Chuyện về một
“lão tướng” ngân hàng
Cả đời làm công tác đầu tư – tài chính, ông là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Đầu tư tại khu vực phía Nam những năm đầu sau ngày
thống nhất đất nước
Thạch Bình
Vị thủ lĩnh chúng tôi muốn nhắc tới là Phạm Học Lâm (tức Năm Lâm) – một người con của vùng đất mũi Cà Mau đã từng là Phó tổng giám đốc Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, sau đó trở thành Phó tổng giám đốc NHNN Việt Nam kiêm Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng (tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV).
Bén duyên với tài chính - tiền tệ
Phạm Học Lâm sinh ra và lớn lên tại tỉnh Cà Mau mà người đời thường gọi với cái tên thân thuộc Năm Lâm. Có lẽ chính vì cái gốc “rặt Nam bộ” bộc trực, thẳng thắn mà suốt cuộc đời, sự nghiệp gắn bó với ngành tài chính, ngành Ngân hàng của ông chuyện nào cũng rành rọt và ngay thẳng.
Tiếp chuyện chúng tôi, ông bắt đầu kể từ những ngày đầu bước chân vào lĩnh vực tài chính. Đó là thời điểm năm 1950. Lúc này Năm Lâm vừa rời trường Trung học, ông được phân về Bộ Canh nông (tiền thân của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tại phía Nam. Nhưng sứ mạng Năm Lâm không phải làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Bởi thời điểm đó, ông Ngô Tấn Nhơn vừa là Bộ trưởng phụ trách Bộ Canh nông vừa kiêm luôn chức vụ Trưởng ban Tiếp tế miền Nam và Trưởng ban Ấn loát đặc biệt. Năm Lâm vì thế được phân về Liên chi ủy kinh tế - tài chính Nam bộ và bắt đầu bén duyên với việc in ấn, cấp phát “giấy bạc Cụ Hồ”.
Cuối năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Năm Lâm được tập kết ra Bắc. Với năng khiếu giỏi tính toán, ông nhanh chóng hoàn thành xuất sắc những bảng kế toán tổng hợp tại Sở Muối Trung ương, rồi được cử đi Trung Quốc học tập về chính sách quản lý nghề muối. Tiếp sau đó ông được cử đi Liên Xô học tập tại Trường Đại học Tài chính Moscow.
Về nước sau 5 năm học tập nghiên cứu, Năm Lâm được phân công vào Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, phụ trách cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành nông – lâm – thủy lợi và công nghiệp. Bắt đầu từ đây, những chuyên môn về tài chính – đầu tư được ông vận dụng và phát huy mạnh mẽ, góp công lớn vào việc tạo dựng nhiều công trình hạ tầng – công nghiệp nhằm tái thiết và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chuẩn bị nguồn tài lực cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.
Khai sinh Ngân hàng Đầu tư - Xây dựng
Sau ba năm làm việc tại Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, Phạm Học Lâm tiếp tục được cử đi Liên Xô học nghiên cứu sinh về tài chính – đầu tư để chuẩn bị nhân sự cấp cao cho bộ máy tài chính, phục vụ tái thiết đất nước.
Mùa Xuân 1975, đất nước bước vào những ngày đầu thống nhất, Năm Lâm được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI và trở thành Phó giám đốc Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam kiêm Giám đốc Ngân hàng Kiến thiết TP.Hồ Chí Minh.
Vào thời điểm này, công cuộc khôi phục kinh tế miền Nam, khắc phục hậu quả sau chiến tranh diễn ra mạnh mẽ. Trước hoàn cảnh đó, để có đủ nhân sự chuyên môn ngành tài chính – ngân hàng nhằm thực hiện hiệu quả việc cấp phát vốn ngân sách, xây dựng các công trình quốc kế dân sinh, Năm Lâm đã đứng ra mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho hàng nghìn cán bộ ngành tài chính. Sau đó, đích thân ông, với tư cách Phó giám đốc Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã chỉ đạo thành lập hàng loạt các chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết tại khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhờ việc mở rộng mạng lưới này, hàng loạt các công trình lớn tại miền Nam đã được cấp vốn xây dựng kịp thời. Đó là những công trình có ý nghĩa then chốt trong việc hình thành nền tảng hạ tầng – công nghiệp ở khu vực các tỉnh phía Nam sau giải phóng như: đường tàu thống nhất Bắc – Nam; hồ thủy lợi Dầu Tiếng, Phú Ninh; thủy điện Đa Nhim; Dầu khí Việt - Xô, thủy điện Trị An;…
Bước sang những năm 1980, trong bối cảnh nền kinh tế - tài chính của đất nước bắt đầu có những diễn biến theo chiều hướng kém năng động, nhu cầu tập trung toàn bộ hệ thống tiền tệ vào một ngân hàng thống nhất để thực hiện các nhiệm vụ cấp phát và cho vay được đặt ra. Phạm Học Lâm một lần nữa thể hiện tầm nhìn chiến lược của một chuyên gia tài chính gạo cội. Ngay khi vừa được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Tài chính, công việc đầu tiên ông làm là kiến nghị sáp nhập Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (thuộc Bộ Tài chính) với Quỹ đầu tư (thuộc NHNN) và thành lập Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng trực thuộc NHNN Việt Nam.
Tháng 6/1981, Chính phủ chấp thuận kiến nghị này của Năm Lâm. Ông chính thức được bổ nhiệm làm Phó tổng giám đốc NHNN Việt Nam (tương đương Phó Thống đốc hiện nay) kiêm Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng và bắt đầu lèo lái con tàu lớn của ngành Ngân hàng này vào quỹ đạo đổi mới theo hướng vừa cấp phát vừa bắt đầu áp dụng cơ chế cấp tín dụng ưu đãi vốn Nhà nước trên nguyên tắc có vay có trả.
Có thể nói việc thành lập Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam là bước chuyển biến quan trọng nhất, tạo tiền đề mạnh mẽ để ngân hàng này từng bước trở thành một trong các ngân hàng chuyên doanh hàng đầu trong nền kinh tế. Bởi chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động dưới mô hình mới, Ngân hàng Đầu tư - Xây dựng đã hoàn thành việc cải tiến các phương pháp cung ứng và quản lý vốn đầu tư cơ bản, nâng cao vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế.
Thành công của những thử nghiệm có tính tiên phong mà Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam thực hiện trong giai đoạn 1981-1990 hình thành cơ chế mới trong đầu tư kinh tế, khơi dậy tiềm năng to lớn của toàn xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng.
Cũng chính sự đổi mới này mà liên tiếp trong các năm Tổng giám đốc Phạm Học Lâm lèo lái, nguồn vốn từ Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đã góp phần tích cực để hình thành hàng loạt những công trình to lớn có ý nghĩa thế kỷ của đất nước như: Thủy điện Sông Đà, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cảng Chùa Vẽ, nhà máy đóng tàu Hạ Long, nhà máy xi măng Bỉm Sơn…
Từ Moscow tìm vốn cho đất nước
Năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế theo hướng thị trường. Nhu cầu về lượng vốn đầu tư cơ bản tăng lên và nhu cầu xây dựng hạ tầng phát triển rộng rãi. Phó tổng giám đốc NHNN Phạm Học Lâm thêm một lần nữa trở lại Moscow với vai trò mới là Phó chủ tịch Ngân hàng Đầu tư quốc tế (MIB) tại Liên Xô.
Theo lời kể của ông, trong những năm trở lại Moscow, ông và các đồng nghiệp của mình đã nỗ lực hết mình để đàm phán, thương lượng giúp hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam nhận được vốn tài trợ từ MIB. Thậm chí có nhiều trường hợp dưới sự bảo lãnh của NHNN, thời kỳ này một số DN quốc doanh trong nước đã tiến hành các thương vụ mua nợ từ các TCTD quốc tế.
Chẳng hạn, năm 1989, dưới sự chỉ đạo của Thống đốc NHNN Cao Sỹ Kiêm, ông Lâm với tư cách Phó Chủ tịch của MIB đã tích cực làm thủ tục giúp Công ty Giày da và May mặc xuất khẩu (Legamex) tại TP.HCM vay 4,8 triệu USD từ Ngân hàng J. P. Morgan (Hoa Kỳ) để mua lại nợ của MIB với giá chỉ bằng 40% giá trị món nợ. Về sau, chính bà Nguyễn Thị Sơn, Giám đốc của Legamex cũng thừa nhận rằng từ việc NHNN bảo lãnh mua nợ của MIB, doanh nghiệp của bà đã được lợi 7,2 triệu USD. Quan trọng hơn là từ việc mua nợ này, sau đó Bộ Tài chính đã quyết định chuyển số vốn bảo lãnh thành vốn góp Nhà nước tại Legamex. Và như thế không chỉ doanh nghiệp hưởng lợi mà ngân sách Nhà nước thu được khá nhiều lợi nhuận từ phần vốn sở hữu tại Legamex.
Như vậy, có thể thấy, ngay từ những năm 1990 của thế kỷ trước, với tầm nhìn của mình, nguyên Phó tổng giám đốc Phạm Học Lâm đã là một trong những vị lãnh đạo cốt cán hướng hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (sau này là BIDV) vào mô hình kinh doanh mang tính thị trường.
Điều này tạo tiền đề để đơn vị “anh cả ngành Ngân hàng” này nhanh chóng thích ứng với việc chuyển đổi từ mô hình ngân hàng 1 cấp sang mô hình 2 cấp ngay khi Hội đồng Nhà nước công bố Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính vào giữa năm 1990. Để sau đó, hệ thống BIDV từ chỗ chỉ được ngân sách Nhà nước cấp vốn 200 tỷ đồng (năm 1990) đã trở thành một ngân hàng có tổng tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng, mỗi năm đóng góp cho ngân sách vài chục ngàn tỷ và cung ứng ra nền kinh tế một lượng vốn khổng lồ, ước khoảng 1,5 tỷ đồng mỗi năm.