CHÍNH PHỦ ________ Số: 205/BC-CP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________ Hà Nội, ngày 14 tháng 7 năm 2016 |
BÁO CÁO
Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
6 tháng đầu năm và các giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm 2016
Kính gửi: Quốc hội khóa XIV
Căn cứ chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV, Chính phủ báo cáo Quốc hội tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và các giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm 2016.
I. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2016
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Nghị quyết số 98/2015/QH13 ngày 10 tháng 11 năm 2015 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2015 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 và Nghị quyết số 101/2015/QH13 ngày 14 tháng 11 năm 2015 về phân bổ ngân sách trung ương năm 2016.
Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2016, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Đầu năm là rét hại và băng giá ở các tỉnh miền núi phía Bắc; tiếp đến là hạn hán kéo dài ở các tỉnh miền Nam trung bộ, Tây Nguyên; hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, gây khó khăn rất lớn cho sản xuất nông nghiệp. Sự cố ô nhiễm môi trường biển ảnh hưởng xấu đến khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản, dịch vụ du lịch và các ngành sản xuất khác,...
Tình hình thế giới trong 6 tháng đầu năm 2016, cũng có nhiều yếu tố không thuận tác động xấu đến nước ta. Kinh tế thế giới phục hồi chậm; các xung đột cục bộ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi. Sự kiện trưng cầu dân ý nước Anh rời khỏi EU (“Brexit”) tác động mạnh đến kinh tế thế giới và ảnh hưởng nhất định đến kinh tế nước ta, nhất là xuất khẩu vào EU và nước Anh, đến giá vàng trong nước,...
Cũng trong 6 tháng đầu năm, sau Đại hội Đảng toàn quốc và Đại hội Đảng bộ các cấp, phải tổ chức học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bố trí, điều chuyển cán bộ lãnh đạo với số lượng nhân sự mới khá lớn,... cũng phần nào ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện kế hoạch năm 2016.
Để thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội, để vượt qua những khó khăn, thách thức, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 về các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016; và với mục tiêu xây dựng Chính phủ hành động, Chính phủ phục vụ, trong sạch và liêm chính, hoạt động của Chính phủ trong 6 tháng đầu năm đã tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về kinh tế - xã hội; tổ chức các hội nghị chuyên đề tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; chuyên đề về vệ sinh an toàn thực phẩm; giải quyết những khó khăn liên quan đến người lao động, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất;… Chỉ đạo sát sao và kịp thời để xử lý những vấn đề phức tạp mới phát sinh, như: thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, sự cố ô nhiễm môi trường biển, sự cố máy bay quân sự, tình trạng chặt, phá rừng trái phép,… Tập trung nhiều hơn vào xây dựng thể chế quản lý điều hành bằng cơ chế chính sách, công cụ kinh tế, hạn chế tối đa can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động kinh tế; nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm thực thi, hạn chế tối đa, tiến tới xóa bỏ “cơ chế xin - cho” trong tất cả các lĩnh vực, chống lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong hành động và chính sách. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm cá nhân….; đồng thời với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân, chúng ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả tích cực trong mọi mặt của nền kinh tế.
1. Về tăng trưởng kinh tế và phát triển các ngành, lĩnh vực
Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2016 đạt 5,52%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước là 6,32%1 và thấp hơn mục tiêu cả năm 6,7%.
Tốc độ tăng GDP đạt thấp, nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng. Tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm (-) 0,18% (cùng kỳ tăng 2,22%)2; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,12%3 (cùng kỳ tăng 9,36%); riêng khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng cao hơn so với cùng kỳ là 6,35% (cùng kỳ tăng 5,86%), nhưng chưa có sự cải thiện mạnh mẽ, thể hiện sức cầu yếu cả ở thị trường trong nước và xuất nhập khẩu đều thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước.
Sự giảm sút tăng trưởng của 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp làm cho tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm giảm 0,8 điểm phần trăm so với mức tăng cùng kỳ năm trước (nông nghiệp nếu giữ được tốc độ tăng trưởng như cùng kỳ năm trước là 2,22%, thì sẽ đóng góp thêm vào GDP khoảng 0,35 điểm phần trăm; công nghiệp khai khoáng giữ mức tăng trưởng 8,48%, thì sẽ đóng góp thêm vào GDP khoảng 0,45 điểm phần trăm) chủ yếu do thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường biển; giá dầu giảm sâu và kéo dài, nên Chính phủ đã chỉ đạo chủ động giảm sản lượng khai thác dầu. Khu vực dịch vụ mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao hơn cùng kỳ nhiều năm trước, nhưng nếu không có sự cố ô nhiễm môi trường biển gây cá chết hàng loạt tác động tiêu cực đến hoạt động du lịch của 4 tỉnh miền Trung, thì sẽ đóng góp thêm vào tăng trưởng khu vực này có thể đạt được tốc độ cao hơn. Như vậy, mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 5,52% là tích cực, nếu không có tác động xấu do nguyên nhân khách quan nêu trên, thì tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2016 đạt mức tương đương cùng kỳ năm 2015.
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, nền kinh tế nước ta vẫn đang trong đà phục hồi, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 5,52% là nhờ những nỗ lực trong cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; nhưng trong ngắn hạn, tăng trưởng GDP tạm thời bị giảm sút do các nguyên nhân bất khả kháng.
Dưới đây là tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực cụ thể:
(1) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 giảm (-) 0,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nông nghiệp giảm (-) 0,7%; trong khi đó: lâm nghiệp tăng 5,8%; thủy sản tăng 1,3%. Trong đó:
- Giá trị sản xuất nông nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết rét đậm tại các tỉnh miền Bắc, hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu long, nên sản xuất lúa vụ đông xuân năm nay giảm cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất lúa vụ đông xuân năm nay ước đạt 62,9 tạ/ha, giảm 3,6 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 19,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn cả nước4.
- Chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc; thiếu nước và nguồn thức ăn khan hiếm do hạn hán ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
- Về lâm nghiệp: trong 6 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng tập trung cả nước ước đạt 86,9 nghìn ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết khô hạn kéo dài đã làm tăng nguy cơ cháy rừng, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc5. Diện tích rừng bị thiệt hại 6 tháng đầu năm là 2.599 ha, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước; trong đó: diện tích rừng bị cháy là 1.955 ha, gấp 3,5 lần cùng kỳ; diện tích rừng bị phá là 644 ha, tăng 2,2 lần6. Để khắc phục tình trạng chặt phá rừng trái phép, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đóng cửa rừng tự nhiên. Đây là giải pháp đúng đắn, kịp thời, được dư luận đồng tình ủng hộ.
- Về thủy sản: ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn và tình trạng ô nhiễm môi trường biển đã ảnh hưởng xấu đến nuôi trồng và đánh bắt hải sản. Trong 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3,13 triệu tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 3,8%). Nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường nước và xâm nhập mặn, nhất là tại vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 893 nghìn ha, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.586,4 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 3,3%). Khai thác thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng tâm lý người tiêu dùng đối với vụ cá chết hàng loạt ở vùng biển Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế). Hải sản khai thác khó tiêu thụ, nhiều ngư dân phải dừng đánh bắt ở vùng biển ven bờ, sản lượng thủy sản khai thác ở các tỉnh trên giảm mạnh7, dẫn đến sản lượng khai thác chỉ tăng 3,2% (cùng kỳ tăng 4,4%); riêng sản lượng khai thác biển ước chỉ tăng 3,4%, thấp hơn 1,2% so với tốc độ tăng cùng kỳ.
Thiên tai, hạn hán và xâm nhập mặn, rét đậm, rét hại trong 6 tháng đầu năm đã gây thiệt hại nặng nề, với tổng thiệt hại lên tới gần 17.000 tỷ đồng; 385.779 hộ gia đình bị thiếu nước; 665 nhà bị sập, lũ cuốn trôi; 42 người chết và mất tích. Diện tích sản xuất nông nghiệp bị thiếu nước, diện tích lúa, hoa màu, cây công nghiệp bị hư hại lên tới 563.491 ha; gia súc, gia cầm, thủy hải sản chết hàng loạt; sạt lở 30.260 m các công trình thủy lợi; sạt lở 16.390 m3 công trình giao thông đã ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất, đời sống của nhân dân.
Sự cố ô nhiễm môi trường biển đã làm cá chết tại 4 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế gây hậu quả nghiêm trọng hủy hoại môi trường biển, không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống ngư dân mà còn tác động xấu đến phát triển các ngành sản xuất khác, đến xuất khẩu, du lịch,... Tính toán sơ bộ do sự cố ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 100 nghìn người do không có việc làm ổn định, thu nhập thấp và 176.285 người phụ thuộc; thiệt hại sản lượng hải sản khai thác ven bờ và vùng lộng ước tính khoảng 1.600 tấn/tháng; Diện tích nuôi tôm bị chết hoàn toàn là 5,7 ha tương đương 9 triệu tôm giống và khoảng 7 tấn tôm thương phẩm sắp đến kỳ thu hoạch; có trên 3.000 ha nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đã thả giống bị nhiễm độ mặn cao, môi trường suy giảm nên tôm chậm lớn, xuất hiện bệnh và có trên 350 ha nuôi tôm bị chết rải rác; có 1.613 lồng nuôi cá bị chết (khoảng 30.000m3), tương đương 140 tấn cá có 6,7 ha diện tích nuôi ngao bị chết, tương đương 67 tấn; có trên 10 ha nuôi cua bị chết do sự cố môi trường; giá bán các sản phẩm hải sản giảm trung bình từ 10 - 20% so với cùng kỳ năm 2015; việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường của 4 tỉnh bị ảnh hưởng giảm sút nghiêm trọng (sản phẩm khai thác ngoài 20 hải lý: giá bán giảm 30 -50%; sản phẩm khai thác trong 20 hải lý: không tiêu thụ được; hiện nay, tại Hà Tĩnh tồn kho trên 3.000 tấn sản phẩm thủy sản (chiếm 85% công suất kho lạnh toàn tỉnh), tại Quảng Bình tồn trên 2.000 tấn (chiếm 70% công suất kho lạnh toàn tỉnh);…
(2) Sản xuất công nghiệp - xây dựng
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng thấp chủ yếu do giảm sản lượng khai thác dầu thô.
Ngành khai khoáng là ngành duy nhất có chỉ số IIP giảm mạnh so với cùng kỳ, giảm (-) 2,2% (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%) chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm 6,1% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 11%); các ngành còn lại đều có mức tăng cao hơn cùng kỳ: sản xuất, phân phối điện tăng 11,7% (cùng kỳ tăng 11,4%); công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,1% (cùng kỳ tăng 10%); cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 8,1% (cùng kỳ tăng 6,9%).
Tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tồn kho toàn ngành tại thời điểm 01/6/2016 tăng 9% so với cùng thời điểm năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 11,8%)8.
Giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 6,8%), trong đó: khu vực nhà nước tăng 1,8%; khu vực ngoài nhà nước tăng 10,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 8,4%, chủ yếu do nhà máy gang thép Formosa Hà Tĩnh đã cơ bản hoàn thành, không phát sinh hoạt động xây dựng.
(3) Khu vực dịch vụ
Khu vực dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2012 tới nay9. Một số ngành tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bán buôn, bán lẻ tăng 8,1%; hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 6,1%; thông tin và truyền thông tăng 8,76%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 7,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 7,2%; giáo dục và đào tạo tăng 7,15%. Hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,77%, là mức cao nhất kể từ năm 2011 đến nay10.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 9,8%); nhưng nếu loại trừ yếu tố giá chỉ còn tăng 7,5% (cùng kỳ tăng 8,8%).
Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển. Lượng khách quốc tế đến nước ta 6 tháng đầu năm ước đạt hơn 4,7 triệu lượt khách, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ giảm 11,3%).
Vận tải hành khách 6 tháng đầu năm đạt 1.805,2 triệu lượt khách, tăng 9,2% (cùng kỳ tăng 7,4%) và 84,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 7%). Vận tải hàng hóa 6 tháng đạt 617 triệu tấn, tăng 8% và 118,5 tỷ tấn.km, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu viễn thông 6 tháng đầu năm 2016 đạt 190,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2015. Tổng số thuê bao điện thoại đến cuối tháng 6/2016 đạt 127,1 triệu thuê bao, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2015. Số thuê bao internet băng rộng cố định đến thời điểm trên đạt 8,5 triệu thuê bao, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2015.
Thị trường bảo hiểm 6 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Tính đến thời điểm hiện nay, số doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường là 61 doanh nghiệp. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý II/2016 tăng 26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 16%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 35%.
2. Về lạm phát
Lạm phát 6 tháng đầu năm ở mức thấp, vẫn trong tầm kiểm soát và cơ bản ổn định, nhưng đang có nhiều yếu tố gây áp lực tăng giá như: giá xăng dầu, giá lương thực, thực phẩm và xu hướng tăng giá dầu thô và mặt bằng giá thế giới,…
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 tăng 2,35% so với tháng 12/2015. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 6 tăng 2,4% (cùng kỳ tăng 1%); bình quân 6 tháng tăng 1,72% (cùng kỳ tăng 0,86%). Lạm phát cơ bản11 bình quân 6 tháng đầu năm tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.
CPI trong 6 tháng đầu năm tăng chủ yếu do điều chỉnh giá một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu, như: xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục. Riêng việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế tăng 23,15%, học phí tăng 4,47% (so với mức giá cuối năm 2015) đã làm CPI tháng 6 tăng 1,08% và chiếm 46% tổng mức tăng giá.
Trong quản lý phí đường bộ: để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh vận tải, Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải rà soát, điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT,… theo hướng công khai, minh bạch, tính đúng, tính đủ về giá phí cho các dự án BOT, xây dựng các phương án giảm phí và lộ trình thực hiện. Dự kiến sẽ tạm dừng không tăng phí năm 2016 theo lộ trình đối với một số trạm thu phí các trạm thu phí khác yêu cầu rà soát đối với các phương tiện khác nhau, có thể điều chỉnh giảm mức phí từ 10 - 20%.
3. Về xuất nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt trên 82,24 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 9,2%), thấp hơn so với mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đề ra cho cả năm là 10%. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tăng thấp chủ yếu do giá xuất khẩu giảm 6,3%, bao gồm cả giảm giá dầu thô và giá xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến. Nếu loại trừ yếu tố giá, thì tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 10,1%, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm trước (tăng 13,4%), nhưng cao hơn so với mục tiêu đề ra cho năm 2016.
Về mặt hàng xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm 38,7%, chủ yếu do sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô, trong đó: giảm 23% sản lượng và 46,6% về kim ngạch, giá xuất khẩu giảm 30,6%. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 8,2% (cùng kỳ năm trước tăng 18%) chủ yếu do một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhóm này, như: dệt may, da giày, linh kiện điện tử có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2015. Mặc dù chỉ số giá xuất khẩu nhóm hàng nông sản, thực phẩm giảm (-) 7,22%, nhưng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng cao so cùng kỳ, tăng 6% (cùng kỳ năm trước giảm hơn 7%) nhờ xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực tiếp tục phục hồi, như: rau quả (tăng 41,4%), cà phê (tăng 17,9%), hạt điều (tăng 11,6%), hạt tiêu (tăng 10%) và thuỷ sản (tăng 4,4%)12.
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu: Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm tỷ trọng 21,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng 12,8% (cùng kỳ năm trước chiếm tỷ trọng 20,2% và tăng 18,6%); tiếp đến là EU, chiếm 19,8% và tăng 9,8% (cùng kỳ năm trước chiếm 19% và tăng 11,6%); Trung Quốc chiếm 11,1% và tăng 14,3% (cùng kỳ năm trước chiếm 9,9% và tăng 3,6%). Một số thị trường xuất khẩu trong khu vực giảm, như: ASEAN chiếm 9,9% và giảm 12,6% (cùng kỳ năm trước chiếm 12% và giảm 1%); Nhật Bản chiếm 8% và giảm 1,3% (cùng kỳ năm trước chiếm 8,6% và giảm 6,7%).
Tổng kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 80,7 tỷ USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 17,1%). Kim ngạch nhập khẩu giảm do giá giảm 7,8%13 và do lượng nhập khẩu tăng chậm lại. Trong 6 tháng đầu năm, lượng nhập khẩu tăng 7,8% (cùng kỳ tăng 22,1%); đặc biệt là nhập khẩu máy móc thiết bị đầu tư cho sản xuất không có cải thiện trong 6 tháng qua. Điều đó, đòi hỏi cần được phân tích đánh giá kỹ lưỡng để có biện pháp xử lý.
Về mặt hàng nhập khẩu: Kim ngạch nhóm hàng cần nhập khẩu (chiếm tỷ trọng trên 87,5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước) ước giảm khoảng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu chiếm tỷ trọng khoảng 8,6% và tăng khoảng 12% chủ yếu do tăng nhập khẩu nhóm hàng rau quả, bánh kẹo và các sản phẩm ngũ cốc, linh kiện phụ tùng ô tô và ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ.
Về thị trường nhập khẩu: trong 6 tháng đầu năm, nhập khẩu từ châu Á chiếm khoảng 81% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước (cùng kỳ năm trước chiếm khoảng 82%). Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm tỷ trọng 28,8% và giảm 2,9% so cùng kỳ năm trước (cùng kỳ chiếm gần 30% và tăng 23,9%); Hàn Quốc chiếm 18,4%, tăng 7,9% (cùng kỳ năm trước chiếm 17%, tăng 31,2%); ASEAN chiếm 14,3%, giảm 3,4% (cùng kỳ năm trước chiếm 14,7%, tăng 6%); Nhật Bản chiếm 8,4%, giảm 6,3% (cùng kỳ năm trước chiếm gần 9%, tăng 27,7%);...
Về cân đối xuất - nhập khẩu: 6 tháng đầu năm xuất siêu gần 1,54 tỷ USD, bằng 1,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó: khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) xuất siêu 10,14 tỷ USD (kể cả dầu thô xuất siêu khoảng 11,27 tỷ USD); khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu khoảng 9,73 tỷ USD.
4. Về tiền tệ, tín dụng, thị trường cổ phiếu và trái phiếu
a) Các hoạt động về tiền tệ, tín dụng, lãi suất diễn biến phù hợp với mục tiêu, định hướng và chỉ đạo điều hành. Dư nợ tín dụng tăng trưởng hợp lý và bảo đảm chất lượng tín dụng, tập trung cho vay sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng bất động sản, nhưng vẫn bảo đảm tín dụng cho nhà ở xã hội. Tính đến ngày 20 tháng 6 năm 2016, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 8,07% so với tháng 12/2015 (cùng kỳ năm trước tăng 5,09%); tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước tăng 8,23% (cùng kỳ năm trước tăng 4,58%); tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 6,2% tương đương với tốc độ tăng cùng kỳ năm trước (6,28%). Thanh khoản của các ngân hàng thương mại khá dồi dào; lãi suất cơ bản ổn định. Một số ngân hàng thương mại thực hiện giảm lãi suất sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn nguồn vốn tín dụng.
Thị trường ngoại tệ và tỷ giá ngoại tệ có biến động nhẹ do tác động của sự kiện trưng cầu dân ý Anh rời khỏi EU (“Brexit”), nhưng vẫn trong biên độ cho phép và đến nay đã dần ổn định trở lại.
b) Thị trường cổ phiếu, trái phiếu diễn biến tích cực.
- Sau phiên giao dịch thứ 6 (ngày 24 tháng 6) với sự kiện “Brexit”, VN - Index đã phục hồi nhanh chóng, từ mức thấp nhất dưới 600 điểm ngày “Brexit” xảy ra đã có thời điểm lên trên 660 điểm, đạt mức cao nhất trong 8 năm qua. Chỉ số VN-Index dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới do tín dụng cho kênh bất động sản và cho vay sản xuất kinh doanh có phần chậm lại, và đặc biệt là do tâm lý lạc quan của các nhà đầu tư, tin tưởng vào sự chỉ đạo kiên quyết của Chính phủ với các giải pháp, chính sách hỗ trợ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và kỳ vọng kết quả kinh doanh khả quan của các công ty niêm yết. Ngoài ra, giá dầu thô hưởng lợi từ quá trình tái cân bằng thị trường dầu mỏ thế giới trong 6 tháng cuối năm cũng là yếu tố có lợi cho thị trường chứng khoán.
- Việc phát hành trái phiếu Chính phủ diễn biến thuận lợi và đạt nhiều kết quả. Từ đầu năm đến 22 tháng 6 năm 2016 đã đạt 83% kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ; giảm áp lực trong huy động trái phiếu Chính phủ trong 6 tháng cuối năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các kênh huy động vốn cho sản xuất kinh doanh.
5. Về thu chi ngân sách nhà nước
Tổng thu NSNN 6 tháng đầu năm ước đạt 476,8 nghìn tỷ đồng, bằng 47% dự toán (cùng kỳ năm trước là 49%), tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2015; trong đó: thu nội địa bằng 48,8% dự toán, tăng 13,8%, đạt thấp cả về tiến độ thực hiện dự toán và mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ bằng 51,4% dự toán, tăng 15,4%); thu từ dầu thô bằng 37,2% dự toán, giảm 44,8% (cùng kỳ năm 2015 bằng 38,6% dự toán, giảm 35,5%)14; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 41,9% dự toán, giảm 2,2% (cùng kỳ năm 2015 bằng 46% dự toán, tăng 0,1%). Thu NSNN đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước trong tất cả các nguồn thu, đáng lưu ý là tiến độ thu ngân sách trung ương đạt rất thấp (chỉ khoảng 42% dự toán, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước đạt 46,3%), trong khi đó thu ngân sách địa phương tăng khá so dự toán (đạt 56%) và tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Điều này sẽ gây khó khăn bị động cho việc cân đối ngân sách trung ương.
Tổng chi NSNN trong 6 tháng đầu năm ước đạt 562,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ tăng 8,2%); trong đó: chi trả nợ và viện trợ tăng 5,2% (cùng kỳ tăng 18,9%); chi thường xuyên (bao gồm chi cải cách tiền lương) tăng 5% (cùng kỳ tăng 5,2%).
6. Về đầu tư phát triển
Huy động vốn đầu tư phát triển tăng cao hơn cùng kỳ năm trước, là điều kiện quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng GDP cao hơn trong 6 tháng cuối năm 2016 và các năm sau. Tổng vốn đầu tư xã hội 6 tháng đầu năm đạt khoảng 618,2 nghìn tỷ đồng, bằng 32,9% GDP và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ đạt 31,1% GDP, tăng 9,4%), trong đó:
Vốn đầu tư khu vực nhà nước đạt 229,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng đầu tư nguồn NSNN và trái phiếu Chính phủ giải ngân còn chậm so với yêu cầu. Trong 6 tháng đầu năm vốn NSNN giải ngân chỉ đạt 32,2% kế hoạch (cùng kỳ đạt 44,4% kế hoạch), vốn trái phiếu Chính phủ đạt 23% kế hoạch (cùng kỳ đạt 34%).
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tổng vốn FDI thực hiện ước đạt 7,25 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 9,6%). Tổng vốn FDI đăng ký ước đạt 11,28 tỷ USD, gấp 2 lần cùng kỳ năm trước (cùng kỳ giảm 19,8%); trong đó: vốn đăng ký cấp mới đạt 7,5 tỷ USD, gấp gần 2 lần cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,79 tỷ USD, tăng 2,3 lần cùng kỳ năm trước. Có 1.145 dự án cấp mới, tăng 51,3% so với cùng kỳ năm trước; 535 lượt dự án tăng vốn, gấp gần 2 lần cùng kỳ năm trước.
Thu hút vốn nước ngoài (FDI) tăng cao so với cùng kỳ cả về số vốn đăng ký và thực hiện chủ yếu do tác động tích cực của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã tạo niềm tin thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Vốn ODA và vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài giải ngân trong 6 tháng đầu năm ước đạt 1.850 triệu USD, giảm khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 đạt 1.917 triệu USD); trong đó: vốn vay ước đạt 1.750 triệu USD, viện trợ không hoàn lại ước đạt 100 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu do: (i) Vướng mắc về các thủ tục pháp lý (ii) Một số dự án chậm tiến độ do điều chỉnh, thay đổi trong quá trình thực hiện dự án; và (iii) là những khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng,...
7. Môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
a) Về môi trường đầu tư kinh doanh
Trong 6 tháng đầu năm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đã đề ra tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014, Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 19-2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; đặc biệt là tập trung vào các giải pháp khuyến khích khởi nghiệp, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo động lực mới cho phát triển.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, Chính phủ đã chỉ đạo chuẩn bị và ban hành đúng thời hạn và có chất lượng 50 nghị định về điều kiện kinh doanh (đúng thời hạn trước ngày 01 tháng 7 năm 2016), qua đó loại bỏ nhiều điều kiện kinh doanh, giấy phép con bất hợp lý, tạo bước đột phá lớn trong xây dựng và ban hành hoàn thiện thể các văn bản pháp luật.
Với sự chỉ đạo kiên quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, đã tạo nhiều chuyển biến trong môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng,..., bước đầu đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc triển khai công tác này ở nhiều bộ, ngành trung ương, địa phương cũng còn chậm và còn nhiều rào cản, hạn chế. Trong thời gian tới các nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh cần tiếp tục phải được thực hiện kiên quyết hơn, để tạo sự lan tỏa, đưa các Nghị quyết và các chỉ đạo của Chính phủ xuống đến các cấp, các ngành và các đơn vị cơ sở.
b) Về phát triển doanh nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm, có 54.501 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 427.762 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 20% (cùng kỳ tăng 21,7%), số vốn đăng ký tăng 51,5% (cùng kỳ tăng 22,3%). Vốn đăng ký bình quân 01 doanh nghiệp đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ. Có 14.902 doanh nghiệp trước đây gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, nay đã trở lại hoạt động, tăng 75,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 2,2%). Có 12.203 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước15. Có 18.916 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước16. Có 5.507 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ giảm 0,9%)17. Tuy nhiên, riêng trong Quý II/2016, số doanh nghiệp giải thể giảm 11,3% so với Quý I/2016.
c) Về cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước
Tính từ đầu năm đến ngày 28 tháng 6 năm 2016, đã cổ phần hóa 38 doanh nghiệp nhà nước và 02 đơn vị sự nghiệp công lập, bằng 71% so với cùng kỳ năm 2015. Ngoài ra, đã thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hóa của 63 doanh nghiệp, đang xác định giá trị của 77 doanh nghiệp, đã công bố giá trị của 28 doanh nghiệp.
Trong 6 tháng đầu năm, Tập đoàn Viễn thông quân đội, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Hà Nội thực hiện bán phần vốn Nhà nước không cần nắm giữ tại doanh nghiệp khác, thu về 2.710,4 tỷ đồng, gấp trên 3 lần giá trị sổ sách là 871,6 tỷ đồng.
8. Về tiếp tục triển khai thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế
Tiếp tục tập trung thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020 theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào 3 trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu các ngân hàng thương mại.
Chính phủ đang tập trung xây dựng kế hoạch tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020, nhất là các lĩnh vực trọng tâm, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực hiện tái cơ cấu mạnh mẽ và hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng tổ chức lại sản xuất, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp tạo ra các vùng sản xuất lớn, các chuỗi cung ứng sản phẩm an toàn từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ nông sản thực phẩm. Tập trung phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, gắn với các lợi thế về phát triển nguồn nguyên liệu nông sản, thuỷ sản. Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế, có giá trị gia tăng cao như: Du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng,... Tổ chức tốt thị trường trong nước và thương mại biên giới. Thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phát huy mọi tiềm năng từ biển.
9. Về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, lao động việc làm, y tế, văn hóa, thể dục thể thao và thông tin, truyền thông
a) Về giáo dục đào tạo: tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, đã tổ chức thành công Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2016, gần 99% thí sinh đăng ký đã tham dự kỳ thi, đây là tỷ lệ dự thi khá cao so với năm trước. Tiếp tục triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học; rà soát sắp xếp hệ thống cơ sở dạy nghề theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa; đầu tư, nâng cấp hệ thống mạng lưới các cơ sở giáo dục, các cấp học, bậc học;...
b) Về khoa học công nghệ: tiếp tục triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách và nghiên cứu khoa học công nghệ. Hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ, trình Thủ tướng Chính phủ cuối Quý I năm 2016. Nghiên cứu sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và công nghệ; đã trình Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016 - 2020, Chiến lược phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, cơ chế đặc thù cho khu công nghệ cao Hòa Lạc. Hoàn thiện khung các Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.
c) Về lao động, việc làm: Trong 6 tháng đầu năm, ước tạo việc làm cho khoảng 762 nghìn người, đạt 47,6% kế hoạch và bằng 96,7% so với cùng kỳ năm 2015; trong đó, xuất khẩu lao động gần 54 nghìn người, bằng 96,3% so với cùng kỳ năm 2015. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,27% (Quý I là 2,25%; Quý II là 2,3%), trong đó: khu vực thành thị là 3,18%; khu vực nông thôn là 1,81%. Tiếp tục triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; thực hiện tăng lương tối thiểu vùng của người lao động từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 và tăng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang từ ngày 01 tháng 5 theo đúng lộ trình18, góp phần giảm bớt khó khăn, cải thiện cuộc sống cho người lao động.
d) Chăm sóc sức khỏe nhân dân
Việc củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, trong đó đặc biệt là việc nâng cấp, xây mới các công trình y tế được quan tâm thực hiện; áp dụng thành công và phổ biến các phương pháp điều trị hiện đại; đổi mới công tác quản lý tài chính y tế đã góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Công tác y tế dự phòng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm được tăng cường. Tỷ lệ mắc và tử vong của hầu hết các bệnh truyền nhiễm giảm so với cùng kỳ năm 201519.
Trước diễn biến phức tạp của tình hình an toàn thực phẩm, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị với các Bộ, ngành trung ương và địa phương để bàn thảo, tìm hướng giải quyết vấn đề nhân dân, xã hội đặc biệt quan tâm. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể, nhất là trách nhiệm của người sản xuất, trách nhiệm của người đứng đầu các địa phương… Đặc biệt là trách nhiệm giám sát của các cấp, ngành, cơ quan dân cử để tạo ra sự chuyển biến đồng bộ trong bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phải thay đổi cách tiếp cận trong quản lý an toàn thực phẩm, nêu rõ những bất cập, đề ra những giải pháp cụ thể, lựa chọn các loại thực phẩm cụ thể nhất là thực phẩm tươi sống - gắn bó thường nhật với đời sống người dân để tập trung giám sát..., tạo sự chuyển biến rõ nét về quản lý an toàn thực phẩm. Các đợt kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm được tăng cường; phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi,... góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Việc quản lý giá thuốc được chú trọng: để đảm bảo quyền của người dân được sử dụng thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý và an toàn20, phù hợp với cơ cấu bệnh tật và từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội, đảm bảo quyền lợi của người bệnh, Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế và Bảo hiểm y tế tổ chức đấu thầu thuốc tập trung. Việc đấu thầu thuốc tập trung đã khắc phục được nhiều bất hợp lý trong kế hoạch đấu thầu của các cơ sở y tế, như: thuốc có hàm lượng không thông dụng có giá cao bất hợp lý giá thuốc chênh lệch bất hợp lý giữa các nhóm thuốc, giữa các loại hàm lượng; điều chỉnh, thống nhất cách ghi các thông tin của thuốc: đường dùng, dạng bào chế, đơn vị tính để đảm bảo tính cạnh tranh trong đấu thầu; thuốc biệt dược gốc. Đặc biệt, điều chỉnh một số bất hợp lý đối với các loại thuốc có chi phí lớn…
đ) Về văn hóa, thể dục thể thao
Các hoạt động văn hoá nghệ thuật phục vụ các sự kiện chính trị, chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước được tổ chức rộng khắp với nội dung phong phú. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội được tăng cường, bảo đảm vui tươi, lành mạnh. Trong những tháng đầu năm, số lượng các lễ hội, liên hoan (festival) được tổ chức ít hơn so với cùng kỳ các năm trước. Các hoạt động trong khuôn khổ festival đi vào chiều sâu, có chất lượng, kết hợp quảng bá, phát triển du lịch. Hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy di sản văn hóa được quan tâm. Các di sản văn hoá phi vật thể được sưu tầm, bảo vệ và phát huy. Hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được triển khai tích cực.
Hoạt động thể dục, thể thao được duy trì và phát triển, đặc biệt là thể thao thành tích cao; nhiều vận động viên đạt kết quả cao trong thi đấu và đạt chuẩn tham gia tầm châu lục và thế giới. Chuẩn bị tổ chức Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thứ IX, Đại hội Thể thao Bãi biển Châu Á lần thứ 5 năm 2016 tại thành phố Đà Nẵng. Tích cực thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Các môn thể thao quần chúng và trò chơi dân gian được tổ chức trên mọi miền của đất nước, tạo sân chơi lành mạnh, khí thế vui tươi, sôi nổi, đoàn kết trong nhân dân.
e) Về thông tin, truyền thông
Công tác thông tin báo chí tiếp tục được đẩy mạnh; mạng lưới được mở rộng, đảm bảo thông tin kịp thời, phản ánh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Đại hội Đảng bộ các cấp; bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển đảo; thông tin kịp thời các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ và những nỗ lực của các ngành, các cấp trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội;...
10. Về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
An sinh xã hội và phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kết quả. Tiếp tục triển khai đồng bộ các chế độ, chính sách ưu đãi đối với gia đình chính sách, người có công (giai đoạn I đã bố trí đủ 2.500 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ cho 80.000 hộ của 63 địa phương theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg21); các chính sách giảm nghèo, như: hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho vay hộ nghèo, cho vay xuất khẩu lao động, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, phát triển sản xuất, hỗ trợ tiền điện, cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn, giảm học phí cho con em hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số,... Nhiều biện pháp hỗ trợ, giải quyết một phần khó khăn cho người dân tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn được quan tâm thực hiện, như: cấp gạo từ nguồn dự trữ nhà nước, nước sinh hoạt và một số nhu yếu phẩm cần thiết khác.
Ngay sau khi xảy ra các sự cố về thiên tai, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo, trực tiếp đi thị sát tình hình để chia sẻ khó khăn với người dân và có những giải pháp kịp thời khắc phục hậu quả và sớm ổn định cuộc sống. Cụ thể: Chính phủ đã xuất cứu trợ 80.000 tấn gạo để hỗ trợ các địa phương cứu đói cho người dân bị ảnh hưởng; xuất cấp vật tư, thiết bị cứu sinh, y tế, muối ăn để hỗ trợ người dân,…gần 180 tỷ đồng.
Riêng đối với 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng do hải sản chết hàng loạt bất thường, ngày 09 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-TTg và Quyết định số 1138/QĐ-TTg hỗ trợ khẩn cấp cho người dân, trong đó: tập trung hỗ trợ hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng do hiện tượng hải sản chết bất thường. Đồng thời, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và tổ chức thực hiện phương án tổng thể để khôi phục sản xuất và ổn định đời sống người dân tại vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
11. Về bảo vệ tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Trước thực trạng diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và các vấn đề về môi trường, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách có liên quan về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, Luật khí tượng thủy văn và các luật khác đã được Quốc hội thông qua được tích cực triển khai.
Xử lý kiên quyết các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tập trung rà soát và tổ chức kiểm tra thực tế tại các khu công nghiệp đang hoạt động nhưng chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung để có các giải pháp kiểm soát ô nhiễm phù hợp; thực hiện tốt công tác quản lý chất thải và cải thiện môi trường, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng.
Đối với sự cố môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có các chỉ đạo quyết liệt. Yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương khẩn trương và thận trọng trong việc tìm ra nguyên nhân và đối tượng gây ô nhiễm, bảo đảm đầy đủ căn cứ khoa học và pháp lý, các biện pháp được xử lý khách quan, có các giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn khắc phục và hỗ trợ phục hồi sản xuất, nuôi trồng và môi trường đánh bắt hải sản của người dân, tạo việc làm và ổn định đời sống nhân dân ở các vùng bị ảnh hưởng, đã nhận được sự ủng hộ và đồng tình của dư luận.
Các địa phương và các ngành tập trung xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động tăng trưởng xanh. Huy động nguồn lực thực hiện các mục tiêu trọng tâm về tăng trưởng xanh được quan tâm thực hiện. Công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực tài nguyên và môi trường được tăng cường, trong đó tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: đất đai, môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước22. Trong 6 tháng đầu năm, đã phát hiện 7.079 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2.501 vụ với tổng số tiền phạt hơn 391 tỷ đồng.
12. Về xây dựng nông thôn mới
Đến hết tháng 6, cả nước đã có 1.965 xã (22%) đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 5% so với cuối năm 2015). Bình quân cả nước đạt 13 tiêu chí/xã còn 326 xã đạt dưới 5 tiêu chí (3,65%). Đã có 23 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (tăng thêm 8 đơn vị so với cuối năm 2015) và 10 đơn vị cấp huyện đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
13. Về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Trong 6 tháng đầu năm 2016, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác cải cách hành chính, nhất là việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh, doanh nghiệp và thủ tục hành chính. Ngay từ đầu năm, trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế của công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04 tháng 02 năm 2016 phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020, trong đó, xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn, hướng tới hoàn thành mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp sáng tạo. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện. Hiệu quả thực thi pháp luật được nâng lên. Các cấp, các ngành tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 30c/NQ-CP, Quyết định số 225/QĐ-TTg nhằm đẩy mạnh thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục gia nhập của doanh nghiệp và thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi, các thủ tục thuế, hải quan. Trong 6 tháng đầu năm, đã có thêm một số bộ hoàn thành và thực hiện phương án đơn giản hóa đối với 46 thủ tục hành chính, nâng tổng số thủ tục hành chính được đơn giản hóa theo quy định tại 25 nghị quyết chuyên đề của Chính phủ lên 4.527/4.723 thủ tục hành chính (đạt 95,85%). Công tác kiểm soát các quy định thủ tục hành chính trong các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng được các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tiếp tục được các địa phương quán triệt thực hiện nghiêm túc, giúp tăng cường tính công khai, minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính, từng bước nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính, các tiêu cực, nhũng nhiễu trong quá trình phục vụ người dân, doanh nghiệp đã được nhiều nơi thực hiện tốt, mang lại hiệu quả thiết thực.
Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cán bộ lãnh đạo cơ quan nhà nước. Tăng cường kỷ cương hành chính, chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo các quy định tại Nghị quyết số 39/NQ-TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc tổ chức triển khai Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức sau khi được phê duyệt, coi đó là một trong những cơ sở quan trọng để thực hiện tinh giản biên chế. Trong 6 tháng đầu năm 2016, có 17 bộ, ngành và 59 địa phương đề nghị tinh giản biên chế, với số đối tượng tinh giản là 7.626 người23, nâng tổng số biên chế đề nghị tinh giản trong 02 năm 2015, 2016 lên 11.325 người24.
Công tác phòng, chống tham nhũng được các bộ, ngành ở Trung ương và địa phương tập trung chỉ đạo và đã có những chuyển biến tích cực. Việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng được quan tâm chỉ đạo; các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai thực hiện đồng bộ; công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng được tăng cường.
Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chú trọng nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài… Thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (tập trung ở khu vực xã, phường, thị trấn).
14. Về quốc phòng, an ninh và bảo đảm trật tự xã hội
Tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, chủ động ngăn chặn mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Đã xử lý kịp thời các tình huống xảy ra trong giải quyết tranh chấp biển Đông và những vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến lợi ích quốc gia. Thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh, nhất là trên các địa bàn trọng điểm. Chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Bên cạnh các kết quả tích cực này, thì trong 6 tháng đầu năm vẫn còn tồn tại những sự cố máy bay rơi cũng cần phải khắc phục trong thời gian tới.
Giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước, nhất là các hoạt động phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Đại hội Đảng bộ các cấp. Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, với tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu đạt 99,35%.
Chủ động nắm chắc tình hình, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, khủng bố; không để hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập trong nội địa.
Các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông được tăng cường và đạt nhiều kết quả. 6 tháng đầu năm, tai nạn giao thông giảm trên cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ: số vụ tai nạn giao thông giảm 8,52%, số người chết giảm 2,59%, số người bị thương giảm 11,95%. Tuy nhiên, đáng chú ý là số vụ tai nạn nghiêm trọng gây thương vong lớn về người và thiệt hại về tài sản, xảy ra liên tục trong thời gian qua, gây bất an cho người tham gia giao thông. Tình trạng đuối nước vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi trên cả nước, chủ yếu là học sinh và trẻ em, gần đây có cả thanh niên tình nguyện, đã gây tâm lý bất an trong xã hội. Đã xảy ra 1.826 vụ cháy, nổ làm 46 người chết và 191 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 860 tỷ đồng.
15. Về công tác đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế
Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực. Quan hệ với các nước láng giềng, khu vực tiếp tục đi vào chiều sâu, thực chất, tạo lợi ích đan xen, gắn kết giữa ta với các nước. Quan hệ với các nước thành viên ASEAN tiếp tục được thúc đẩy. Quan hệ với các nước lớn, các đối tác quan trọng như Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU,… tiếp tục được duy trì và phát triển. Công tác ngoại giao đa phương được triển khai chủ động, tích cực, hiệu quả, thể hiện vai trò thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần khẳng định và nâng cao vị thế của Việt Nam.
Về công tác biên giới lãnh thổ, trước việc Trung Quốc đẩy mạnh quân sự hóa và dân sự hóa các cấu trúc chiếm đóng, củng cố yêu sách chủ quyền, tuyên truyền và lôi kéo các nước trong bối cảnh Tòa Trọng tài mới ra phán quyết về vụ kiện Phi - líp - pin, Việt Nam đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp hợp tác, đấu tranh trên cả mặt ngoại giao và pháp lý với Trung Quốc, các nước liên quan và tại nhiều diễn đàn đa phương. Lập trường chính nghĩa của ta trong vấn đề Biển Đông ngày càng được cộng đồng quốc tế ủng hộ; nhiều nước và tổ chức quốc tế đã lên tiếng bày tỏ quan ngại trước các hoạt động lấn lướt của Trung Quốc, kêu gọi các bên liên quan coi trọng an ninh, an toàn hàng hải, hàng không; tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Công tác ngoại giao kinh tế tiếp tục được đẩy mạnh, tham gia tích cực các diễn đàn kinh tế khu vực và quốc tế. Trong 6 đầu năm, tích cực vận động phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện Việt Nam - EU (PCA)25 và FTA Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu26; tham gia ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và hoàn tất các thủ tục trong nước, rà soát các văn bản pháp luật cho phù hợp với cam kết của ta trong TPP, dự kiến trình Quốc hội phê chuẩn tại Kỳ họp tháng 7 này; rà soát các vấn đề pháp lý để có thể ký kết FTA Việt Nam - EU trong thời gian sớm nhất; tiếp tục đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA Việt Nam - Khối Thương mại tự do Châu Âu (EFTA).
Đánh giá chung tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm
Trong 6 tháng đầu năm, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, phát sinh mới, nhất là những khó khăn do thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường biển gây cá chết hàng loạt, giá dầu thô có nhiều biến động khó lường,… đồng thời, các cấp, các ngành phải dành nhiều thời gian để củng cố và hoàn thiện bộ máy, bố trí và điều động thay đổi nhiều cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các bộ, ngành trung ương và địa phương nhiệm kỳ mới,… đã ảnh hưởng nhất định đến việc chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, cũng như của từng ngành và địa phương. Nhưng dưới sự lãnh đạo tập trung của trung ương Đảng, sự giám sát có hiệu quả của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, sự chỉ đạo kiên quyết của Chính phủ, kịp thời thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những vấn đề nổi cộm, bức xúc của nền kinh tế, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân trong việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, của Chính phủ, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến và đạt được những kết quả tích cực. Nền kinh tế vẫn đang trên đà phục hồi và phát triển, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 5,52% (nếu không có các sự cố bất khả kháng về thiên tai ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, giảm sút về khai thác và xuất khẩu dầu thô, tăng trưởng GDP đạt tương đương cùng kỳ năm 2015), trong đó tốc độ tăng trưởng Quý II cao hơn Quý I. Khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện. Số doanh nghiệp thành lập mới cùng với số vốn đăng ký tăng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng cao. Lạm phát được kiểm soát; lãi suất cho vay có xu hướng giảm; tín dụng đối với nền kinh tế tăng với chất lượng được cải thiện; tỷ giá ổn định; dự trữ ngoại hối tăng. Giáo dục đào tạo tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; tổ chức tốt kỳ thi trung học phổ thông quốc gia. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm chỉ đạo và thực hiện tốt. Công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh. Nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật phục vụ các sự kiện chính trị của đất nước được tổ chức rộng khắp với nhiều nội dung phong phú. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự xã hội được bảo đảm. Bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Công tác phòng chống tham nhũng, tội phạm được quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Công tác trật tự an toàn giao thông tiếp tục được tăng cường. Công tác đối ngoại đạt nhiều kết quả quan trọng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng GDP không đạt kế hoạch; sản xuất ngành nông nghiệp giảm sút mạnh. Tiến độ thu NSNN đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu không đạt kế hoạch và tốc độ tăng thấp hơn 6 tháng đầu năm trước. Nhập khẩu thiết bị máy móc có xu hướng giảm sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Đặc biệt chúng ta chưa phát huy được tiềm năng xuất khẩu khi đã hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, lợi thế khi tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN. Nhiều yếu tố cả trên thế giới và trong nước đang làm tăng chi phí đầu vào và gây áp lực mặt bằng giá, lạm phát sẽ tác động đến lãi suất, tỷ giá và việc ổn định kinh tế vĩ mô nói chung. Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém. Tình hình thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp (hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long),... đã gây ra những hậu quả rất lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Sự cố môi trường biển miền Trung đã gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với sản xuất và đời sống của người dân trong vùng, mà còn hủy hoại môi trường sinh thái biển, phải mất thời gian dài mới tái tạo lại được. Đây là vấn đề nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định các điều kiện bảo vệ môi trường khi cấp phép đầu tư và tăng cường công tác giám sát, thanh kiểm tra ô nhiễm môi trường, nhất là các cơ sở có nhiều khả năng ô nhiễm. Xử lý vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được triệt đề. Tai nạn giao thông tuy giảm so với cùng kỳ năm trước, nhưng các vụ tai nạn nghiêm trọng có xu hướng tăng. Đời sống nhân dân vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng bị thiên tai còn rất nhiều khó khăn.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên, ngoài các nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nêu trên, năng lực của bộ máy quản lý nhà nước các cấp và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, thì nguyên nhân rất quan trọng là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào vốn, tài nguyên, sản xuất còn manh mún, chưa gắn được với mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu,… đã bộc lộ nhiều bất cập, cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc để có các giải pháp toàn diện và có hệ thống, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
II. DỰ BÁO TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC THỜI GIAN TỚI
1. Dự báo tình hình thế giới
Kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng chậm và còn nhiều rủi ro, thách thức. Các tổ chức tài chính quốc tế đã liên tục hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 201627. Đặc biệt là sự kiện trưng cầu dân ý nước Anh rời khỏi Liên minh Châu Âu (EU) (“Brexit”), được dự báo sẽ tác động xấu đến thị trường tài chính, thương mại, đầu tư và đà phục hồi kinh tế của EU và thế giới. Sự sụt giá mạnh của đồng Bảng Anh, giảm giá của đồng tiền chung Châu Âu và đồng nhân dân tệ Trung Quốc, sự lên giá của đồng đô la Mỹ và Yên Nhật sẽ tác động đến thương mại thế giới và xuất nhập khẩu của nước ta.
Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 được dự báo kém lạc quan chủ yếu là do: (i) Các nền kinh tế phát triển phục hồi thiếu vững chắc28, nhất là tác động xấu của sự kiện “Brexit” đến thị trường chứng khoán và tài chính thế giới cùng những hệ lụy khó lường tiếp theo, nếu hiệu ứng “domino” tiếp tục xảy ra đối với các nước khác trong khối; (ii) Nhiều nền kinh tế mới nổi đang có xu hướng tăng chậm lại29, nhất là các nước phụ thuộc lớn và xuất khẩu dầu mỏ. Sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc30, nền kinh tế đứng thứ hai thế giới cũng như các nền kinh tế mới nổi khác đã làm giảm nhu cầu nhập khẩu, ảnh hưởng đến tăng trưởng thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế toàn cầu; (iii) Giá hàng hóa, mặc dù có cải thiện trong thời gian gần đây, nhưng vẫn ở mức thấp; thương mại toàn cầu kém sôi động; dòng vốn luân chuyển đang giảm; (iv) Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị, chiến tranh cục bộ, khủng bố ở một số khu vực,... cũng sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế thế giới. Hội nghị các nước G-7 tại Nhật Bản đã cảnh báo kinh tế thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng suy thoái xấu hơn cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đã khuyến nghị Chính phủ các nước phải tăng cường các giải pháp kích thích kinh tế, nhất là các chính sách kích cầu để thúc đẩy kinh tế phát triển. Liên hợp quốc cũng khuyến nghị các nước cần đẩy mạnh kích thích bằng chính sách tài khóa kết hợp với chính sách tiền tệ nới lỏng; để thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế31.
Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trưởng chậm chủ yếu do: (i) Sự suy giảm của kinh tế Trung Quốc và một số nền kinh tế mới nổi; (ii) Nhiều nước tiếp tục tăng cường áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại32. Giá cả hàng hóa thế giới thời gian gần đây đang có xu hướng tăng trở lại (mặc dù vẫn ở mức thấp hơn cùng kỳ năm trước33), trong đó, đáng chú ý là giá dầu thô đã tăng tới 80% so với mức thấp nhất (28 USD/thùng) vào giữa tháng 01/201634; giá hàng hóa nông sản thế giới đang có xu hướng tăng lên35,... là những yếu tố tác động đến chi phí đầu vào và mặt bằng giá cả, lạm phát của nước ta trong thời gian tới. Gần đây giá dầu thô có giảm xuống dưới 50 USD/thùng, chủ yếu do tác động tâm lý của sự kiện “Brexit” ở Anh.
Về tình hình khu vực, đáng chú ý là các diễn biến mới, thái độ và ứng xử của các bên sau khi có phán quyết của Tòa trọng tài về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; những tác động về môi trường và quản lý sử dụng nguồn nước sông Mê Công.
2. Dự báo tình hình kinh tế trong nước và những khó khăn, thách thức
a) Tăng trưởng của nền kinh tế khó đạt được mục tiêu đề ra 6,7%
Năm 2015, nền kinh tế trong giai đoạn phục hồi khá rõ nét, GDP tăng nhanh sau từng Quý và Quý IV tăng tới 7,01%. Sang năm 2016, tình hình kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, phát sinh nhiều yếu tố bất lợi không lường trước được, tăng trưởng GDP 6 tháng có dấu hiệu chững lại: Quý I năm 2016, GDP chỉ tăng 5,48%, thấp hơn 1,53 điểm phần trăm so với tốc độ tăng của Quý IV năm 2015; Quý II tăng cao hơn Quý trước nhưng cũng chỉ tăng 5,55%; tính chung 6 tháng GDP tăng 5,52%, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm 2015 là 6,47%. Sự giảm sút tốc độ tăng trưởng không chỉ trong nông nghiệp, là ngành bị thiệt hại nặng do thiên tai; mà cả trong công nghiệp, nhất là công nghiệp khai khoáng (giảm 2,2%), tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo được kỳ vọng sẽ phục hồi nhanh, cũng chỉ đạt mức tăng tương đương cùng kỳ năm 2015. Tăng trưởng kinh tế suy giảm sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về bội chi NSNN trên GDP sẽ cao hơn mức Quốc hội đề ra; nợ công và nợ Chính phủ dự báo đến cuối năm 2016 cũng có thể vượt trần cho phép.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã được Quốc hội đề ra là 6,7%, thì 6 tháng cuối năm tăng trưởng GDP phải đạt 7,6%, cao hơn trên 2 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm.
Tuy nhiên, theo kết quả 6 tháng đầu năm cho thấy những cải thiện trong tổng cầu và sức mua của thị trường trong nước, tổng đầu tư toàn xã hội, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao, sự phục hồi của công nghiệp chế biến và tăng trưởng cao của khu vực dịch vụ,... là những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn những tháng cuối năm. Việc ký kết và thực hiện các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới được kỳ vọng sẽ mang lại những đột phá về đầu tư kinh doanh, mở rộng thị trường xuất khẩu. Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đang được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Những yếu tố thuận lợi nêu trên sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Theo dự báo của ADB, Việt Nam có thể đạt tốc độ tăng GDP 6,7% trong năm nay. Ngân hàng Thế giới (6/2016) còn cho rằng Việt Nam và Philippines là 2 quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao, sẽ góp phần bù đắp đà tăng trưởng chậm lại của các nước trong khu vực.
Do đó, nếu tất cả các ngành, các cấp ngành phấn đấu nỗ lực và có sự đạo kiên quyết, sát sao, tập trung khắc phục các khó khăn trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, phấn đấu tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm khoảng 1,8% - 2%; đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo (nhóm này hiện nay đang có xu hướng tăng trưởng tốt: Quý I tăng 7,9%, Quý II tăng 10,1%, 6 tháng cuối năm cũng là chu kỳ tăng trưởng của nhóm hàng này, tập trung cho xuất khẩu vào các tháng cuối năm); thúc đẩy tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước, đồng thời tập trung đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng các ngành, lĩnh vực còn có nhiều tiềm năng, như: xây dựng (6 tháng đã đạt 8,8%, đạt mức cao nhất trong 6 năm qua); dịch vụ, du lịch,... thì vẫn có khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP đã được Quốc hội đề ra.
b) Lạm phát cả năm có thể vượt mục tiêu 5% đề ra
Lạm phát 6 tháng đầu năm được kiểm soát, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng cao. Nhiều yếu tố cả đầu vào và tổng cầu sẽ gây áp lực tăng giá trong thời gian tới. Cụ thể:
- Giá dầu thô thế giới đã xuống đáy và đang tăng trở lại, hiện đang dao động quanh mức 45 USD/thùng, thấp hơn cùng kỳ năm trước, nhưng tăng 70% so với mức giá thấp nhất hồi đầu năm. Dự báo giá dầu thô còn có nhiều biến động khó lường, có thể còn tăng cao hơn trong thời gian tới. Xu hướng tăng của mặt bằng giá thế giới và giá dầu thô sẽ tác động làm tăng giá hầu hết các vật tư, nguyên liệu. Đặc biệt, đối với nước ta đang phải nhập khẩu khoảng 85% nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị cho đầu tư, sản xuất kinh doanh, thì việc giá dầu thô tăng trở lại sẽ tác động đẩy chi phí, giá thành sản xuất tăng lên, gây áp lực tăng mặt bằng giá đầu ra.
- Việc điều chỉnh tăng giá các mặt hàng do nhà nước quản lý, như: giá dịch vụ y tế dự kiến tăng trong 4 đợt, học phí dự kiến tăng vào tháng 9/2016,... cũng sẽ tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng trong 6 tháng cuối năm.
- Hậu quả thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn sẽ ảnh hưởng cả đến vụ Hè thu, vụ mùa và đến nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, làm giảm sản lượng, gây áp lực tăng giá lương thực, thực phẩm.
c) Về xuất nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm chỉ tăng 5,9%, thấp nhất so mức tăng cùng kỳ các năm kể từ năm 2011 và thấp hơn nhiều so với mục tiêu cả năm đề ra là 10%; trong đó, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến chưa bằng một nửa so với tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước. Khó khăn lớn nhất của xuất khẩu nước ta là giá xuất khẩu giảm (dầu thô, cà phê, cao su, hạt tiêu,…) và khả năng cạnh tranh yếu kém.
Việc ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tạo ra những cơ hội, nhưng cũng gây ra những khó khăn, thách thức rất lớn; cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn không chỉ trên thị trường thế giới, mà ngay cả ở thị trường trong nước. Sự kiện Anh rời khỏi EU (“Brexit”) và sự giảm giá của đồng Bảng Anh, đồng Ơ rô và sự điều chỉnh giảm giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ tác động giảm khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của nước ta vào các thị trường này. Với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường EU năm 2015 khoảng 19%, riêng Vương Quốc Anh khoảng 2,9%, tương đương 4,6 tỷ USD, vào Trung Quốc khoảng trên 11%, tương đương trên 17 tỷ USD, thì những biến cố trên sẽ tác động làm giảm xuất khẩu của nước ta vào các thị trường này, chưa kể những tác động của “Brexit” dẫn đến phục hồi chậm, thậm chí suy thoái của khu vực này, tổng cầu giảm, thì còn tác động đến xuất khẩu của nước ta vào thị trường này lớn hơn nữa. Còn nếu hiệu ứng "domino" xảy ra với các vùng của nước Anh và cả khu vực EU, thì những tác động đến xuất khẩu nước ta còn lớn hơn. Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc để có giải pháp ứng phó chủ động, phù hợp.
d) Hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn
Môi trường đầu tư sản xuất kinh doanh đã được Chính phủ hết sức quan tâm chỉ đạo, nhưng vẫn còn có độ trễ trong việc triển khai các chính sách này. Việc tiếp cận các chính sách phát triển, các yếu tố đầu tư kinh doanh, như mặt bằng sản xuất, kinh doanh, vốn vay từ các tổ chức tín dụng, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa,... vẫn còn nhiều hạn chế. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 6 tháng đầu năm 2016 tăng 37,1%; số doanh nghiệp giải thể, phá sản tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẦN TẬP TRUNG CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN TRONG NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2016
Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và dự báo sắp tới, trong 6 tháng cuối năm Chính phủ sẽ tiếp tục ra sức khắc phục khó khăn, thách thức, phấn đấu đạt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, tăng trưởng kinh tế phải bảo đảm cả chất lượng và số lượng để tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Để thực hiện mục tiêu trên, trong thời gian tới cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, trong đó cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp về tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực trọng tâm, kết hợp chính sách tài chính, tiền tệ, với các chính sách kinh tế vĩ mô để vừa hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2016, vừa tạo chuyển biến cơ bản về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt phát triển nhanh nhưng bền vững hơn. Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là:
1. Thực hiện mạnh mẽ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đề ra
a) Để thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và khu vực doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong thời gian tới cần tập trung:
- Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014, Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 và Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28 tháng 4 năm 2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020. Kiên quyết xóa bỏ các giấy phép về điều kiện kinh doanh (giấy phép con) không cần thiết.
- Tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Triển khai xây dựng khung pháp lý về đăng ký và hoạt động của hộ kinh doanh, góp phần nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Quản lý, phát triển lành mạnh thị trường hàng hóa, dịch vụ trong nước. Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.
- Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước theo lộ trình kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mở rộng số lượng và lĩnh vực thí điểm cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công trên nguyên tắc bảo đảm tiếp tục cung cấp dịch vụ công với chất lượng tốt hơn. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng dịch vụ công.
b) Thực hiện quyết liệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020 theo Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào 3 trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; tái cơ cấu thị trường tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác; tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đồng thời, phải đẩy mạnh tái cơ cấu trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.
- Về nông nghiệp: Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tập trung nâng cao năng lực sản xuất, nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Tây Nguyên; chỉ đạo mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh tăng vụ; hỗ trợ khôi phục sản xuất; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất,... giảm chi phí đầu vào, tăng thêm giá trị mới và nâng cao khả năng cạnh tranh nông sản xuất khẩu.
- Về công nghiệp: Tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp phụ trợ. Tăng cường việc giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ được giao của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước. Tập trung đẩy mạnh tiến độ các dự án đầu tư lớn trong ngành công nghiệp. Trong điều kiện giá dầu thô thế giới thấp, cần có biện pháp thúc đẩy sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều nhiên liệu này để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Về dịch vụ: Tập trung tháo gỡ khó khăn, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế, có giá trị gia tăng cao như: du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng,.... Thực hiện các giải pháp phát triển thị trường nội địa, thúc đẩy tiêu dùng trong nước, xây dựng mạng lưới tiêu thụ và phân phối sản phẩm hợp lý, giảm bớt các khâu trung gian; tổ chức tốt thị trường trong nước và thương mại biên giới. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tăng cường thực hiện các giải pháp xúc tiến du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm an toàn, an ninh cho khách du lịch. Đơn giản hóa các thủ tục nhập cảnh,…
- Về phát triển kinh tế địa phương: Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng với chất lượng và hiệu quả cao, ngoài các giải pháp chính sách nêu trên, các cấp chính quyền địa phương đi đôi với việc huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phải tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính, trước hết là đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, khởi nghiệp; theo dõi sát tình hình để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xử lý nghiêm những trường hợp gây phiền hà, cửa quyền,… trong quan hệ xử lý các công việc của doanh nghiệp và của người dân.
c) Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường và cam kết hội nhập quốc tế sâu rộng. Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Huy động nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng.
d) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thực hiện các giải pháp thúc đẩy đổi mới, triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích mạnh mẽ mọi tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học công nghệ, sáng kiến nâng cao năng suất lao động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển; liên kết với doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới, sáng tạo. Tích cực triển khai cơ chế tự chủ về tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
- Tiếp tục thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề và giáo dục đại học. Có cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao ở nước ngoài tham gia giảng dạy và đào tạo ở trong nước. Đẩy mạnh đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao trong nước.
2. Tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát
a) Về kiểm soát lạm phát
Thời gian tới, nhiệm vụ kiểm soát lạm phát để ổn định kinh tế vĩ mô vẫn có vị trí rất quan trọng. Các cơ quan có trách nhiệm theo dõi sát sao diễn biến giá cả thị trường thế giới và trong nước. Trong đó lưu ý:
Các Bộ, ngành trung ương, địa phương phối hợp chặt chẽ, thực hiện có hiệu quả các giải pháp quản lý, điều hành giá các mặt hàng, dịch vụ thiết yếu; chú trọng công tác bảo đảm cung - cầu hàng hóa; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, tránh gây biến động giá do yếu tố tâm lý.
Các cơ quan liên quan chủ động xây dựng và thực hiện tốt phương án điều chỉnh giá dịch vụ công (như dịch vụ y tế, giáo dục,...) theo lộ trình và mức độ điều chỉnh phù hợp, không để tác động mạnh tới tình hình giá cả thị trường trong nước, gây áp lực gia tăng lạm phát.
Theo dõi sát diễn biến giá dầu thô thế giới; điều chỉnh kế hoạch khai thác dầu thô tiếp tục điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu; xây dựng các kịch bản điều hành giá xăng dầu phù hợp với diễn biến giá xăng dầu thế giới và tình hình kinh tế vĩ mô trong nước, góp phần thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, bình ổn thị trường.
Đánh giá lại tình hình sản xuất nông nghiệp, dự báo kết quả sản xuất vụ hè thu và vụ mùa sắp tới; theo dõi sát diễn biến thị trường lương thực, thực phẩm trong nước và thế giới, đề xuất các giải pháp điều hành phù hợp bảo đảm an ninh lương thực và cân đối xuất khẩu gạo, kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả lương thực, thực phẩm.
Tổng kết đánh giá 5 năm thực hiện việc thu phí BOT; rà soát tính đúng, tính đủ giá thành, chi phí đầu tư của các dự án BOT trên toàn quốc. Trước mắt chưa tăng phí BOT và giãn thời gian thu phí tối đa đối với các trạm thu phí BOT. Rà soát, điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT; đề xuất mức điều chỉnh hợp lý để giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016.
Quản lý chặt chẽ giá thuốc, tiếp tục triển khai thực hiện các quy định mới về đấu thầu thuốc để giảm giá mua thuốc của các cơ sở y tế công lập, từ đó giúp giảm chi phí tiền thuốc cho người bệnh. Tổ chức thực hiện đấu thầu tập trung quốc gia đối với thuốc dùng trong lĩnh vực bảo hiểm y tế theo quy định. Ban hành danh mục thuốc đấu thầu tập trung quốc gia do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tổ chức đấu thầu.
b) Về chính sách tiền tệ, tín dụng
Theo dõi sát diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ thế giới và trong nước, nghiên cứu, đánh giá tác động và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước. Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng không chủ quan với diễn biến của lạm phát. Theo dõi sát diễn biến thị trường, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, kế hoạch phát hành, giải ngân trái phiếu Chính phủ để chủ động, kịp thời trong điều hành chính sách tiền tệ. Chủ động triển khai các giải pháp cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu gắn với việc triển khai Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế.
Theo dõi sát diễn biến và tác động của “Brexit” đến thị trường tài chính, biến động tỷ giá USD với Ơ rô và đồng Bảng Anh, đồng nhân dân tệ,… Phân tích, đánh giá tình hình và chủ động thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến thị trường ngoại hối, tiền tệ, tỷ giá trong nước, tạo môi trường ổn định để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Tăng dư nợ tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Có biện pháp quản lý chặt chẽ hạn mức tín dụng. Tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, giám sát chặt chẽ và cảnh báo tổ chức tín dụng có quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng cao đối với lĩnh vực đầu tư bất động sản.
c) Về chính sách tài khóa
Thực hiện chính sách tài khoá chủ động, chặt chẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra. Triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách Nhà nước năm 2016.
Tăng cường chống thất thu, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế. Kiểm soát chi tiêu, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm cân đối thu chi NSNN theo dự toán được duyệt. Quản lý thu đầy đủ, kịp thời vào NSNN cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại các đơn vị, doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước. Tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, an toàn nợ công. Tăng cường công tác đấu tranh, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, chuyển giá, trốn thuế.
Xây dựng kế hoạch tự chủ tài chính theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa gắn với quá trình tái cơ cấu chi ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Quản lý chặt chẽ tài sản công. Xây dựng kế hoạch và triển khai tổng rà soát số lượng và việc sử dụng tài sản công của các cơ quan, đơn vị để bảo đảm sử dụng có hiệu quả.
Đẩy mạnh quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách gắn với ban hành các tiêu chí giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Huy động, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển nền kinh tế.
d) Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt là việc Anh rời Liên minh Châu Âu liên quan tác động đến kinh tế thế giới, EU và kinh tế Trung Quốc,… để đánh giá chính xác các động tích cực và tiêu cực tới kinh tế trong nước, kịp thời đề xuất các giải pháp để tận dụng các cơ hội mới, đồng thời chủ động ứng phó với các tác động tiêu cực, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
đ) Xây dựng các kịch bản khác nhau về khả năng tăng trưởng và lạm phát trong 6 tháng cuối năm để chủ động có các giải pháp điều hành phù hợp trong mọi tình huống.
3. Thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, phát triển mạnh thị trường trong nước
- Tiếp tục tăng cường công tác xúc tiến xuất khẩu hiệu quả, bảo đảm tăng trưởng xuất khẩu bền vững. Rà soát và đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Theo dõi sát và đánh giá những tác động sau sự kiện “Brexit” đến xuất khẩu của nước ta vào khối EU và nước Anh. Trên cơ sở đó kịp thời kiến nghị các giải pháp ứng phó để hỗ trợ xuất khẩu, trong trường hợp đồng Ơ rô, đồng Bảng Anh và đồng Nhân dân tệ giảm giá sâu thêm, trong khi đồng đô la Mỹ và Yên Nhật tiếp tục tăng giá.
- Chủ động và triển khai thực hiện và có hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN, AEC, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định thương mại tự do đã ký kết. Tập trung triển khai ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để mở rộng thị trường xuất khẩu. Chủ động nghiên cứu để phối hợp với Liên minh Châu Âu để thảo luận điều chỉnh các điều khoản trong Hiệp định thương mại tự do với EU trong điều kiện Anh rời EU.
- Rà soát, hoàn thiện pháp luật phù hợp với các cam kết quốc tế; chủ động, tích cực vận dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) để bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong nước.
- Đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế trong hệ thống chính trị, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Thực hiện các biện pháp chính sách để phát huy, tận dụng các cơ hội phát triển và hạn chế tác động tiêu cực do mặt trái của hội nhập gây ra. Đấu tranh quyết liệt, có giải pháp đột phá với nạn buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.
- Chú trọng phát triển hệ thống thương mại bán lẻ. Đẩy mạnh thị trường thương mại trong nước, nhất là thị trường biên mậu. Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa trong nước, theo hướng gắn kết giữa khu vực sản xuất với lưu thông và tiêu thụ.
- Tăng cường công tác dự báo thị trường trong và ngoài nước, phổ biến kịp thời thông tin thị trường; nắm rõ các rào cản kỹ thuật và chủ động xây dựng các biện pháp để khắc phục. Chỉ đạo các cơ quan thương vụ ở nước ngoài phối hợp chặt chẽ với các tổ chức liên quan nước sở tại chủ động nắm bắt thông tin, phân tích báo cáo kịp thời phục vụ xuất khẩu hiệu quả. Theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá các tác động trực tiếp và gián tiếp của việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) đến quan hệ thương mại của nước ta với các các đối tác lớn, như: Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản,...
4. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
- Tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08 tháng 7 năm 2016 về nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, bảo đảm giải ngân hết và có hiệu quả kế hoạch vốn đầu tư công được giao. Đẩy mạnh huy động các nguồn lực khác cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
- Các bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, kịp thời loại bỏ, tháo gỡ các rào cản, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công. Rà soát, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền bổ sung hoặc bãi bỏ quy định trái với các quy định pháp luật về đầu tư công, xây dựng, ngân sách nhà nước (NSNN) và các văn bản pháp luật liên quan; rà soát các Luật: Đầu tư công, Ngân sách nhà nước, Xây dựng và các Luật liên quan để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu đổi mới.
- Đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt quyết định đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và các chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020.
- Sửa đổi các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bảo đảm việc bố trí vốn tập trung, khắc phục đầu tư dàn trải, giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản và phát huy hiệu quả đầu tư của dự án, không để phát sinh thêm nợ đọng xây dựng cơ bản trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng về nông thôn mới.
- Tăng cường tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công. Xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật, cố tình cản trở, gây khó khăn, làm chậm trễ tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công. Thay thế kịp thời những cán bộ công chức yếu kém hoặc nhũng nhiễu, tiêu cực trong quản lý đầu tư công.
- Nâng cao hiệu quả đầu tư công, tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng các công trình, dự án. Phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016.
- Trong điều kiện nguồn vốn ODA giảm, với mức độ ưu đãi thấp hơn trước, cần phải rà soát các dự án tài trợ từ nguồn ODA và nguồn vay ưu đãi, loại bỏ các dự án không cần thiết, kém hiệu quả.
- Nghiên cứu, đề xuất bổ sung thêm các cơ chế chính sách huy động nguồn vốn trong xã hội để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.
5. Khắc phục hậu quả hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Đẩy mạnh công tác quản lý, kiểm tra việc khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Khẩn trương hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai. Kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, đặc biệt sau sự cố ô nhiễm môi trường biển của Formosa, phải đánh giá, rút kinh nghiệm trong việc cấp giấy phép cho các nhà đầu tư, cũng như có các giải pháp kiểm tra, kiểm soát việc vận hành các dự án này khi đi vào hoạt động. Trong thời gian tới, thu hút đầu tư phải có chọn lọc, kiên quyết không cấp phép đối với các dự án công nghệ lạc hậu, không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường, không vì lợi ích kinh tế mà xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường. Nghiên cứu, thực hiện các giải pháp tổng thể, toàn diện, có căn cứ khoa học và thực tiễn để ứng phó với biến đổi khí hậu; triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, phòng chống giảm nhẹ thiên tai.
- Tăng cường rà soát, kiểm tra các nguồn thải vào các lưu vực sông, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là các cơ sở gây ô nhiễm ngay trong khu dân cư; xử lý triệt để nguồn gây ô nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường, cảnh quan ở khu vực nông thôn, các khu đô thị lớn. Kiên quyết xử lý các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh việc quản lý, khai thác cát, sỏi ở lòng sông. Tập trung quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước đầu nguồn, đất và khoáng sản. Thực hiện các giải pháp tổng thể, toàn diện, có căn cứ khoa học và thực tiễn để ứng phó với biến đổi khí hậu, các chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, phòng chống giảm nhẹ thiên tai.
- Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Sông Mê Công và các nước thành viên để quản lý khai thác và sử dụng nguồn nước có hiệu quả, hợp lý nhất. Đồng thời, phải tổ chức nghiên cứu xây dựng các phương án, trong việc cơ cấu lại sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long để chủ động đối phó với tình hình cạn kiệt nguồn nước Sông Mê Công, hạn hán và xâm nhập mặn như trong thời gian qua.
- Quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước trong các hồ chứa; cân đối, ưu tiên nhu cầu nước cho sinh hoạt, nước uống cho gia súc, tưới cho cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao. Triển khai các phương án phòng, chống cháy rừng, chặt phá rừng, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn.
- Thực hiện nghiêm các giải pháp cấp bách nhằm khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên, trong đó lưu ý:
+ Thực hiện nghiêm việc đóng cửa rừng tự nhiên, nghiêm cấm phá rừng lấy đất trồng cây công nghiệp. Không có chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp. Khẩn trương thực hiện việc sắp xếp lại các nông, lâm trường để bảo đảm đất rừng có chủ, không “phát canh thu tô” đất rừng và rừng.
+ Ngừng cấp phép các công trình thủy điện liên quan đến chính sách rừng, đất rừng. Tăng cường kiểm tra, đấu tranh, ngăn chặn hành vi phá rừng; làm rõ trách nhiệm từng cán bộ phụ trách trên mỗi địa bàn trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nghiêm khắc xử lý các chủ rừng và các cá nhân có hành vi tiêu cực, móc nối để cho các đối tượng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
6. Bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân
- Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn, thanh niên và sinh viên mới tốt nghiệp. Thực hiện tốt chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, cải thiện điều kiện lao động. Thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công.
- Tiếp tục tổ chức triển khai các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1138/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2016 và Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 09 tháng 5 năm 2016; xây dựng và tổ chức thực hiện phương án tổng thể, trong đó tập trung hỗ trợ phục hồi và phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm và sớm ổn định đời sống của người dân tại các địa phương bị thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường biển. Các ngành, địa phương phải bảo đảm đời sống của người dân, không để người dân đói, rơi vào tình cảnh quá khó khăn, bảo đảm cho ngư dân ra khơi đánh bắt bình thường.
- Thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân. Củng cố và nâng cao hiệu quả mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, không để các dịch bệnh lớn xảy ra. Tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, mở rộng tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Gắn việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế với lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân; thực hiện tính đúng, tính đủ và công khai minh bạch giá dịch vụ y tế, phù hợp với chất lượng dịch vụ ở từng tuyến và khả năng chi trả của nhân dân.
Triển khai thực hiện tốt Quyết định 1167/QĐ-TTg ngày 28 tháng 6 năm 2016 về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2016 - 2020. Phấn đấu đến năm 2020, tất cả 63 tỉnh, thành phố đều được giao chỉ tiêu bao phủ BHYT đạt trên 90%.
7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, Tổ chức sơ kết Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2010 - 2015, Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020. Thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật về cải cách hành chính, trọng tâm là đơn giản hoá thủ tục hành chính; kiểm soát thủ tục hành chính, rà soát, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; đổi mới mạnh mẽ việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức. Khẩn trương công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2015 của bộ, ngành và địa phương.
Xây dựng chính quyền phục vụ, tập trung vào tăng cường công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình. Phát triển Chính phủ điện tử theo tinh thần Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Việc đề xuất ban hành chính sách mới phải phù hợp với thực tiễn và gắn với nguồn lực thực hiện.
8. Thực hiện kiên quyết các giải pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, không để các vụ việc tồn đọng, kéo dài. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thi hành án, nhất là các vụ việc thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng.
9. Theo dõi sát diễn biến, tình hình trên Biển Đông, đặc biệt là thái độ hành xử của các bên sau phán quyết của Tòa trọng tài về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, để chủ động có các phương án ứng phó kịp thời, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo và lợi ích quốc gia; nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển, bảo đảm an toàn các hoạt động kinh tế biển và quyền lợi của ngư dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật, kiềm chế tội phạm, giảm các loại trọng án, giảm tội phạm tại các địa bàn trọng điểm; xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh. Bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh, an toàn thông tin mạng.
Tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp để ngăn chặn các hành vi vi phạm luật giao thông, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn, giảm thiểu tai nạn giao thông. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý các phương tiện vận tải hành khách; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống cháy, nổ.
10. Triển khai toàn diện, hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế. Đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Kiên trì thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và các thoả thuận khu vực. Đẩy mạnh, nâng tầm đối ngoại đa phương, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc. Đảm nhận các trọng trách quốc tế để nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại tự do đã ký, tiếp tục đàm phán các hiệp định mới. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, văn hoá đối ngoại, thực hiện tốt công tác bảo hộ công dân, tạo điều kiện cho kiều bào tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
11. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. Thông tin kịp thời các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để định hướng dư luận theo hướng khuyến khích thu hút doanh nghiệp, khơi dậy làn sóng khởi nghiệp đầu tư và sản xuất kinh doanh; phát hiện các trường hợp cán bộ, công chức gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và người dân để tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan Nhà nước các cấp chủ động cung cấp thông tin về cơ chế chính sách, tình hình kinh tế - xã hội; về các giải pháp chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ.
Đề cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước các cấp và người đứng đầu. Tăng cường đối thoại với các cơ quan thông tấn, báo chí để tạo điều kiện trong việc nắm bắt được tình hình, quán triệt, đồng thuận của mọi người dân đối với chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan báo chí, xử lý nghiêm khắc những trường hợp cố tình đưa tin không đúng sự thật, trái với các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
Trên đây là Báo cáo tình hình kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016 và các giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm 2016, Chính phủ kính báo cáo Quốc hội./.
Nơi nhận: - Như trên; - Thủ tướng Chính phủ và các PTTg; - Văn phòng Quốc hội; - Các Uỷ ban: KT; TCNS của Quốc hội; - Văn phòng Chính phủ: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg; - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (15b); - Bộ Tài chính; - Lưu: VT, KTTH (3b). |
TM. CHÍNH PHỦ TUQ. THỦ TƯỚNG BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ (Đã ký) Nguyễn Chí Dũng |