Bàn về chuẩn tin điện tài chính ISO 20022 và đề xuất triển khai áp dụng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng ở Việt Nam
ThS. Nghiêm Thanh Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán - NHNN
1. Sự cần thiết về một chuẩn tin điện chung
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng, tổ chức vận hành hệ thống/hạ tầng thị trường tài chính hàng ngày phải liên tục trao đổi lượng thông tin lớn với nhau và với khách hàng. Việc trao đổi thông tin như vậy chỉ có thể nhanh chóng, thông suốt và hiệu quả nếu bên gửi và bên nhận thông tin cùng thống nhất về cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu. Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính hiện nay tồn tại quá nhiều chuẩn tin điện khác nhau như điện MT do SWIFT phát triển dùng trong thanh toán, chuyển tiền liên ngân hàng; chuẩn tin điện quốc tế ISO 15022 phục vụ các giao dịch thanh toán chứng khoán; chuẩn tin điện quốc tế ISO 8583 dùng cho các giao dịch thẻ; tin điện FIX thường dùng để trao đổi dữ liệu giao dịch thương mại; tin điện FpML sử dụng rộng rãi trong trao đổi thông tin giữa các công ty môi giới, đầu tư chứng khoán... Ngoài ra, trong quá trình hình thành và phát triển, hệ thống thanh toán tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng tự xây dựng, phát triển các chuẩn, định dạng tin điện riêng đáp ứng nhu cầu của thành viên và yêu cầu thị trường trong nước, bởi vậy cũng không tuân theo hoặc khó khớp nối với các chuẩn tin điện quốc tế thịnh hành.
Thực tiễn sử dụng tin điện trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính ở nước ta cho thấy, cũng như nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đồng, Việt Nam chưa có một chuẩn chung thống nhất cho các tin điện tài chính và tồn tại rất nhiều chuẩn/định dạng tin điện khác nhau ứng với mỗi hệ thống thanh toán hoặc kết nối hạ tầng tài chính khác nhau. Hình 1 cung cấp cho chúng ta một góc nhìn tổng quan về hiện trạng sử dụng chuẩn, định dạng tin điện tài chính hiện nay tại thị trường Việt Nam.
Chẳng hạn khi thực hiện chuyển tiền liên ngân hàng qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước quản lý, vận hành, các tổ chức tín dụng sẽ gửi, nhận thông tin thanh toán theo một định dạng tin điện riêng do hệ thống quy định. Trong khi đó, với giao dịch thanh toán quốc tế, các tin điện chứa đựng thông tin thanh toán do chính những tổ chức này gửi đi sẽ tuân theo định dạng tin điện SWIFT MT được SWIFT phát triển từ thập niên 70 của thế kỷ trước. Trong chuyển mạch thẻ và bù trừ giao dịch thanh toán bán lẻ, các tin điện của các ngân hàng thành viên, các tổ chức có thỏa thuận kết nối, xử lý qua hệ thống của công ty cổ phần thanh toán quốc gia (NAPAS) hiện thường áp dụng theo chuẩn tin điện quốc tế ISO 85831. Trong lĩnh vực thanh toán bù trừ chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đang bước đầu triển khai áp dụng cổng giao tiếp trực tuyến tự động hoàn toàn (STP) để xử lý tác nghiệp qua kết nối, trao đổi dữ liệu trực tuyến giữa hệ thống phần mềm lõi của VSD với hệ thống công nghệ thông tin của các thành viên lưu ký (trong đó có các tổ chức tín dụng) theo chuẩn tin điện quốc tế ISO 15022 nhằm dần thay thế cho định dạng tin điện XML do VSD tự xây dựng từ những năm 20102. Với các giao dịch thu nộp ngân sách nhà nước, việc trao đổi thông tin, dữ liệu giữa hệ thống ngân hàng với các cơ quan Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế... được thực hiện qua các tin điện giao dịch tuân thủ theo các quy định tại Thông tư do Bộ Tài chính ban hành.
Việc duy trì nhiều chuẩn, định dạng tin điện như hiện nay gây tốn kém chi phí về nhân lực, kết nối, vận hành... đối với các tổ chức, đặc biệt trong bối cảnh quy mô giao dịch và độ phức tạp của nghiệp vụ ngày càng tăng. Bên cạnh đó, thực trạng “đa chuẩn” còn dẫn tới sự không đồng nhất về thông tin, dữ liệu, tiềm ẩn rủi ro sai sót, nhầm lẫn trong quá trình tác nghiệp và gây khó khăn trong đối chiếu, xử lý tra soát.
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập tài chính quốc tế, hệ thống ngân hàng - tài chính của mỗi quốc gia không thể đứng biệt lập mà cần giao tiếp, trao đổi thông tin dữ liệu với bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu giao thương ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, mong muốn này gặp phải trở ngại lớn do thiếu khả năng kết nối liên thông (interoperability) giữa các hệ thống thanh toán, hạ tầng tài chính trong nước với bên ngoài phát sinh từ sự tồn tại của nhiều chuẩn, định dạng tin điện khác nhau tại mỗi quốc gia.
Do đó, việc hướng tới áp dụng một chuẩn tin điện chung cho từng lĩnh vực như thanh toán, chứng khoán... hoặc cao hơn nữa toàn bộ thị trường tài chính là chủ đề được rất nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm nghiên cứu và triển khai áp dụng thực tế từ các tổ chức ngân hàng, tài chính, hệ thống thanh toán và hạ tầng thị trường tài chính cho đến cơ quan quản lý và các tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Một chuẩn tin điện như chuẩn quốc tế ISO 20022 với vai trò chuẩn giao tiếp chung cho các chuẩn còn lại sẽ là lời giải cho tình huống khó xử nêu trên. (Hình 1)
Hình 1: Các chuẩn, định dạng tin điện trao đổi dữ liệu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng Vietinbank và tác giả
2. Tổng quan về chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022
2.1. Một số khái niệm cơ bản về chuẩn ISO 20022
Chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 được chính thức ban hành vào năm 2004. Khởi nguồn của chuẩn tin điện này là từ chuẩn tin điện chứng khoán ISO 15022 được phát triển từ những năm 1990. Kế thừa những nội dung về giao dịch chứng khoán trong chuẩn ISO 15022, trong năm 2004, chuẩn tin điện ISO 15022 trong năm 2004 đã được mở rộng về phạm vi để bao trùm toàn bộ các dịch vụ tài chính, định hình nên chuẩn tin điện chung cho ngành dịch vụ tài chính với tên gọi là chuẩn ISO 20022/UNIFI hay thường gọi tắt là chuẩn ISO 20022 như hiện nay.
ISO 20022 sử dụng phương pháp mô hình hóa các quy trình kinh doanh, được xây dựng và thiết kế theo các cú pháp dễ đọc, thân thiện và dễ hiểu với người dùng. Chuẩn tin điện này hiện có thể được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của ngành dịch vụ tài chính như: Thanh toán, chứng khoán, quản lý nguồn vốn, tài trợ thương mại, thị trường thẻ và thị trường ngoại hối, trong đó được sử dụng rộng rãi nhất trong thanh toán - chuyển tiền và thanh toán bù trừ chứng khoán.
Để phân biệt loại tin điện phục vụ cho các nghiệp vụ khác nhau, chuẩn tin điện ISO 20022 xây dựng định nghĩa tin điện tài chính trong từng lĩnh vực hoạt động và được phân biệt bởi bốn mã ký tự chữ cái trong tên gọi của các loại tin điện ISO 20022. Hiện nay, độ bao phủ của tin điện ISO 20022 đang không ngừng gia tăng theo nhu cầu của ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng và trong thời gian tới, chuẩn này sẽ được nghiên cứu mở rộng sang áp dụng cho cả lĩnh vực bảo hiểm và chứng khoán phái sinh.
2.2. Ưu điểm của chuẩn ISO 20022
Điều làm cho ISO 20022 có sức thu hút và đạt được sự phát triển nhanh chính là những lợi ích mà chuẩn này đem lại cho toàn bộ các hạ tầng thị trường tài chính và bản thân các tổ chức tài chính. So với các chuẩn, định dạng tin điện khác, chuẩn tin điện ISO 20022 đã mang lại nhiều lợi ích vượt trội cho các tổ chức, thể hiện trên các mặt như sau:
Hỗ trợ khả năng kết nối liên thông xuyên quốc gia (cross-border interoperability): Chuẩn tin điện ISO 20022 tăng cường khả năng kết nối liên thông giữa các hệ thống thanh toán trong nước với khu vực và thế giới nhờ đóng vai trò như “quốc tế ngữ”, là chuẩn giao tiếp chung để giúp các hệ thống, các bên liên quan có thể “nói chuyện” được với nhau. Khả năng này giúp loại bỏ hoàn toàn rủi ro không thống nhất về cách hiểu/“mỗi người hiểu một kiểu”, nhờ đó, xóa bỏ nhiều trở ngại, lãng phí và chi phí phát sinh trong thanh toán quốc tế.
Dữ liệu chuyển tiền phong phú, là nền tảng chiến lược cho đổi mới (rich remittance data): Nhờ sử dụng cấu trúc XML, chuẩn tin điện ISO 20022 cho phép chứa đựng được nhiều dữ liệu hơn trong một tin điện so với các chuẩn trước đây, thường bị hạn chế về số lượng ký tự được phép. Việc mở rộng trường dữ liệu trong chuẩn ISO 20022 giúp tránh được những nhầm lẫn về mục đích của khoản thanh toán so với các chuẩn dữ liệu khác được phát triển đã lâu với trường dữ liệu hạn chế (chẳng hạn, chỉ vài chục ký tự). Ví dụ, tại một số thị trường, nhiều giao dịch ủy nhiệm thu (yêu cầu ghi nợ trực tiếp) bị từ chối hoặc phải đảo ngược giao dịch bởi thông tin hạn chế trong trường dữ liệu gửi kèm lệnh thanh toán khiến hệ thống không thể xác định chính xác được ai là người muốn ghi nợ tài khoản của khách hàng. Bên cạnh đó, chuẩn tin điện ISO 20022 cũng cho phép bổ sung thêm các trường dữ liệu mới (hoặc thay đổi độ dài của các trường dữ liệu hiện hành), giúp chuẩn này có thể truyền tải được nhiều kiểu dữ liệu khác nhau, với khối lượng lớn hơn, nhờ vậy, có thể phát triển thêm các sản phẩm, dịch vụ mới trong tương lai.
Tin điện đồng nhất và có thể tái sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau (reusable messages across business domains): ISO 20022 không đơn thuần là chuẩn dữ liệu cho tin điện thanh toán. Bên cạnh các nhóm tin điện cho thanh toán bù trừ và quyết toán, khởi tạo thanh toán, chuẩn ISO 20022 còn bao gồm các loại tin điện dành cho quản lý nguồn vốn, giao dịch và quyết toán chứng khoán, quản lý tài khoản, quản lý tài trợ thương mại, hóa đơn điện tử… Thậm chí người ta có xây dựng cả tin điện dành riêng cho chấp nhận thẻ và quản lý thiết bị đầu cuối. Thực tế ISO 20022 có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau cũng có nghĩa là chuẩn này có thể giúp tạo ra sự hợp lý, đồng bộ giữa các quy trình khác nhau. Điều này khiến các bên giao tiếp hiệu quả hơn, và giúp giảm bớt chi phí tổng thể đối với các ngân hàng, doanh nghiệp và các tổ chức vận hành hệ thống thanh toán bù trừ do những tổ chức này không cần phải cùng lúc duy trì và vận hành theo nhiều chuẩn tin điện khác nhau. Nhiều tổ chức cũng sửa đổi các quy trình nội bộ (đặc biệt là nghiệp vụ quản lý nguồn vốn) bằng cách áp dụng chuẩn ISO 20022, qua đó, hợp nhất cả giao tiếp trong và ngoài tổ chức theo một chuẩn chung duy nhất.
Dễ dàng lựa chọn các đơn vị cung ứng giải pháp và phần mềm hỗ trợ: Vướng mắc đối với chuẩn tin điện của một số quốc gia, đặc biệt là đối với các chuẩn đã được phát triển từ cách đây nhiều thập kỷ, là có rất ít sự lựa chọn về công cụ phần mềm cũng như các đơn vị cung ứng giải pháp. Nếu chuẩn đó chỉ sử dụng trong một khu vực địa lý nhất định và chỉ dành cho những hệ thống cũ giờ không còn sử dụng rộng rãi nữa thì việc cập nhật, chỉnh sửa hệ thống sẽ rất tốn kém do những lựa chọn ít ỏi về các đơn vị cung ứng phần mềm giải pháp. Nhưng điều này không phải là trở ngại đối với chuẩn ISO 20022. Với tư cách là một chuẩn dữ liệu hiện đại, trên nền tảng ngôn ngữ đánh dấu mở rộng (XML) không giới hạn về khu vực địa lý, sẽ có rất nhiều nhà cung ứng phần mềm tham gia phát triển các công cụ phần mềm và cung cấp các bản cập nhật cho chuẩn này, nhờ đó có thể tiết kiệm chi phí nâng cấp, bảo trì cho tổ chức.
Giảm bớt chi phí vận hành sau giai đoạn đầu tư ban đầu: Lý do khiến một vài hệ thống do dự khi chấp nhận sử dụng chuẩn ISO 20022 là chi phí ban đầu cho việc nâng cấp, điều chỉnh các hệ thống, quy trình trong và ngoài tổ chức. Chi phí này thậm chí có thể còn cao hơn khi xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới. Tuy nhiên, một khi tổ chức đã áp dụng triệt để chuẩn ISO 20022 cho hệ thống, điều này giúp giảm bớt tổng chi phí vận hành do có thể lựa chọn nhiều đơn vị cạnh tranh cung ứng phần mềm giải pháp, bản vá lỗi và cung cấp bảo trì hệ thống với chi phí hợp lý. Triển khai ISO 20022 xuyên suốt nhiều mảng nghiệp vụ cũng có thể giúp giảm chi phí nhờ loại bỏ yêu cầu phải duy trì nhiều chuẩn dữ liệu cho các mảng kinh doanh khác nhau. Thêm vào đó, chuẩn hóa trên toàn bộ thị trường qua chuẩn ISO 20022 có tiềm năng giảm thiểu các sự cố kỹ thuật cũng như giảm bớt nhu cầu chuyển đổi qua lại giữa các chuẩn dữ liệu khác nhau, nhờ đó giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong dài hạn.
3. Xu hướng phát triển của chuẩn ISO 20022
Mặc dù đã được phát triển từ những năm đầu thế kỷ 21 nhưng chỉ sau khi Khu vực thanh toán chung châu Âu SEPA đạt được nhiều thành công rõ rệt trong triển khai áp dụng chuẩn ISO 20022, các quốc gia, tổ chức khác trên thế giới mới thực sự dành sự quan tâm nhiều hơn tới chuẩn tin điện này.
Vào tháng 2 năm 2012, Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 260/2012 thiết lập yêu cầu kỹ thuật nghiệp vụ cho các Ủy nhiệm chi (Credit Transfer) và Ủy nhiệm thu (Direct Debit) bằng Euro, theo đó, từ tháng 2 năm 2014 trở đi, các lệnh thanh toán trên phải tuân thủ theo chuẩn chung là ISO 20022. Bằng cách chuẩn hóa việc trao đổi thông tin theo cách thức trên, ISO 20022 đã đóng góp quan trọng vào việc đạt được mục tiêu SEPA là thay thế các cơ chế thanh toán riêng rẽ tại từng quốc gia châu Âu bằng một hệ thống hợp nhất cho thanh toán bằng đồng Euro, thanh toán Ủy nhiệm chi và Ủy nhiệm thu bằng Euro trên một thị trường 28 nước thành viên liên minh châu Âu. Không dừng ở phạm vi các giao dịch giá trị thấp như trong dự án SEPA, chuẩn ISO 20022 còn được áp dụng cả với hệ thống thanh toán giá trị cao khu vực châu Âu là TARGET2 với mốc thời gian dự kiến áp dụng hoàn toàn chuẩn này là vào năm 2017.
Sau thành công của dự án SEPA, nhiều nước, khu vực trên thế giới cũng đã nghiên cứu và triển khai chuẩn ISO 20022 cho hệ thống thanh toán với phạm vi, mức độ khác nhau, tạo nên một xu hướng rõ nét về chấp nhận sử dụng chuẩn này trên bình diện toàn cầu. (Hình 2)
Hình 2: Tình hình và triển vọng triển khai chuẩn ISO 20022 tại một số nước, khu vực trên thế giới (cập nhật đến tháng 11/2016)
Nguồn: SWIFT
Ghi chú:Biểu tượng Live để chỉ các dự án triển khai áp dụng ISO 20022 đã vận hành thực tế
Tại Nhật Bản, cả hệ thống thanh toán giá trị cao và giá trị thấp (BOJ-Net và Zengin) đều đã áp dụng chuẩn ISO 20022 trong các tin điện của hệ thống. Tương tự, hệ thống thẻ thanh toán nội địa tại Nga cũng ứng dụng tin điện theo ISO 20022, trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ cũng đã áp dụng chuẩn này trong hệ thống thanh toán tổng tức thời thế hệ mới của nước này với tên gọi NG-RTGS. Trung Quốc và Braxin cũng công bố việc áp dụng một số loại tin điện theo chuẩn ISO 20022 trong hệ thống thanh toán kế tiếp của mình. Hiệp hội Thanh toán Canada cũng đã đưa ra khung thời gian áp dụng triệt để chuẩn ISO 20022 cho hệ thống thanh toán bù trừ, bắt đầu từ năm 2016 và hoàn thành vào năm 2020. Tương tự, Hiệp hội thanh toán bù trừ Úc (APCA) cũng lên kế hoạch áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 cho hệ thống thanh toán bù trừ giá trị thấp theo thời gian thực có tên NPP, dự kiến vận hành vào cuối năm 2017.
Tại một số nước trong khu vực ASEAN, chuẩn tin điện ISO 20022 cũng đã được áp dụng thành công trong một số hệ thống thanh toán với Singapore là nước đầu tiên trong ASEAN áp dụng chuẩn ISO 20022 vào hệ thống chuyển tiền theo thời gian thực - FAST từ giữa tháng 3/2014. Tiếp nối thành công của Singapore, NHTW Brunei (AMBD) cũng đã hoàn tất việc áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 đối với hệ thống thanh toán tổng thức thời (Brunei RTGS) vào tháng 11/2014 và dự kiến cũng áp dụng chuẩn ISO 20022 cả với hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH) vào tháng 10 năm nay khi hệ thống này chính thức đi vào hoạt động. Điều này sẽ giúp Brunei trở thành quốc gia đầu tiên tại ASEAN áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 cho cả hệ thống thanh toán giá trị cao lẫn hệ thống thanh toán giá trị thấp.
Tại một số quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Philippines, NHTW các nước này cũng đã lên kế hoạch áp dụng chuẩn ISO 20022 vào các hệ thống thanh toán của mình trong 5 năm sắp tới, dự kiến đến năm 2020, phần lớn hệ thống thanh toán giá trị cao tại ASEAN sẽ áp dụng ISO 20022 như chuẩn tin điện cốt lõi của hệ thống thanh toán.
4. Đề xuất triển khai chuẩn ISO 20022 cho một số hệ thống thanh toán quan trọng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, với vai trò là người sở hữu và vận hành hệ thống thanh toán quan trọng nhất - Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS), Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, định hướng trong việc chấp nhận chuẩn chung này tại thị trường Việt Nam. Với việc nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã áp dụng hoặc lựa chọn áp dụng chuẩn ISO 20022 khi những tiến hành nâng cấp, hiện đại hóa hoặc phát triển mới hệ thống RTGS/ ACH, mốc thời gian thích hợp cho việc áp dụng chuẩn ISO 20022 vào hạ tầng thanh toán của Việt Nam sẽ là khi hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được nâng cấp toàn diện trong giai đoạn tiếp theo - dự kiến khoảng năm 2020. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có kế hoạch phát triển mới một hệ thống thanh toán bù trừ tự động cho các giao dịch thanh toán bán lẻ trong thời gian tới. Bởi vậy, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống ACH này, cần xem xét, tiến thẳng lên áp dụng chuẩn tin điện hiện đại ISO 20022, vừa đảm bảo khả năng tính đồng bộ trong xử lý, trao đổi tin điện qua hai hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế và kết nối thông suốt với hệ thống ngân hàng - tài chính quốc tế dựa trên một chuẩn tin điện chung, sử dụng trên toàn cầu.
Để phục vụ việc triển khai áp dụng chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt đối với một số hệ thống thanh toán, hạ tầng thị trường tài chính quan trọng, cần nghiên cứu áp dụng một trong 2 cách thức triển khai sau đây.
Điều chỉnh thích ứng (“like - for - like” approach). Đây là cách thức hạ tầng thị trường chỉ thuần túy sao chép lại các tính năng nghiệp vụ (business functionality) hiện hành, nhưng không nâng cấp. Do những tính năng phong phú của chuẩn ISO 20022 được “khớp” với khả năng đáp ứng của hệ thống cũ và không có thêm tính năng mới, cách tiếp cận này tạo thuận lợi cho xử lý giao dịch liên thông từ đầu cuối đến đầu cuối (end - to - end transaction interoperability). Cách thức này thường được xem như bước đệm để tiến tới áp dụng triệt để chuẩn ISO 20022 vào các hoạt động của hệ thống thanh toán hay hạ tầng thị trường tài chính. Nó giúp cho các thành viên của hệ thống/hạ tầng thị trường trước tiên có được khả năng xử lý tin điện ISO 20022, rồi sau đó, tiến tới triển khai hoàn toàn theo chuẩn ISO 20022 với nhiều tính năng phong phú hơn. Hiện nay, rất nhiều hệ thống thanh toán giá trị cao trên thế giới vận dụng triển khai ISO 20022 theo cách này.
Áp dụng triệt để (full implementation) là cách thức thường được các hạ tầng thị trường thực hiện nhằm khai thác hết những tính năng phong phú mà chuẩn tin điện ISO 20022 đem lại với mục tiêu cung ứng dịch vụ mới và/hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ hiện có. Khả năng này đạt được là nhờ vào các luồng tin điện và trường dữ liệu bổ sung, vốn thuộc tính gắn với chuẩn tin điện ISO 20022.
Các hệ thống, hạ tầng thị trường thường lựa chọn cách thức triển khai triệt để này khi cách thức điều chỉnh thích ứng là không khả thi, ví dụ như khi sao chép lại các tính năng cũ bị hạn chế hoặc quá bó buộc.
1 Chuẩn tin điện ISO 8583 hiện nay đang được các NHTM Việt Nam sử dụng là phiên bản đầu tiên của chuẩn tin điện này phát hành năm 1987.
2Hiện nay, chỉ một số ít ngân hàng sử dụng tin điện theo chuẩn ISO 15022 để nhận công bố thông tin của các công ty niêm yết từ VSD. Tin điện chứa thông tin, dữ liệu về bù trừ chứng khoán hiện vẫn được áp dụng theo định dạng tin điện XML do VSD tự phát triển. Dự kiến đến năm 2018, VSD sẽ yêu cầu tất cả các đơn vị có kết nối trao đổi dữ liệu, thông tin với mình phải áp dụng tin điện theo chuẩn ISO 15022.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
John Wiley & Sons, Ltd, 2010, ISO 20022 for Dummies.
Lipis Advisors, 2014, ISO 20022 implementation best practices.
NACHA & Q Insights, 2015, Introduction to ISO 20022 for U.S. Financial Institutions.
Nghiêm Thanh Sơn, Vụ Thanh toán - NHNN, 2016, Phát biểu khai mạc Hội thảo “Xu hướng phát triển và thực tiễn triển khai chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022” ngày 30/8/2016.
Vietinbank, 2016, Tham luận “Chuẩn tin điện hiện nay giữa các hệ thống thanh toán”.