Trong báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu, được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào ngày 18/4/2017, các chuyên gia IMF đã điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Cùng với xu hướng phục hồi rõ nét của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, lạm phát cũng có chiều hướng tăng trở lại.
Báo cáo nhận định, một số hoạt động kinh tế bắt đầu lấy lại động lượng từ giữa năm 2016, nhất là tại các nước phát triển. Tại Mỹ, GDP tăng nhanh do niềm tin của các doanh nghiệp về nhu cầu gia tăng trong tương lai, và lượng hàng lưu kho bắt đầu đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Tại VQ Anh, GDP cũng tiếp tục tăng vững, phản ánh đà tăng nhu cầu trong thời kỳ hậu Brexit. Tại Nhật Bản, GDP ghi nhận tốc độ tăng ấn tượng nhờ xuất khẩu tăng vững. Nhu cầu gia tăng trở lại đã hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tại một số nước thuộc khu vực đồng tiền chung euro như Tây Ban Nha, CHLB Đức. Hoạt động kinh tế tại các nước đang phát triển và mới nổi tiếp tục tăng cao, mặc dù có tốc độ tăng trưởng không đồng đều, tùy theo tình hình thực tế tại mỗi nước. Trong đó, kinh tế tiếp tục tăng cao tại Trung Quốc phản ánh các biện pháp hỗ trợ chính sách, kinh tế CHLB Nga bắt đầu thoát khỏi suy thoái nhờ các nỗ lực cải cách và giá dầu tăng trở lại, kinh tế Ấn Độ tạm thời tăng chậm lại do thiếu tiền mặt sau đợt đổi tiền vào cuối năm 2016, kinh tế Brazil tiếp tục chìm trong suy thoái, hoạt động kinh tế yếu ớt tại các nước xuất khẩu, bất ổn địa chính trị cản trở kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Trung Đông.
Hàng loạt yếu tố đóng góp cho sự phát triển này, bao gồm: Hoạt động đầu tư phục hồi dần trên phạm vi toàn cầu, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và xây dựng hạ tầng tại Trung Quốc, khả năng thích ứng với xu hướng giảm thấp của mặt bằng giá cả hàng hóa, kết thúc chu kỳ tác động tiêu cực của lượng hàng tồn kho tại Mỹ. Kết quả bầu cử tổng thống tại Mỹ đã dẫn đến kỳ vọng về khả năng nới lỏng tài khóa, góp phần hỗ trợ USD tăng giá cũng như lợi tức trái phiếu kho bạc, gây tác động lan tỏa sang những thị trường khác trên thế giới. Tâm trạng thị trường nhìn chung khá lạc quan, nhiều loại cổ phiếu tại các nước phát triển và mới nổi đồng loạt tăng giá. Trong khi đó, các hoạt động kinh tế và kỳ vọng nhu cầu tăng vững, thỏa thuận OPEC về kiềm chế nguồn cung dầu mỏ tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phục hồi mặt bằng giá cả sau khi chạm đáy vào đầu năm 2016.
Tại các nước phát triển, giá hàng hóa tăng cao đã hỗ trợ lạm phát cơ bản, nhưng lạm phát lõi vẫn trầm lắng và diễn biến không đồng đều, chỉ tăng tại Nhật Bản và khu vực đồng tiền chung euro do lạm phát quá thấp. Giá hàng hóa tăng cao cũng hỗ trợ tăng lạm phát cơ bản tại nhiều nước đang phát triển và mới nổi, nhưng vẫn giảm tại một số nước do tác động yếu dần của các biện pháp giá bản tệ vốn được tiến hành trong năm 2015 và đầu năm 2016. Tuy nhiên, xu hướng lạm phát thấp vẫn chi phối triển vọng trung hạn, chủ yếu là do tác động của tình trạng bất định chính sách. Rủi ro có thể sẽ đảo ngược tình hình, khi tác động mờ nhạt dần của các biện pháp hỗ trợ chính sách tại Mỹ và Trung Quốc, thậm chí gây tác động đối ngược nhằm hạn chế nguy cơ rối loạn tài khóa. Một cách tổng quát, rủi ro lạm phát thấp bắt nguồn từ những yếu tố tiềm năng cơ bản như sau:
Bên cạnh yếu tố kinh tế, cần kể đến một số yếu tố bất lợi khác như căng thẳng địa chính trị, rối loạn chính trị tại một số nước, quản trị yếu kém và tệ tham nhũng, lo ngại về an ninh và chủ nghĩa khủng bố.
Theo báo cáo của IMF, giá cả hàng hóa bắt đầu tăng từ tháng 8/2016. Từ tháng 10/2016, giá dầu phục hồi dần do nhiều nước xuất khẩu dầu đã kiềm chế hoạt động sản xuất dầu sau thỏa thuận đạt được giữa các nước thuộc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Hoạt động xây dựng tại Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh, nhất là trong lĩnh vực bất động sản, khả năng mở rộng các chương trình kích thích tài khóa tại Mỹ sẽ thúc đẩy nhu cầu về kim loại và hỗ trợ lạm phát. Giá thực phẩm cũng tăng dần do nhu cầu về lương thực - thực phẩm tăng theo đà phục hồi kinh tế.
Tóm tắt CPI hàng năm trên thị trường thế giới (%)
Hàng hóa |
Trung bình hàng năm |
Kết quả |
Dự báo |
|||
1999-2008 |
2009-2018 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
|
1. Tính theo USD |
||||||
Công nghiệp chế tạo |
1,8 |
0,0 |
-2,4 |
-5,4 |
2,8 |
1,7 |
Giá dầu |
22,2 |
-5,5 |
-47,2 |
-15,7 |
28,9 |
-0,3 |
Giá hàng hóa phi năng lượng |
6,2 |
-0,7 |
-17,4 |
-1,9 |
8,5 |
-1,3 |
Giá lương thực-thực phẩm |
5,6 |
-0,7 |
-17,1 |
2,0 |
3,0 |
-0,5 |
Đồ uống |
2,4 |
0,5 |
-3,1 |
-5,0 |
-5,7 |
3,5 |
Nguyên liệu nông nghiệp |
1,9 |
0,6 |
-13,5 |
-5,7 |
7,0 |
-0,3 |
Giá kim loại |
11,8 |
-1,8 |
-23,0 |
-5,4 |
23,2 |
-4,0 |
2. Tính theo Euro |
||||||
Công nghiệp chế tạo |
-1,0 |
3,4 |
16,9 |
-5,2 |
7,1 |
2,0 |
Giá dầu |
18,8 |
-2,3 |
-36,8 |
-15,4 |
34,3 |
0,0 |
Giá hàng hóa phi năng lượng |
3,3 |
2,6 |
-1,1 |
-1,6 |
13,0 |
-1,0 |
Giá lương thực-thực phẩm |
2,7 |
2,6 |
-0,8 |
2,3 |
7,3 |
-0,2 |
Đồ uống |
-0,4 |
3,9 |
16,1 |
-4,8 |
-1,8 |
3,8 |
Nguyên liệu nông nghiệp |
-0,9 |
4,0 |
3,6 |
-5,5 |
11,5 |
0,0 |
Giá kim loại |
8,7 |
1,5 |
-7,8 |
-5,2 |
28,3 |
-3,7 |
Nguồn: IMF
Trong năm 2016, chỉ số giá cả (CPI) các mặt hàng hóa chủ chốt tăng 15,5% (tính từ tháng 8/2016). Trong đó, giá năng lượng và kim loại lần lượt tăng 21,1% và 23,6%, riêng giá lương thực - thực phẩm tăng thấp hơn (4,9%). Đáng chú ý, giá dầu tiếp tục tăng cao (21,2%), sau thỏa thuận OPEC về cắt giảm sản lượng dầu cung ứng. Giá dầu tăng dần cũng hỗ trợ giá khí đốt tự nhiên tại châu Âu. Trong khi đó, giá than đá tăng 21,0%, chủ yếu do nguồn cung tại Australia giảm và chính phủ Trung Quốc hạn chế khai thác than đá.
Sau thỏa thuận OPEC về cắt giảm sản lượng dầu xuống 3,5 triệu thùng/ngày (bắt đầu từ tháng 01/2017, giảm khoảng1,2 triệu thùng/ngày so với sản lượng dầu tháng 10/2016), giá dầu giao ngay tăng dần và đã vượt ngưỡng 50 USD/thùng. Sản lượng dầu giảm sau thỏa thuận OPEC cũng được bù đắp phần nào từ hoạt động khai thác dầu đá phiến tại Mỹ. Theo dữ liệu tháng 01/2017 do Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cung cấp, mặc dù sản lượng dầu tại Arập Xê út giảm sâu hơn so với thỏa thuận ban đầu, nhưng chỉ một vài nước OPEC cắt giảm sản lượng dầu khai thác. Trong khi đó, các nước thành viên không bị ràng buộc bởi thỏa thuận OPEC như Libya, Irắk lại đẩy mạnh khai thác dầu. Trong năm 2016, nhu cầu về dầu mỏ trên toàn cầu tăng 1,6 triệu thùng/ngày, mức tăng thấp hơn so với năm 2015. IEA kỳ vọng, nhu cầu về dầu mỏ trong năm 2017 sẽ tăng chậm với mức tăng 1,4 triệu thùng/ngày, nhưng vẫn cao hơn ngưỡng trung bình 1,2 triệu thùng/ngày trong giai đoạn trung hạn. Tuy nhiên, đầu tư sản xuất dầu đá phiến phục hồi nhanh tại Mỹ có thể sẽ nhanh chóng hỗ trợ nguồn cung, góp phần giảm nhẹ tình trạng mất cân đối cung - cầu trên thị trường. Kể từ tháng 8/2016, chỉ số giá khí đốt tự nhiên tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản chỉ tăng trung bình 18,7% do mùa đông ấm áp đã khiến nhu cầu tại Mỹ và châu Á không tăng cao như kỳ vọng ban đầu. Tại châu Âu, giá khí đốt tự nhiên tăng tới 38,4%, phản ánh giá dầu tăng cao và mùa đông giá rét. Tuy nhiên, giá khí đốt tự nhiên sẽ đứng ở mức thấp do nguồn cung tại Mỹ và CHLB Nga sẽ tăng mạnh và theo kịp nhu cầu, cho dù nhu cầu về mặt hàng này có thể tăng nhanh hơn so với nhu cầu về dầu mỏ. Từ tháng 8/2016 đến cuối năm 2016, chỉ số giá cả than đá tại Australia và CH Nam Phi tăng trung bình 21,0%, chủ yếu do hoạt động khai thác than tại Trung Quốc giảm mạnh theo chương trình tái cơ cấu kinh tế, khi hoạt động khai khoáng đã dẫn đến những vấn đề về môi trường và y tế.
Trên thị trường, giá dầu giao sau được giao dịch quanh ngưỡng ổn định 55 USD/thùng trong năm 2016, đạt mức giá trung bình 55,2 USD/thùng trong năm 2017 và 28,9 USD/thùng trong năm 2018. Trong ba năm tới, triển vọng giá dầu giao sau có vẻ mờ mịt, do các thỏa thuận về kiềm chế sản lượng dầu có thể chỉ gây tác động hạn chế trong giai đoạn trung hạn. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố bất định liên quan đến giá dầu, mặc dù chênh lệch cung - cầu sẽ được cân bằng trở lại. Rủi ro có thể gia tăng, nếu nguồn cung thiếu hụt ngoài dự kiến và bất ổn địa chính trị, nhất là tại Trung Đông. Những sự kiện này có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung, nhưng lượng dầu dự trữ tăng cao và sản lượng dầu đá phiến tại Mỹ sẽ chặn đà tăng giá dầu một cách nhanh chóng.
Trong năm 2016 (tính từ tháng 8/2016), giá kim loại tăng 23,6%. Trong đó, giá sắt ghi nhận mức tăng cao nhất trong năm 2016, với tốc độ tăng gấp hai lần so với năm 2015 lên khoảng 80 USD/tấn. Về phía cầu, chính sách mở rộng tín dụng đã hỗ trợ kinh tế và thúc đẩy nhu cầu về kim loại tại Trung Quốc trong năm 2016, chiếm tới ½ nhu cầu trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc cũng xử lý tình trạng dư thừa năng lực sản xuất thép như cắt giảm sản lượng tại những nhà máy sản xuất theo công nghệ lạc hậu nhằm giảm tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời đẩy mạnh nhập khẩu sắt, điều này đã hỗ trợ tăng giá sắt thép trên toàn cầu. Cùng với sắt thép, giá cả nhiều mặt hàng kim loại chủ chốt khác cũng tăng dần, nhưng không tăng đáng kể, do nhu cầu trên toàn cầu chỉ tăng khiêm tốn.
Về phía cung, hoạt động đầu tư khai khoáng giảm nhằm giảm chi phí và bảo vệ môi trường, giá cả một số mặt hàng kim loại vì thế sẽ tăng. Tuy nhiên, tình trạng dư thừa năng lực sẽ kiềm chế đà tăng giá của nhiều mặt hàng kim loại cơ bản. Giá cả của phần lớn các mặt hàng kim loại sẽ đứng ở mức giá tương tự như hiện nay, thậm chí giá sắt có thể sẽ giảm sâu.
IMF đã hạ dự báo giá kim loại trong năm nay, nhưng tăng trung bình 23,2% trong năm 2017, phản ánh nhu cầu tăng cao trong năm 2016. Sau đó, giá kim loại trong năm 2018 giảm tới 4,0% so với năm nay. Yếu tố tác động giảm giá kim loại trong tương lai bắt nguồn từ tác động yếu dần của chính sách hỗ trợ đầu tư bất động sản tại Trung Quốc, và quốc gia này sẽ hạn chế sự lệ thuộc vào đầu tư vốn, trong khi việc xử lý tình trạng nợ nần tại nhiều doanh nghiệp còn vấp phải khó khăn.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, giá cả các mặt hàng thực phẩm và sản phẩm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản tăng 4,3% trong năm 2016 (tính từ tháng 8/2016). Mặc dù giá dầu thực vật, chè, cao su tăng đáng kể, nhưng giá gạo và giá đậu giảm dần. Trong tháng 12/2016, giá bột mỳ có lúc giảm xuống mức thấp nhất trong 11 năm qua, sau đó có phục hồi trở lại, nên cả năm 2016 tăng 15,2%. Giá ngô cũng tăng nhẹ, nhưng vẫn ở mức giá tương đối thấp trong lịch sử. Trên toàn cầu, dự trữ bột mỳ và ngô vẫn vượt nhu cầu, thậm chí đạt mức cao nhất trong 10 năm qua, thị trường vì thế sẽ được đáp ứng đầy đủ. Giá dầu cọ tăng trên 36,7% trong năm 2016, và dự báo tăng 19% trong năm 2017, do hiện tượng El Ninô đã gây thiệt hại đến hoạt động trồng trọt tại Malaysia và Indonesia, trong khi lượng dầu cọ lưu kho giảm dần. Tuy nhiên, giá kacao giảm mạnh, do vụ mùa bội thu tại Tây Phi, ghi nhận mức giảm đầu tiên trong 5 năm qua. Báo cáo của IMF cũng điều chỉnh tăng giá đối với nhiều mặt hàng nông sản, do thời tiết diễn biến không thuận lợi, kể cả tại Mỹ. Giá thực phẩm tăng 3,0% trong năm 2017, giảm 0,5% trong năm 2018, sau đó sẽ ổn định về cơ bản.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 4/2017