Tại Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước G20 tổ chức tại CHLB Đức vào ngày 17-18/3/2017 vừa qua, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế các nước G20 và những thách thức chính sách.
Dự báo tăng trưởng kinh tế các nước G20 (% so năm trước)
|
Kết quả và dự báo tháng 01/2017 |
Thay đổi * |
||||
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2017 |
2018 |
|
Thế giới |
3,2 |
3,1 |
3,4 |
3,6 |
0,0 |
0,0 |
Các nước phát triển |
2,1 |
1,6 |
1,9 |
2,0 |
0,1 |
0,2 |
Khu vực euro |
2,0 |
1,7 |
1,6 |
1,6 |
0,1 |
0,0 |
Các nước đang phát triển |
4,1 |
4,1 |
4,5 |
4,8 |
-0,1 |
0,0 |
Các nước G20 |
3,4 |
3,1 |
3,6 |
3,7 |
0,0 |
0,0 |
Các nước phát triển G20 |
2,0 |
1,6 |
1,8 |
2,0 |
0,0 |
0,0 |
Mỹ |
2,6 |
1,6 |
2,3 |
2,5 |
0,1 |
0,4 |
Liên minh châu Âu |
2,3 |
2,0 |
1,5 |
1,4 |
0,4 |
-0,3 |
VQ Anh |
2,2 |
2,0 |
1,5 |
1,4 |
0,4 |
-0,3 |
CH Pháp |
1,3 |
1,3 |
1,3 |
1,6 |
0,0 |
0,0 |
CHLB Đức |
1,5 |
1,7 |
1,5 |
1,5 |
0,1 |
0,1 |
Italia |
0,7 |
0,9 |
0,7 |
0,8 |
-0,2 |
-0,3 |
Tây Ban Nha |
3,2 |
3,2 |
2,3 |
2,1 |
0,1 |
0,2 |
Australia |
2,4 |
2,3 |
2,6 |
3,0 |
-0,1 |
0,1 |
Canada |
0,9 |
1,3 |
1,9 |
2,0 |
0,0 |
0,1 |
Nhật Bản |
1,2 |
0,9 |
0,8 |
0,5 |
0,2 |
0,0 |
Hàn Quốc |
2,6 |
2,6 |
2,6 |
2,8 |
-0,4 |
-0,3 |
Các nước đang phát triển G20 |
4,6 |
4,5 |
5,0 |
5,1 |
-0,1 |
-0,1 |
Argentina |
2,5 |
-2,4 |
2,2 |
2,8 |
-0,5 |
0,0 |
Brazil |
-3,8 |
-3,5 |
0,2 |
1,5 |
-0,3 |
0,0 |
Trung Quốc |
6,9 |
6,7 |
6,5 |
6,0 |
0,3 |
0,0 |
Ấn Độ |
7,6 |
6,6 |
7,2 |
7,7 |
-0,4 |
0,0 |
Indonesia |
4,8 |
5,0 |
5,1 |
5,3 |
-0,2 |
-0,2 |
Mêhicô |
2,6 |
2,2 |
1,7 |
2,0 |
-0,6 |
-0,6 |
CHLB Nga |
-3,7 |
-0,6 |
1,1 |
1,2 |
0,0 |
0,0 |
Arập Xê út |
4,1 |
1,4 |
0,4 |
2,3 |
-1,6 |
-0,3 |
CH Nam Phi |
1,3 |
0,3 |
0,8 |
1,6 |
0,0 |
0,0 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
4,0 |
2,7 |
2,9 |
3,3 |
-0,1 |
0,1 |
Nguồn: IMF, tháng 01/2017
(*): Thay đổi so với dự báo đưa ra hồi tháng 10/2016
Các chuyên gia IMF nhận định, kinh tế toàn cầu được kỳ vọng sẽ tăng tốc trong ngắn hạn, phản ánh hoạt động kinh tế sôi động tại các nước phát triển, một số thay đổi chính sách tại Mỹ, tình hình tại một số nước mới nổi ổn định dần sau thời kỳ khó khăn. Tuy nhiên, những khó khăn về cơ cấu và di sản khủng hoảng tiếp tục cản trở tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trung hạn, nhất là tại các nước phát triển. Trong đó, mặt trái của xu thế toàn cầu hóa và thay đổi công nghệ có thể ảnh hưởng đến thị trường lao động, khiến một số chính phủ chuyển sang chính sách hướng nội, ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình hội nhập và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
Theo báo cáo cập nhật được IMF đưa ra vào tháng 01/2017, GDP toàn cầu sẽ tăng từ 3,1% trong năm 2016 lên 3,4% trong năm 2017 và 3,6% trong năm 2018, chủ yếu nhờ sáng kiến chính sách tại các nước phát triển và tình hình ổn định trở lại tại một số nước mới nổi.
Tại các nước phát triển, kinh tế Nhật Bản và khu vực đồng tiền chung euro có vẻ tăng vững, nhờ chu kỳ kinh tế phục hồi trong ngành công nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế vẫn thấp xa tiềm năng tăng trưởng, nhất là tại Pháp, Italia, Hàn Quốc. Kinh tế tại Vương quốc Anh thời kỳ hậu Brexit tăng cao hơn kỳ vọng, nhờ tiêu dùng tư nhân tăng vững.
Tại Mỹ, tình trạng thất nghiệp đã giảm xuống tỷ lệ tự nhiên, kinh tế tiếp tục cải thiện trong ngắn hạn, phần nào phản ánh những kỳ vọng về thay đổi về chính sách kinh tế và niềm tin cải thiện. Chính sách tài khóa dự kiến sẽ được chính quyền của Tổng thống Donald Trump mở rộng đáng kể và hiện thực hóa từ năm 2018, trong khi chính sách tiền tệ bình thường dần sau thời kỳ nới lỏng không có tiền lệ. Kinh tế Mỹ tăng cao sẽ có tác động tích cực đến hầu hết các nước trên thế giới, nhưng có thể thách thức đồng bản tệ tại những nước đang phát triển có chính sách neo tỷ giá với USD hoặc có nhiều khoản nợ dưới dạng USD.
Các nước mới nổi tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu, mặc dù triển vọng kinh tế tại mỗi nước có khác nhau. Kinh tế Trung Quốc tiếp tục duy trì động lượng trong ngắn hạn nhờ các biện pháp hỗ trợ chính sách và tín dụng tăng quá mức, nhưng GDP sẽ tăng chậm dần khi quốc gia này đẩy mạnh các biện pháp chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững hơn theo hướng đẩy mạnh tiêu dùng trong nước thay vì mở rộng xuất khẩu và đầu tư như hiện nay. Tại Ấn Độ, GDP được kỳ vọng tăng tốc sau khi tình trạng thiếu hụt tiền mặt không còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Kinh tế Brazil được kỳ vọng đạt mức tăng trưởng dương từ năm 2017, mặc dù cân đối tài chính còn khó khăn. Kinh tế Mêhicô được dự báo sẽ tăng thấp do những bất định xung quanh mối quan hệ thương mại với Mỹ, GDP tại CHLB Nga được dự báo trở lại mức tăng trưởng dương, một phần nhờ giá dầu phục hồi.
Lạm phát cơ bản tăng vững cùng với xu hướng phục hồi giá cả của nhiều loại hàng hóa, thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và một số nước khác sẽ hỗ trợ dầu tăng giá. Giá kim loại cũng tăng vững, chủ yếu do giá nhà đất tại Trung Quốc phục hồi mạnh sau thời kỳ đóng băng và nhờ các biện pháp cắt giảm nguồn cung. Trong khi giá cả hàng hóa vẫn thấp so với mặt bằng giá cả trong quá khứ, chỉ số giá cả hàng tiêu dùng đã tăng nhẹ trở lại trên toàn cầu, nhưng lạm phát tại nước phát triển vẫn thấp hơn mục tiêu do NHTW đề ra.
Các thị trường tài chính nhìn chung đều phục hồi, nhưng rủi ro chính sách vẫn đe dọa một số nước. Tại Mêhicô, lo ngại xung quanh các mối quan hệ thương mại với Mỹ đang gây áp lực lên đồng bản tệ và chi phí tài chính. Bảng Anh bị mất giá do những bất định về triển vọng các mối quan hệ thương mại giữa Vương quốc Anh với Liên minh châu Âu, trong khi chênh lệch lãi suất trái phiếu dài hạn của Chính phủ Đức so với lãi suất trái phiếu cùng loại của những chính phủ khác tại khu vực đồng tiền chung euro ngày càng tăng cao.
Cân bằng kinh tế toàn cầu cải thiện nhẹ trong thời gian gần đây, nhưng có thể bị mất cân bằng trở lại trong những năm tới. Theo báo cáo sơ bộ về cân đối thương mại trong năm 2016, cán cân vãng lai tiếp tục thặng dư nhẹ tại CHLB Đức và cải thiện tại nhiều nước khu vực euro, nhưng suy giảm tại một số nước khác như Trung Quốc và các nước xuất khẩu chất đốt. Tuy nhiên, nguy cơ mất cân đối có thể tăng trở lại, do chính sách tài khóa mở rộng tại Mỹ sẽ thúc đẩy nhu cầu trong nước và làm tăng thâm hụt vãng lai. Tỷ giá cũng vận động theo hướng này, USD tăng vững (khoảng 5% kể từ tháng 8/2016), trong khi euro và yên Nhật giảm. Tại các nước mới nổi, đồng rúp của CHLB Nga tăng mạnh trở lại nhờ dầu tăng giá, trong khi đồng peso của Mêhicô và đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ giảm mạnh.
Triển vọng kinh tế ngắn hạn này được đưa ra trên cơ sở các chính sách kích thích tài khóa tại Mỹ và xu hướng bình thường trở lại về chính sách tiền tệ sau thời kỳ nới lỏng quá mức. Trong khi những kỳ vọng về chính sách này bắt nguồn chủ yếu từ thị trường trong nước, chính sách thực tế và tác động của nó đến tình hình trong và ngoài nước Mỹ có thể thay đổi rất lớn do quy mô, cấu phần, và thời hạn của chương trình mở rộng tài khóa.
Mặc dù tình hình kinh tế toàn cầu đã cải thiện đáng kể, triển vọng kinh tế trung hạn tại các nước phát triển và các nước xuất khẩu hàng hóa vẫn rất yếu ớt. Tại các nước phát triển, GDP tính theo đầu người trong giai đoạn trung hạn vẫn thấp hơn khoảng ¾ điểm phần trăm so với thu nhập trung bình trong lịch sử. Triển vọng kinh tế trung hạn tại nhiều nước mới nổi cũng trầm lắng, nhất là những nước đang chịu tác động tiêu cực của mức giá thấp. Tại các nước châu Á, GDP theo đầu người trong giai đoạn trung hạn nhìn chung sẽ tăng, chủ yếu nhờ tiêu dùng tăng cao, nhưng rủi ro vẫn rình rập.
Nghiên cứu gần đây của IMF cho thấy, di sản khủng hoảng vẫn cản trở triển vọng kinh tế. Tại một số nước phát triển, nợ doanh nghiệp ở mức cao và nhiều khoản nợ xấu đang đe dọa bảng cân đối tài chính của các ngân hàng, cản trở các dự án đầu tư mới, nhất là tại châu Âu. Cân đối tài chính mong manh cũng ảnh hưởng đến những khu vực kinh tế khác, nhất là khả năng thích ứng với những cú sốc bất thường, trong khi điều kiện tiếp cận tài chính ngày càng thu hẹp. Một số nước mới nổi đang đối mặt với xu thế suy giảm dòng vốn sau thời kỳ tăng cao và giá hàng hóa lao dốc trong những năm gần đây, nợ nần của các doanh nghiệp tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến bảng cân đối tài sản quốc gia. Những hạn chế này đang gây tổn thương cho tình hình tài chính toàn cầu và có thể kìm hãm các hoạt động đầu tư.
Triển vọng tăng trưởng thấp cũng phản ánh những khó khăn mang tính dài hạn, nhất là tại các nước phát triển. Năng suất tăng thấp dần có thể bao gồm, tác động mờ nhạt dần sau thời kỳ phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, dân số già hóa, thương mại toàn cầu suy giảm. Tại các nước mới nổi, các biện pháp cải cách và chuyển đổi cơ cấu kinh tế không còn phát huy tác dụng, khi nguồn lực được tái phân bố từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao.
Gần đây, phản ứng dữ dội về chính sách tại các nước phát triển đối với khung thương mại đa dạng trên toàn cầu đang cản trở nỗ lực tăng năng năng suất lao động. Trái với trước đây, tiến bộ công nghệ và thương mại là một phần động lực thúc đẩy năng suất lao động, đã đóng góp góp tích cực cho sự phồn vinh toàn cầu. Những rào cản thương mại có thể sẽ kìm hãm sự phát triển của tiến bộ công nghệ và năng suất lao động, gây tổn hại cho toàn thế giới.
Xuân Thanh
Nguồn: IMF tháng 3/2017