a) Tên Đề tài: Quản trị tài chính đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau sáp nhập - mã số DTNH.13/2015
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS.Phạm Tiến Đạt - Phó chủ nhiệm khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng.
- Thư ký: ThS. Phạm Mỹ Linh - Chuyên viên Viện NCKH Ngân hàng, Học viện Ngân hàng.
- Các thành viên tham gia:
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở khoa học về quản trị tài chính đối với các ngân hàng thương mại sau sáp nhập; Thực trạng quản trị tài chính các ngân hàng thương mại sau sáp nhập ở Việt Nam; Mô hình đánh giá hoạt động quản trị tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau sáp nhập; đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị tài chính tại các NHTMCP Việt Nam sau sáp nhập.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 02/2015.
- Thời gian kết thúc: Tháng 07/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 170 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện quản trị tài chính (QTTC) tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau sáp nhập, đề tài DTNH.13/2015 được cấu trúc thành 04 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở khoa học về quản trị tài chính đối với các ngân hàng thương mại sau sáp nhập, bao gồm lý thuyết về sáp nhập trong hệ thống các NHTM, lý thuyết về QTTC đối với các ngân hàng thương mại sau sáp nhập và kinh nghiệm quốc tế về quản trị tài chính đối với các ngân hàng thương mại sau sáp nhập.
Theo đó, nhóm nghiên cứu đưa ra định nghĩa về sáp nhập trong hệ thống NHTM như sau: “Sáp nhập trong hệ thống NHTM là sự kết hợp đồng thuận mà một trong các bên tham gia hoạt động sáp nhập là NHTM và tổ hợp sau đó sẽ hoạt động dưới tên của một NHTM đã tham gia vào hoạt động sáp nhập hoặc tên ngân hàng mới.” Nghiên cứu cũng cho thấy nhiều yếu tố đóng góp vào sự bùng nổ của hoạt động sáp nhập trong ngành ngân hàng, bao gồm yếu tố bắt nguồn từ bên trong ngân hàng (tình trạng thanh khoản, khả năng tài chính, năng lực quản trị, xung đột lợi ích,…) hoặc từ bên ngoài ngân hàng (xu hướng toàn cầu hóa, phát triển công nghệ, chính sách quản lý ngành, tình hình kinh tế vĩ mô…). Nghiên cứu cũng chỉ ra các thách thức từ sáp nhập ngân hàng, bao gồm vấn đề pháp lý, vấn đề tích hợp công nghệ hậu sáp nhập, vấn đề QTTC của các ngân hàng. Ngoài những vấn đề đặt ra như trên, còn rất nhiều yếu tố khác như người lãnh đạo, thông tin và giao tiếp, quản trị rủi ro kém, chiến lược kinh doanh yếu cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn hậu sáp nhập.
Đối với vấn đề QTTC của các ngân hàng sau sáp nhập, theo nhóm tác giả, là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của NHTM. Trong đó mục tiêu trước mắt là đạt được giá trị cộng hưởng sau sáp nhập như tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Mục tiêu lâu dài là gia tăng giá trị ngân hàng. Thông qua một số thương vụ sáp nhập ngân hàng điển hình như: Wells Fargo và Wachovia; Bank of America và Merrill lynch; Oriental Commerce Bank và Global Trust Bank, nhóm tác giả rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
(i) Định giá có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định thành bại của một thương vụ sáp nhập, đặc biệt khi xét trên khía cạnh tài chính.
(ii) Vai trò của công tác giám sát nội bộ của các bên tham gia sáp nhập.
(iii) Cơ quan quản lý chỉ nên thực thi trách nhiệm giám sát, tư vấn các trường hợp sáp nhập trên nguyên tắc tự nguyện thay vì can thiệp sâu, ép buộc bất cứ bên nào tham gia vào thương vụ.
(iv) Sự khác biệt nảy sinh từ sáp nhập là điều không thể tránh khỏi.
(v) Nợ xấu luôn hiện hữu trong mỗi thương vụ sáp nhập. Xử lý nợ xấu đòi hỏi thời gian dài và khả năng tài chính mạnh phục vụ cho công tác trích lập dự phòng, cơ cấu lại nợ, xóa nợ của ngân hàng hợp nhất sau thương vụ sáp nhập, do đó, các ngân hàng trước khi tiến hành sáp nhập cần dự kiến các phương án xử lý nợ xấu thích hợp và chuẩn bị tài chính sẵn sàng đối phó với các khoản nợ từ ngân hàng yếu kém mang theo.
(vi) Việc công khai, minh bạch thông tin cần được thực hiện bởi các bên tham gia thương vụ sáp nhập.
(vii) Cần thiết phải có quy định rõ ràng về sáp nhập được Nghị định hóa hoặc Luật hóa. Văn bản quy phạm cần được hướng dẫn chi tiết và cụ thể cho các trường hợp điển hình, cụ thể cho từng đối tượng tham gia các thương vụ sáp nhập.
Chương 2 tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản trị tài chính các ngân hàng thương mại sau sáp nhập ở Việt Nam, đặc biệt tập trung phân tích các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế của quản trị tài chính các ngân hàng thương mại sau sáp nhập. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình hoạt động của các NHTM sau sáp nhập thường chưa mang lại kết quả như kỳ vọng so với giai đoạn trước khi sáp nhập, do các NHTM nhận sáp nhập phải nhận chuyển giao toàn bộ tình hình tài chính không lành mạnh của NHTM bị sáp nhập. Trong số NHTM sau sáp nhập được nghiên cứu cho thấy, hầu hết các NHTM phải cần đến tối thiểu 3 năm để có thể khôi phục dần lại được hiệu quả hoạt động như ban đầu.
Các nguyên nhân chủ yếu gồm: (i) các nguyên nhân khách quan, như (1) không lường trước được khó khăn trước khi tiến hành sáp nhập; (2) thông tin thiếu minh bạch; (3) quy định hướng dẫn tiến trình sáp nhập của NHTM chưa đầy đủ; (4) xử lý nợ xấu của NHTM qua VAMC thực chất chưa giải quyết triệt để những khoản nợ xấu của NHTM; (5) đặc điểm sáp nhập trong giai đoạn 2011 – 2015 chủ yếu giữa NHTM yếu với một NHTM mạnh/ trung bình nên chưa khai thác hết hiệu quả của sáp nhập. (ii) các nguyên nhân chủ quan, bao gồm (1) quá trình sáp nhập diễn ra còn chậm; (2) các NHTM sau sáp nhập phải giải quyết nhiều khoản nợ xấu nên hiệu quả hoạt động chưa cao; (3) bản thân NHTM nhận sáp nhập còn thiếu kinh nghiệm; (4) chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh cụ thể; và (5) chưa đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ.
Chương 3 của đề tài thực hiện đánh giá định lượng hoạt động QTTC của các ngân hàng sau sáp nhập. Nghiên cứu tại chương này cho thấy một số vấn đề như:
- Sau khi hoàn tất các thủ tục sáp nhập, cán bộ, nhân viên kỳ vọng rằng trong khoảng 2 – 3 năm thì ngân hàng mới xử lý xong các khoản nợ xấu tiếp quản từ ngân hàng bị sáp nhập. Theo các nhân viên ngân hàng nhận sáp nhập, hầu như sau sáp nhập, trích lập dự phòng rủi ro đều tăng hoặc tăng rất mạnh. Và đó là một bằng chứng của việc tiếp quản nợ xấu từ phía ngân hàng bị sáp nhập khiến cho chi phí kinh doanh của ngân hàng nhận sáp nhập tăng lên cục bộ sau khi các thủ tục hoàn tất. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thời gian để xử lý nợ xấu trên thực tế còn dài hơn nhiều bởi tính chất phức tạp của việc xử lý và bởi các ngân hàng bị sáp nhập luôn giấu diếm các khoản nợ xấu cho đến khi hoàn thành việc sáp nhập; khi đó, con số nợ xấu lớn hơn nhiều lần những số liệu bàn giao qua sổ sách.
- Môi trường hoạt động kinh doanh cũng được nhìn nhận là có cải thiện hơn, nhưng chủ yếu là từ phía ngân hàng nhận sáp nhập; trong khi đa số nhân viên từ các ngân hàng bị sáp nhập đánh giá là môi trường sẽ trở nên khó khăn hơn. Kết quả này khá tương xứng với những gì thường xuyên diễn ra tại các NHTM sau sáp nhập, và cho thấy những xung đột về môi trường kinh doanh, về văn hóa kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nó cũng gợi ý rằng, để vượt qua rào cản văn hóa, cần có những giải pháp nhất định để trấn an tâm lý nhân viên các ngân hàng bị sáp nhập để họ an tâm công tác, tránh tâm lý tự ti, căng thẳng giữa các bên trong quá trình hoạt động sau sáp nhập như sự quan tâm thăm hỏi của ban lãnh đạo ngân hàng nhận sáp nhập, thái độ của lãnh đạo/trưởng đơn vị ngân hàng nhận sáp nhập, tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các nhân viên ngân hàng bị sáp nhập, tổ chức giao lưu, hoạt động xã hội cho toàn thể nhân viên, không phân biệt từ ngân hàng bị sáp nhập hay nhận sáp nhập… Quá trình cắt giảm nhân sự nên được thực hiện một cách minh bạch và có lộ trình, tiêu chí rõ ràng để góp phần ổn định tâm lý các nhân viên ngân hàng tại các đơn vị.
- Việc tái cơ cấu sau sáp nhập được hoàn tất sớm sẽ có tác động tích cực lên cải thiện môi trường làm việc của ngân hàng (giả thuyết 6). Nếu môi trường ổn định càng nhanh, dưới 6 tháng chẳng hạn, thì nhân viên ngân hàng sẽ có cảm nhận tốt hơn về môi trường làm việc. Tương tự, thu nhập sau sáp nhập tăng lên cũng có tác động tích cực tới đánh giá về môi trường làm việc sau sáp nhập của các nhân viên.
- Việc gia tăng mạng lưới sau sáp nhập (điều rất dễ xảy ra) sẽ làm cho quá trình quản lý nợ xấu sau sáp nhập trở nên khó khăn hơn. Theo các nhân viên ngân hàng, khu vực liên quan đến quản lý nợ, quản lý rủi ro, thu hồi nợ là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ các quyết định mua bán, sáp nhập. Vì vậy, các ngân hàng cũng cần chú trọng nắm bắt tình hình khu vực này để có các chính sách tín dụng, thu hồi nợ, quản lý rủi ro tương ứng.
- Để kiểm soát rủi ro tín dụng được cải thiện, các ngân hàng nên có các cân nhắc về tăng lãi suất ngân hàng và tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay (từ gợi ý trong giả thuyết 3). Những lo ngại trong giả thuyết 1 và 2 có thể được giảm bớt bởi tăng cường quản lý rủi ro và kiểm soát tín dụng mới là yếu tố đáng chú ý, ảnh hưởng nhiều hơn cả tới hoạt động quản lý nợ xấu sau sáp nhập.
Tại chương 4, nhóm tác giả tập trung đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập, bao gồm 03 nhóm, cụ thể như sau:
(i) Nhóm giải pháp về nội dung quản trị tài chính, gồm: hoàn thiện công tác dự báo và lập kế hoạch tài chính; Nâng cao hiệu quả quản trị các khoản phải thu
(ii) Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính, gồm: áp dụng đa dạng các biện pháp để giảm tỷ lệ nợ xấu; nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng sau sáp nhập; giảm tỷ trọng tiền gửi và cho vay liên ngân hàng; xác định cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu; cắt giảm chi phí không cần thiết; bán cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài để tăng năng lực quản trị.
(iii) Nhóm giải pháp khác, gồm cơ cấu lại nhân sự và đầu tư phát triển nguồn nhân lực ngân hàng sau sáp nhập; xây dựng thương hiệu cho ngân hàng sau sáp nhập; tích hợp công nghệ thông tin ngân hàng sau sáp nhập.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng có một số khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước như: (i) Đối với Chính phủ cần có cơ chế bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư đặc biệt các nhà đầu tư thiểu số và quyền lợi người lao động, có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư nước tham gia vào hoạt động sáp nhập lĩnh vực ngân hàng; (ii) Đối với Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế đặc thù cho những ngân hàng sau sáp nhập thực hiện theo đề án tái cơ cấu NHTM, đối với vụ sáp nhập thông thường bắt buộc các NHTM sau sáp nhập phải tuân thủ chuẩn mực kế toán về Hợp nhất kinh doanh, rút ngắn thời gian xét duyệt trong các thương vụ sáp nhập và có sự giám sát chặt chẽ đối với các cổ đông lớn của NHTM sau sáp nhập; (iii) Đối với Bộ Tài chính nên có cơ chế về thuế khi diễn ra thương vụ sáp đặc thù theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời cần bổ sung các quy định về công bố thông tin đặc biệt là thông tin về báo cáo tài chính hàng năm đã được kiểm toán đối với NHTM sau sáp nhập.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Khá.