Trong đợt tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XIV, có 01 kiến nghị của cử tri tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu liên quan đến hoạt động tiền tệ, ngân hàng thuộc thẩm quyền giải quyết, xử lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
Kiến nghị của cử tri: Đề nghị Nhà nước hạn chế sử dụng tiền mặt phổ biến để kiểm soát chặt chẽ tội phạm rửa tiền và góp phần chống tham nhũng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời như sau:
1. Để tăng cường công tác quản lý và sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, thời gian qua, NHNN đã tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định 222/NĐ-CP ngày 31/12/2013 về thanh toán bằng tiền mặt đối với một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó quy định không thanh toán bằng tiền mặt đối với các giao dịch thanh toán của các tổ chức sử dụng vốn nhà nước và tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (trừ một số trường hợp được quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính1 và NHNN2); các giao dịch chứng khoán và giao dịch tài chính của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 2453) và đã đạt được nhiều chuyển biến mạnh mẽ, trong đó các phương tiện và dịch vụ thanh toán đã phát triển đa dạng, hiện đại đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán cũng như yêu cầu của nền kinh tế. Nhận thức và thói quen của người dân, doanh nghiệp về TTKDTM có sự chuyển biến mới. Cụ thể:
Tỷ trọng tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần, từ 14,02% năm 2010 còn 11,5% hiện nay. Số lượng và giá trị thanh toán qua ATM có xu hướng tăng nhanh từ 527 triệu giao dịch năm 2013 lên 717 triệu giao dịch năm 2016, tương ứng với số lượng giao dịch tăng từ 994 nghìn tỷ đồng lên 1.809 nghìn tỷ đồng. Số lượng và giá trị thanh toán qua POS cũng có xu hướng tăng mạnh: Số lượng giao dịch từ 24 triệu giao dịch năm 2013 lên 97 triệu giao dịch năm 2016, tương giá trị giao dịch tăng từ 127 nghìn tỷ đồng lên 250 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, việc sử dụng tiền mặt tại Việt Nam vẫn còn phổ biến trong các giao dịch của người dân. Nhiều giao dịch mua bán bất động sản và những tài sản có giá trị lớn chưa được thực hiện thanh toán qua ngân hàng do một số Luật hiện hành, như: Luật Dân sự, Luật Bất động sản, Luật Nhà ở… vẫn quy định phương thức thanh toán do các bên tự thỏa thuận.
2. Liên quan đến công tác phòng, chống rửa tiền: Việc rửa tiền thường được tội phạm tiến hành qua rất nhiều cách thức như: Vận chuyển tiền mặt qua biên giới; Rửa tiền thông qua các giao dịch thương mại; Mua tài sản có giá trị lớn bằng tiền mặt… Do đó, việc phòng, chống rửa tiền phải được triển khai một cách đồng bộ, trong đó hạn chế sử dụng tiền mặt, không tạo ra môi trường thuận lợi để tội phạm lợi dụng rửa tiền cũng là một trong những giải pháp mà NHNN hướng đến
Để có thể ngăn chặn tội phạm rửa tiền, Việt Nam đã có cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm phòng, chống và trừng trị nghiêm minh loại tội phạm này và đã nỗ lực triển khai ngày càng có hiệu quả các quy định của Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012 và các văn bản hướng dẫn Luật. Theo đó, pháp luật phòng, chống rửa tiền đã quy định giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo từ 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) trở lên. Các sai phạm trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009.
3. Việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thực hiện việc thanh toán, chi trả qua hệ thống ngân hàng là một biện pháp hữu hiệu làm minh bạch các nguồn thu nhập của cá nhân, tổ chức và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền cũng như công tác phòng, chống tham nhũng.
Do đó, để tiếp tục tăng cường công tác quản lý tiền mặt và từng bước hạn chế các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế, NHNN đã trình Chính phủ phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016), trong đó, tập trung hoàn thiện các hành lang pháp lý liên quan đến TTKDTM; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển TTKDTM nhằm tạo lập hành lang pháp lý đầy đủ, tổng thể, đồng bộ, nhất quán, khuyến khích phát triển TTKDTM, đảm bảo an ninh, an toàn cho hoạt động TTKDTM, từng bước phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và thông lệ quốc tế tốt nhất, góp phần giảm thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế. Cụ thể như sau:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến TTKDTM tại các văn bản Luật hiện hành (như Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Phòng chống rửa tiền); hoặc nghiên cứu, xây dựng một Luật riêng về các hệ thống thanh toán.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các Nghị định về TTKDTM, thanh toán bằng tiền mặt, các Thông tư hướng dẫn về thanh toán.
- Ban hành các văn bản pháp lý để quản lý, giám sát, vận hành có hiệu quả đối với các loại hình, phương tiện, hệ thống thanh toán mới.
- Ban hành các quy định về hoạt động ủy thác thanh toán, cho phép các tổ chức phi ngân hàng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ thanh toán mới, mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa để thúc đẩy phổ cập tài chính.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, đặc biệt là tội phạm và gian lận trong thanh toán thẻ, ATM, POS, thanh toán qua internet, điện thoại di động, thanh toán phi tiếp xúc và các phương thức thanh toán sử dụng công nghệ cao.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cử tri đối với hoạt động ngân hàng./.