhưng lại là một trong những chủ đề được nhiều nhà kinh tế tập trung nghiên cứu trong một thế kỷ trở lại đây. Các nhà kinh tế theo trường phái phủ nhận vai trò của ngân hàng[1] lập luận rằng, thị trường cạnh tranh tự do là đủ mạnh để kết nối bất cứ bên đi vay và bên cho vay nào ngay khi họ có nhu cầu, và lúc này, ngân hàng - với vai trò là một kênh tài chính trung gian, không còn thật sự cần thiết. Ngược lại, các nhà kinh tế theo trường phái khẳng định vai trò của ngân hàng[2] bảo vệ quan điểm rằng, chỉ có các tổ chức tài chính chuyên nghiệp, bằng lợi thế quy mô của mình, mới có thể tích lũy đủ nguồn nhân lực và vật lực để phát triển mạng lưới giao dịch, hệ thống thanh toán, quản trị rủi ro, cũng như chuẩn bị tốt hơn trong việc giải quyết các tranh chấp pháp lý khi cần thiết.

Dù phủ nhận hay đề cao vai trò của hệ thống ngân hàng, một thực tế mà cả hai trường phái đều công nhận chính là sự thịnh vượng của hệ thống ngân hàng, sự phát triển ổn định của nền kinh tế, và tính bền vững chính trị - xã hội ở mỗi đất nước luôn song hành và có tác động qua lại lẫn nhau[3].

Raghuram Rajan, người vừa kết thúc một nhiệm kì vô cùng thành công trên cương vị Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ, một trong những nhà kinh tế nổi bật nhất thế giới trong 20 năm gần đây, đi xa hơn khi nhận định rằng, tại các quốc gia chưa phát triển, vai trò của mạng lưới ngân hàng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Điều này là do nguồn lực tài chính tại các quốc gia này vốn đã không nhiều, lại thường xuyên lâm vào tình trạng ứ đọng, trong khi đó, nhu cầu đầu tư, nhất là đầu tư vào cơ sở hạ tầng luôn ở mức cao[4]. Một bộ máy tài chính hoạt động hiệu quả, không những có thể kích hoạt các nguồn vốn còn bị lãng phí trong két sắt của các hộ gia đình, mà còn giúp tái phân phối nguồn lực quý giá đó tới những nơi có nhu cầu và năng lực tận dụng chúng một cách hiệu quả nhất, vượt qua các cách biệt về không gian và thời gian. Hơn nữa, sự phát triển của hệ thống ngân hàng là điều kiện cần để một quốc gia đang phát triển thu hút và tận dụng nguồn lực từ nước ngoài, để từ đó, cùng với đầu tư công, làm “bàn đạp” cho tăng trưởng kinh tế bền vững.

Rủi ro nội tại của ngân hàng - điều khó tránh khỏi

Bên cạnh những đóng góp kể trên, trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tất yếu cũng đi kèm với không ít rủi ro. Các rủi ro này có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại, mà nổi bật là rủi ro thanh khoản, lẫn các yếu tố ngoại lai, như khủng hoảng niềm tin.

Có thể thấy, rủi ro thanh khoản bắt nguồn từ chính bản chất của hoạt động ngân hàng, đó là huy động để cho vay. Nếu như các ngân hàng cất trữ toàn bộ nguồn vốn huy động trong két sắt, để đảm bảo khả năng thanh toán cho người gửi tiền, lúc này, ngân hàng sẽ không còn là trung gian tài chính mà chỉ đơn thuần là một tổ chức nhận bảo quản tiền gửi. Do đó, thay vì cất trữ toàn bộ, các ngân hàng chỉ dự trữ một tỷ lệ nguồn vốn nhất định, phần còn lại dùng để cho vay và đầu tư. Khi dòng tiền thu từ cho vay và đầu tư không khớp kỳ hạn với dòng tiền thanh toán vốn huy động, ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản. Mức chênh lệch kỳ hạn càng lớn, khả năng thanh toán khi người gửi tiền đến rút tiền gửi càng thấp, rủi ro của ngân hàng càng cao. Chính vì vậy, để duy trì hoạt động liên tục, ngân hàng luôn phải xây dựng các công cụ nhằm quản trị và giảm thiểu rủi ro thanh khoản.

Vấn đề nằm ở chỗ, đôi khi một ngân hàng đang có thanh khoản tốt vẫn có thể sụp đổ chỉ bởi một vài tin đồn thất thiệt. Điều này xảy ra khi người dân nhất loạt yêu cầu ngân hàng thanh toán tiền gửi trước hạn, khiến trạng thái cân bằng thanh khoản mà ngân hàng mất nhiều công sức để thiết lập bỗng chốc bị gián đoạn. Dù cho có trang bị nhiều công cụ quản trị rủi ro thanh khoản đến đâu, việc dự báo trước thời điểm phát sinh tin đồn cũng rất khó khăn. Do vậy, ngay cả khi có được trạng thái thanh khoản tốt, các ngân hàng cũng không thể chủ quan. Tại mọi thời điểm, tin đồn thất thiệt hoàn toàn có thể châm ngòi cho những yêu cầu thanh toán tăng đột biến từ phía người gửi tiền, đe doạ vượt qua tất cả các ngưỡng chịu đựng đã được dự báo và phá vỡ hoàn toàn trạng thái thanh khoản của cả các ngân hàng vốn đang được cho là an toàn [5].

Phá sản ngân hàng và những hệ luỵ khó lường trước

Như tất cả các loại hình kinh doanh khác, hoạt động ngân hàng luôn đi kèm với những rủi ro nhất định. Đứng trước những rủi ro này, tất yếu sẽ tồn tại một số ngân hàng hoạt động kém hiệu quả hơn các ngân hàng khác. Tuy nhiên xét tới những đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc cân nhắc “phá sản” đối với các ngân hàng yếu kém đòi hỏi phải cẩn trọng và có trách nhiệm ở mức độ “sâu sắc”. Lý thuyết kinh tế cho rằng, chính sự cạnh tranh, thể hiện bởi quá trình đào thải những tổ chức hoạt động kém hiệu quả, sẽ đem tới nhiều lợi ích hơn cho khách hàng. Mặc dầu vậy, thị trường ngân hàng là thị trường kinh doanh hàng hóa đặc biệt - tiền tệ -, không phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Sự biến mất của một ngân hàng không đem lại lợi ích rõ ràng cho bất cứ một bên nào như kỳ vọng. Trong khi đó, hậu quả của phá sản ngân hàng vô cùng rõ nét. Một cuộc khủng hoảng tại một, vài ngân hàng nhỏ lẻ có thể bùng phát thành khủng hoảng hệ thống. Đặc biệt, nếu chúng không được xử lí một cách thận trọng và phù hợp có thể đe doạ trực tiếp tới sự ổn định kinh tế, xã hội của quốc gia.

Thật vậy, với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng có mối liên hệ với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, từ hộ gia đình, khối doanh nghiệp, khối Nhà nước tới khối xuất nhập khẩu; thông qua tất cả các kênh như: tiêu dùng, ngân sách, đầu tư, thương mại v.v. Trên khía cạnh xã hội, ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp vốn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, năng lượng, giáo dục, y tế v.v. Do tính kết nối thành một mạng lưới của các tổ chức tài chính, sự phá sản của một ngân hàng có thể nhanh chóng kích hoạt tình trạng khó khăn cùng lúc tại nhiều ngân hàng và các bên liên quan khác, nguy cơ dẫn tới đổ vỡ dây chuyền là kết cục không mong đợi đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia [6].

Nhiều nghiên cứu được thực hiện ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, thống nhất rằng, thiệt hại do phá sản ngân hàng gây ra không những trải rộng trên nhiều lĩnh vực, mà còn có xu hướng kéo dài, khó kiểm soát, khó đảo ngược, và mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng.

Milton Friedman, chủ nhân của giải Nobel Kinh tế năm 1976, cố vấn cấp cao của chính quyền Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng như Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, lá cờ đầu của chủ nghĩa thương mại tự do, đã chỉ ra rằng phá sản ngân hàng dẫn đến những hậu quả trực tiếp tới thị trường tiền tệ [7]. Ông cho rằng phá sản ngân hàng làm suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính, khiến họ có xu hướng giữ tiền mặt để phòng ngừa rủi ro1. Vô hình dung, làm hệ số nhân của lượng tiền lưu thông thực tế sụt giảm nghiêm trọng, kéo thị trường tiền tệ ra khỏi trạng thái cân bằng ban đầu. Và như một hậu quả tất yếu, khi cung tiền giảm, nền kinh tế bắt buộc phải điều chỉnh tương ứng bằng cách thắt chặt tiêu dùng, hạn chế đầu tư, trong khi thâm hụt ngân sách lẫn thâm hụt thương mại gia tăng.

Năm 1983, Ben Bernanke, một nhà kinh tế lỗi lạc, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), đã bày tỏ sự tán thành với nhận định của Milton Friedman về phá sản ngân hàng đồng thời bổ sung các hệ lụy của phá sản ngân hàng xét trên khía cạnh phi tiền tệ [8]. Phá sản ngân hàng làm gián đoạn kênh phân phối dòng chảy tài chính từ nơi có thặng dư tới nơi có thâm hụt. Do vậy, nhiều dự án đáng ra có thể phát huy tác dụng phá băng, tạo đà cho nền kinh tế phát triển trở lại, nay phải tạm dừng, hoặc hoàn toàn không được thực hiện chỉ do thiếu vốn. Chính vì vậy mà phá sản ngân hàng2 bị cáo buộc là một trong những nguyên nhân gây phát sinh, kéo dài và làm trầm trọng hoá cuộc Đại khủng hoảng 1929 - 1933, một giai đoạn tăm tối của lịch sử khi khủng hoảng tài chính bùng phát thành khủng hoảng kinh tế - xã hội - chính trị toàn diện tại Hoa Kỳ và sau đó lây lan ra quy mô thế giới.

Bên cạnh đó, những nước để xảy ra những ầm ỹ không đáng có từ phá sản ngân hàng sẽ khó thu hút những dòng chảy tài chính quốc tế, bao gồm cả dòng vốn đầu tư mang tính tự phát từ cá nhân doanh nghiệp, cho tới những dòng chảy chính sách từ các tổ chức quốc tế, như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).

Hơn nữa, khi để xảy ra phá sản ngân hàng, điểm xếp hạng tín nhiệm của cả một quốc gia cũng có thể bị xem xét điều chỉnh giảm. Khi đó, chi phí lãi vay của tất cả các khoản vay trong nước và nước ngoài sẽ bị điều chỉnh tăng lên một cách tự động, dưới danh nghĩa chi phí tăng để bù rủi ro. Điều đặc biệt nghiêm trọng là, một khi một đất nước bị đặt dưới tầm ngắm rủi ro tăng của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế, các đánh giá và nhận định sẽ trở nên cẩn trọng hơn và tất yếu dẫn đến xu hướng điểm xếp hạng tín nhiệm sẽ tiếp tục bị hạ [9].

Do đặc tính lây lan của phá sản ngân hàng cũng như hậu quả của hiện tượng này, bao gồm cả các khoản tài chính lẫn phi tài chính, trong ngắn hạn lẫn dài hạn, nên rất khó có thể đưa ra được một ước tính chính xác về chi phí phá sản. Tuy nhiên con số được giới chuyên môn nhắc đến nhiều nhất có lẽ nằm ở mức trung bình từ 15% đến 20% GDP [10]. Một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 tại Ai-xơ len, Hi Lạp, và Ai-len, nơi đổ vỡ dây chuyền của hệ thống tài chính thực sự biến thành gánh nặng không thể kiểm soát nổi đối với ngân sách quốc gia [11], kéo theo những chi phí khủng khiếp, chiếm non nửa cho đến toàn bộ tổng sản phẩm quốc nội tại những nước này.

Xử lí khó khăn ngân hàng - phá sản thực sự chỉ là phương án cuối cùng

Ý thức được những hậu quả có thể nhìn thấy trước nhưng không thể cân đong đo đếm nổi của phá sản ngân hàng, các quốc gia trên thế giới đều ra sức sức nỗ lực phòng ngừa và tìm kiếm những giải pháp linh hoạt hơn để xử lí các ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn.

Tại Hoa Kỳ, trong một nỗ lực tháo gỡ hậu quả của cuộc Đại khủng hoảng 1929 - 1933, đồng thời ngăn ngừa những điều tương tự tiếp tục xảy ra, Tổng thống Franklin Delanor Roosevelt đã kiên quyết đẩy lùi và dập tắt hiệu ứng domino của phá sản ngân hàng bằng nhiều biện pháp, trong đó nổi bật nhất là việc thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) vào năm 1934. Nhằm đảm bảo hoàn thành trách nhiệm to lớn nêu trên đối với nhân dân Hoà Kỳ, những người đã mất trắng không dưới 140 tỉ USD tiền gửi ngân hàng chỉ trong quãng thời gian 4 năm, FDIC được Quốc hội và Tổng thống nước này giao cho nhiều nhiệm vụ mang tính đồng bộ. Bao gồm từ việc nghiên cứu và thiết lập các cơ chế thanh tra - giám sát - quản lí rủi ro ngân hàng tận gốc, cho tới khâu tổ chức xử lí hoạt động rút lui trong trật tự của các ngân hàng yếu kém. Cơ chế này tỏ ra hiệu quả khi từ đó đến nay, trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, FDIC chưa để bất cứ một người gửi tiền nào phải chịu thiệt hại dù chỉ một dollar tiền gửi ngân hàng, dưới bất cứ lý do gì. Số vụ đổ vỡ ngân hàng cũng được cắt giảm một cách ngoạn mục, từ con số vài nghìn vụ mỗi năm vào thời điểm trước 1934, xuống con số không quá 100 vụ, nếu không tính những giai đoạn cực kì đặc biệt3. Thay vì để xảy ra phá sản ngân hàng, cách giải quyết được sử dụng nhiều nhất là đàm phán, dàn xếp để một ngân hàng có năng lực mua lại ngân hàng đang lâm vào cảnh khó khăn.

Hàm ý với Việt Nam

Thời gian qua, vấn đề phá sản ngân hàng đã được đề cập ở nhiều cấp độ quản lý. Đây thực sự là tín hiệu tích cực, thể hiện sự quan tâm với trách nhiệm cao của các cấp lãnh đạo đối với hoạt động ngân hàng. Mặc dầu vậy, thực tế xử lý khó khăn ngân hàng còn nhiều nội dung cần được quan tâm, nhiều nguồn lực cần được huy động, đặc biệt là năng lực chịu đựng và kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trước cú sốc “phá sản” chưa nhiều. Do đó, trước khi triển khai cần có thời gian nghiên cứu và chuẩn bị kỹ lưỡng. Để khi thực hiện cơ chế trên, sẽ đảm bảo an toàn hệ thống, tránh hiệu ứng domino và quyền lợi của người gửi tiền được đảm bảo.

TS.Nguyễn Thị Kim Oanh

Nguyễn Bách Thắng

Chi nhánh BHTGVN tại TP. Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

[1] Trường phái phủ nhận vai trò của ngân hàng:

Walras, Théorie mathématique de la richesse sociale, 1983

J-K Arow & G. Debreu, Existence of an equilibrium for a competitive economy, Econometrica, 1954

J. Tirole, Theory of Corporate Finance, Princeton University Press, 2006

Modigliani & Miller, The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment, American Economic Review, 1958

E. Fama, What's Special about Banks?, Journal of Monetary Economics, 1985

[2] Trường phái khẳng định vai trò của ngân hàng:

J.G Gurley, E.S Shaw, Money in a Theory of Finance, 1960

Akerlof, The Market for Lemons, 1970

Benston and Smith, A Transaction Costs Approach to the Theory of Financial Intermediation, 1977

R. Coase, Nature of the Firm, 1937

Diamond, Financial Intermediation and Delegated Monitoring, 1984

Diamond and Dybvig, Bank Runs, Deposit Insurance and Liquidity, 1983

[3] R. Goldsmith, Financial Structure and Development, Yale University Press, 1969.

[4] Raghuram R. Rajan and L. Zingales, Financial Dependence and Growth, American Economic Review, 1998.

[5] George G.Kaufman, Bank runs: Causes, Benefits, and Costs, Cato Journal, Vol.7, No. 3, Winter 1988.

[6] Milton Friedman, J. Schwartz, A Monetary History of the United States, 1867 – 1960, 1965

[7] George G.Kaufman, Kenneth E. Scott, What Is Systemic Risk, and Do Bank Regulators Retard or Contribute to It ?, 2003.

[8] Ben S. Bernanke, Non-Monetart Effects of the Financial Crisis in the Propagation of the Great Depression, 1983.

[9] Aswarth Damoradan, Country Risk: Determinants, Measures and Implications, 2015.

[10] Glenn Hoggarth, Ricardo Reis, and Victoria Saporta, Costs of banking system instability: some empirical evidence, Bank of England, 2001.

[11] Stephan Luck, Paul Schempp, Sovereign Default, Bank Runs and Contagion, Max Planck Institute for Research on Collective Goods, 2014.

1 Theo ước tính của George G.Kaufman trong bài viết "Bank runs: Causes, benefits and costs", con số này có thể lên đến 50% tại một số thời điểm như giai đoạn 1965 - 1985.
2 Trong giai đoạn khủng hoảng 1929 - 1933, 40% ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ dừng hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau. Chi tiết xem biểu đồ bên dưới về số vụ đổ vỡ ngân hàng giai đoạn 1921-2009.
3 Thập niên 80: Khủng hoảng tiết kiệm và cho vay (Savings and Loans S&L crisis).
  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
CÁC TIN KHÁC
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
03:06, 10/02/2026
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
17:00, 02/02/2026
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
09:16, 29/01/2026
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
09:13, 22/01/2026
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
11:28, 19/01/2026
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
22:00, 15/01/2026
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
09:51, 14/01/2026
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
09:53, 09/01/2026
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
15:00, 08/01/2026
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
03:32, 18/12/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready