Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Tạp chí Ngân hàng

Nhận thức của người dân nông thôn Việt Nam về tín dụng chính thức (số 8)

05/06/2017 22:28:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Nhận thức của người dân nông thôn Việt Nam về tín dụng chính thức

ThS. Nguyễn Thành Nam, ThS. Nguyễn Thanh Nhàn1

 

Dựa trên số liệu có được từ cuộc khảo sát 1.200 hộ gia đình thuộc 8 tỉnh Thái Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Nam, Đắc Lắc, Cần Thơ, và Đồng Nai, bài nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ nhận thức của người dân nông thôn về nguồn tín dụng chính thức tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, người dân có nhận thức ngày càng cao về nguồn vốn tín dụng ngân hàng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những yếu tố làm suy giảm mức độ nhận thức của người dân về tín dụng, đó là mức thu nhập thấp, công tác thông tin tuyên truyền về tín dụng chính thức của chính quyền, ngân hàng còn hạn chế, sự nhận thức chưa đầy đủ về tín dụng phi chính thức (hay còn gọi là tín dụng đen).

 

1. Giới thiệu

Trong những năm gần đây, chủ trương mở rộng tín dụng chính thức của Nhà nước đến các hộ gia đình nông thôn gặp nhiều khó khăn, do người dân có những hiểu biết rất «mơ hồ” về các dịch vụ tài chính của ngân hàng, trong khi đó, nguồn tín dụng đen ngày càng nở rộ, xâm nhập khắp các con đường, ngõ hẻm, phát triển cả về quy mô và mức độ tinh vi (núp bóng dưới mác các tiệm cầm đồ, những tờ rơi, lời mời cho vay,…). Điều đáng nói là bất chấp những cảnh báo trên các phương tiện thông tin về tác hại của tín dụng đen, số lượng người dân sử dụng hình thức tín dụng này ngày càng tăng lên. Điều này cho thấy nhận thức của người dân về những nguy hại của tín dụng đen còn chưa cao. Bài viết này sẽ đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc thay đổi nhận thức và đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường nhận thức của người dân về tín dụng chính thức.

 

2. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm tín dụng hộ gia đình và nhận thức

Tín dụng hộ gia đình là hình thức mà trong đó, ngân hàng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khách hàng phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi khi đáo hạn.

Nhận thức là một quá trình, mang tính tích cực của con người, là khả năng phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng với quan hệ của chúng trong nhận thức khách quan thông qua thực tiễn con người.

2.2. Giả thuyết về nhận thức và nhu cầu vốn tín dụng của người dân nông thôn

* Giả thuyết 1 (Người dân nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng chính thức): Người dân có nhu cầu và mong muốn được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức, nhưng tỷ lệ người dân được sử dụng vốn chính thức còn thấp vì chưa được cung cấp thông tin tín dụng và chưa nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền và các ngân hàng (hình 1).

Hình 1: Nhận thức và nhu cầu của người dân nông thôn về tín dụng chính thức

* Giả thuyết 2 (Người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng chính thức): Người dân không có nhu cầu hoặc ít có nhu cầu sử dụng vốn tín dụng chính thức. Do vậy, để nâng cao nhận thức cho người dân về tín dụng chính thức cần quan tâm đến các yếu tố thu nhập, học vấn, đẩy lùi tín dụng đen, công tác giáo dục nhận thức và thông tin tuyên truyền của chính quyền. (Hình 1)

3. Thuận lợi và khó khăn trong việc thay đổi nhận thức của người dân về tín dụng chính thức

3.1. Những thuận lợi

Thứ nhất, hộ gia đình sử dụng vốn tín dụng chính thức chiếm tỷ lệ cao. Điều tra theo khảo sát từ 1.200 hộ gia đình cho thấy, người dân được tiếp cận nguồn vốn chính thức càng nhiều, họ càng có những nhận thức tích cực về nguồn vốn này. Tỷ lệ hộ vay nguồn vốn chính thức chiếm 77,67%/tổng số hộ (932/1200), chưa kể đến khoảng 4,08% vay cả hai nguồn chính thức và phi chính thức. Chỉ khoảng hơn 20% người dân sử dụng nguồn vốn phi chính thức hoặc không có nhu cầu vay vốn. (Bảng 1)

Bảng 1: Nhu cầu sử dụng vốn của người dân nông thôn

Nhu cầu vay vốn

Số hộ

Tỷ trọng

Có vay

994

82,83%

Trong đó: Vay nguồn chính thức

932

77,67%

Vay nguồn phi chính thức

13

1,08%

Vay cả hai nguồn

49

4,08%

Không vay

206

17,17%

Trong đó: Không có nhu cầu

142

11,83%

Có nhu cầu nhưng không thể tiếp cận vốn

64

5,33%

Tổng số

1200

100%

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

 

Có khoảng 17,17% hộ gia đình không có bất cứ khoản vay nào. Điều tra về lý do các hộ gia đình này không vay vốn thì có 11,83% trả lời rằng họ thực sự không có nhu cầu vay, còn lại có 5,33% nói rằng họ cũng mong muốn vay vốn, nhưng không thể tiếp cận được vốn vay vì các nguyên nhân chủ yếu như: Nhu cầu vay vốn không thuộc diện được vay; Thủ tục vay vốn phức tạp, mất nhiều thời gian; Không có thông tin về các sản phẩm vay vốn; Không đáp ứng các điều kiện về bảo đảm tiền vay; Lãi vay vốn cao so với khả năng chi trả.

Thứ hai, những hộ gia đình đã từng vay vốn chính thức có những đánh giá tích cực về tác động của nguồn tín dụng này tới đời sống của họ. Sự đánh giá này dựa trên 11 tiêu chí (Bảng 2).

Bảng 2: Đánh giá tác động của nguồn vốn tín dụng chính thức tới hộ gia đình

Tiêu chí

Suy giảm nhiều

Suy giảm ít

Không đổi

Cải thiện ít

Cải thiện nhiều

Mức thu nhập

0,00%

0,00%

11,45%

32,82%

55,73%

Mức tiết kiệm

0,00%

1,53%

16,79%

32,82%

48,85%

Mức độ tiếp cận các dịch vụ giáo dục

0,00%

0,00%

20,61%

41,22%

38,17%

Mức độ tiếp cận các dịch vụ đào tạo nghề

0,00%

0,00%

25,19%

39,69%

35,11%

Mức độ tham gia bảo hiểm y tế

0,00%

0,00%

22,14%

32,82%

45,04%

Mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế, thuốc men

0,00%

0,00%

24,43%

34,35%

41,22%

Mức độ sử dụng nước sạch

0,00%

0,00%

20,61%

31,30%

48,09%

Mức độ hợp vệ sinh của nhà tiêu

0,00%

0,00%

16,79%

35,88%

47,33%

Đời sống văn hóa tinh thần

0,00%

0,76%

13,74%

35,11%

50,38%

Khả năng quản lý chi tiêu của hộ

0,00%

0,00%

29,01%

27,48%

43,51%

Mua sắm đất đai, xây mới, sửa sang nhà cửa

0,00%

0,00%

32,82%

25,95%

41,22%

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Đa số các hộ gia đình đánh giá tín dụng ngân hàng có đóng góp lớn trong việc cải thiện cả 11 tiêu chí. Trong đó, khoảng 88,55% hộ gia đình nói rằng họ đã có được cải thiện ít nhiều về mức thu nhập, và khoảng 85,49% được cải thiện về đời sống văn hóa tinh thần. Ngoài ra, các tiêu chí về mức tiết kiệm, mức độ sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh đã được cải thiện nhiều theo đánh giá của 47% hộ gia đình. Liên quan đến mua sắm đất đai, xây mới, sửa sang nhà cửa, chỉ có khoảng 32,82% hộ gia đình cho rằng tín dụng không có bất cứ đóng góp gì. Không có hoặc có rất ít hộ gia đình (dưới 2%) cho rằng tín dụng làm suy giảm trong cả 11 tiêu chí. Những điều này thể hiện các hộ gia đình vay vốn đã có những nhận thức tích cực và ghi nhận những đóng góp của tín dụng chính thức cho đời sống vật chất và tinh thần của họ.

Thứ ba, trình độ học vấn của người dân ngày càng được nâng cao. Trình độ học vấn có mối quan hệ tích cực với nhận thức. Trình độ học vấn của người dân cao sẽ cho phép họ tăng khả năng tiếp cận và phân tích các nguồn thông tin, từ đó có thể nhận biết và lựa chọn được nguồn vốn phù hợp với năng lực trả nợ và mục đích sử dụng vốn vay, năng lực nhận thức của họ về tín dụng ngân hàng theo đó sẽ được nâng lên. Số liệu hình 2 cho thấy trình độ học vấn của các chủ hộ khá cao. Trong các hộ vay vốn chính thức, các chủ hộ có trình độ trung học phổ thông chiếm 53,17%, khoảng 12,67% chủ hộ có trình độ đại học cao đẳng, những chủ hộ không có bằng cấp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (5,56%) thường là những chủ hộ lớn tuổi, lúc trẻ do ảnh hưởng của chiến tranh hoặc cuộc sống khó khăn phải nghỉ học để phụ giúp gia đình. (Hình 2)

Hình 2: Trình độ học vấn của người dân nông thôn (tỷ lệ %)

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Thứ tư, người dân sở hữu kinh nghiệm nông nghiệp lâu đời. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức, kinh nghiệm càng nhiều thì khả năng nhận thức vấn đề càng đầy đủ và sâu sắc. Thực tế khảo sát cho thấy, nông nghiệp là nghề truyền thống qua các thế hệ của các hộ gia đình địa phương, bằng việc tích lũy kinh nghiệm trong việc trồng trọt, chăn nuôi, người nông dân có khả năng thực hành, kỹ thuật quản lý nông trại tốt và ứng phó linh hoạt trước sự thay đổi của khí hậu, chủ động thay đổi lịch mùa vụ cho phù hợp với thời điểm được cấp tín dụng, họ cũng có thể dự kiến trước những rủi ro có thể phát sinh như bệnh dịch, thiên tai trong sản xuất kinh doanh. Dựa trên kinh nghiệm, các hộ gia đình luôn nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của nguồn vốn đầu vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, do đó luôn có nhiều nỗ lực để có thể tiếp cận được nguồn tín dụng.

Thứ năm, kỳ vọng cao của người dân về chính sách tín dụng chính thức. Người dân có kỳ vọng cao về hiệu quả, chất lượng của một chính sách tín dụng sẽ có nhận thức tốt về tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng. Thực tế cho thấy, các hộ gia đình đặt ra nhiều kỳ vọng vào chính sách tín dụng, được thể hiện qua những đề xuất của các hộ gia đình đối với ngân hàng (Bảng 3). Khoảng trên 57% người dân được hỏi có đề xuất với ngân hàng nên đơn giản thủ tục vay, ưu đãi lãi suất và cung cấp sản phẩm cho vay phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh, khá nhiều hộ (khoảng 46,67%) đề xuất tăng mức vốn cấp tín dụng, và gần 40% tỷ lệ hộ mong muốn điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, giảm lãi khi người vay gặp khó khăn, đồng thời một số hộ cũng kiến nghị ngân hàng nới lỏng các điều kiện hồ sơ vay vốn. Như vậy, kỳ vọng tích cực của hộ gia đình được thể hiện qua những nguyện vọng chính đáng gửi tới ngân hàng sẽ có những ảnh hưởng tốt đến nhận thức của họ về tầm quan trọng của chính sách tín dụng chính thức đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Bảng 3: Đề xuất của hộ gia đình về chính sách cho vay

STT

Tiêu chí

Tỷ lệ hộ

1

Đơn giản hóa thủ tục vay vốn

58,67%

2

Có các chính sách ưu đãi về lãi suất

57,33%

3

Phát triển sản phẩm cho vay phù hợp với nhu cầu, đặc thù SXKD của hộ

58,00%

4

Tăng giá trị tối đa các khoản vay

46,67%

5

Nới lỏng điều kiện về hồ sơ pháp lý

14,67%

6

Nới lỏng điều kiện về năng lực tài chính

6,00%

7

Nới lỏng các điều kiện về phương án SXKD

12,00%

8

Nới lỏng điều kiện bảo đảm tiền vay

12,67%

9

Tăng cường hướng dẫn hộ làm thủ tục vay vốn

13,33%

10

Cho phép điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ khi người vay gặp khó khăn

38,67%

11

Miễn, giảm lãi, xóa nợ khi người vay gặp khó khăn

37,33%

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

3.2. Một số khó khăn

Mức thu nhập của người dân còn thấp. Mức thu nhập có ảnh hưởng tới năng lực nhận thức của con người. Khi thu nhập hộ gia đình cao cho phép họ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch, thỏa mãn được nhu cầu thông tin qua internet, tivi,… Do đó, sức khỏe và trí tuệ sẽ được nâng cao, làm tăng năng lực nhận thức của chính họ. Ngược lại, thu nhập thấp sẽ khó có điều kiện gia tăng năng lực nhận thức. Kết quả khảo sát cho thấy, khoảng 71,08% hộ gia đình có mức thu nhập hàng tháng dưới 5 triệu đồng, sau khi trừ đi các chi phí sinh hoạt hàng tháng thì mức tiết kiệm của họ không còn lại được bao nhiêu, thậm chí có khoảng trên 28% hộ gia đình có mức tiết kiệm 0 (không) đồng mỗi tháng. Với mức thu nhập thấp như vậy sẽ rất khó khăn trong việc đầu tư các dịch vụ giáo dục, y tế, và tiếp cận các nguồn thông tin về tín dụng, từ đó ảnh hưởng không tốt đến nhận thức của họ về tín dụng chính thức.

Công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người dân về tín dụng chính thức còn hạn chế. Quá trình giáo dục nhận thức cho người dân hiểu, tin tưởng và đi đến quyết định tiếp cận nguồn tín dụng chính thức là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay nhiều người dân có những hiểu biết rất sơ sài về các dịch vụ tài chính - ngân hàng nên “ngại” tiếp cận nguồn vốn vay chính thức. Điều này là do công tác thông tin tuyên truyền của ngân hàng, của các cấp chính quyền đối với người dân còn hạn chế, chưa tạo ra sức mạnh giáo dục lan tỏa tới nhận thức của mọi người dân. Đa số người dân (khoảng 72,14%) khi được hỏi về các kênh thông tin họ tiếp cận về chính sách tín dụng chính thức đều trả lời rằng tivi, đài báo là nguồn thông tin chủ yếu, một số khác (khoảng 15,23%) trả lời rằng thông tin biết được qua các buổi họp trong các tổ chức Hội (Hội phụ nữ, Hội nông dân, Tổ tiết kiệm), và chỉ có 12,63% người dân nói có được thông tin từ công tác tuyên truyền của ngân hàng - một chủ thể chính trong việc phân phối, thực hiện cấp nguồn vốn cho khu vực này.

Những giới hạn trong việc hỗ trợ người dân của chính quyền, và đặc biệt của các ngân hàng đã khiến cho người dân chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn, ảnh hưởng không tốt đến nhận thức của người dân về chính sách tín dụng chính thức. Khi được hỏi về sự hỗ trợ, các hộ gia đình nói rằng, chính quyền địa phương mới chỉ dừng lại ở hỗ trợ kỹ thuật sản xuất kinh doanh (17,97%), hỗ trợ về đầu vào sản xuất kinh doanh (10,3%). Về phía ngân hàng - chủ thể được kỳ vọng nhiều nhất trong việc hỗ trợ người dân về thông tin tín dụng, hồ sơ vay, khối lượng vốn, lãi suất vay,… cũng chủ yếu giúp đỡ về đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh (76,56%), một tỷ lệ khá khiêm tốn 35,16% là sự hỗ trợ về đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh, tư vấn, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ vay vốn,…

Người dân vẫn có thái độ tích cực với nguồn tín dụng phi chính thức. Nhiều người dân có ấn tượng tốt về hình thức tín dụng phi chính thức. Hình thức tín dụng này là quan hệ tín dụng trực tiếp chủ yếu dựa trên “sự quen biết”, được hình thành khi các hộ gia đình vay vốn từ người thân, họ hàng, bạn bè và kênh tín dụng đen. Cuộc khảo sát đặt ra câu hỏi về lý do các hộ gia đình thực hiện vay vốn phi chính thức thì có đến 88,89% câu trả lời là họ có nhu cầu gấp về vốn nên phải “vay nóng”. Khoảng 55,56% hộ gia đình nói rằng vì thủ tục vay vốn phi chính thức nhanh chóng, không cần tài sản thế chấp, lãi suất vay thấp, thậm chí không phải trả lãi nếu vay người thân bạn bè (Bảng 4). Ngoài ra, hình thức này còn có ưu điểm là thủ tục vay rất đơn giản, nhanh gọn (thời gian giải ngân nhanh và thường trong ngày sau khi đạt được thỏa thuận, có thể bảo đảm bằng tài sản hoặc bằng “niềm tin”), không cần có phương án sản xuất kinh doanh, không cần chứng minh năng lực tài chính,... Tuy nhiên, gần như 100% hộ gia đình đều thống nhất rằng, nhược điểm của hình thức vay phi chính thức là khối lượng vốn vay ít, khó đáp ứng đủ nhu cầu vốn, thời gian vay ngắn, không yên tâm trong việc sử dụng vốn (vì có thể bị người thân, bạn bè truy đòi bất cứ thời điểm nào).

Bảng 4: Lý do hộ gia đình vay từ nguồn phi chính thức

Lý do

Tỷ lệ câu trả lời

Không biết, không có thông tin về nguồn vay chính thức

0 %

Nhu cầu vay vốn không thuộc diện được vay vốn chính thức

22,22 %

Không đáp ứng được điều kiện về hồ sơ pháp lý vay vốn chính thức

22,22 %

Không đáp ứng được điều kiện về phương án SXKD khi vay vốn chính thức

22,22 %

Không đáp ứng điều kiện về năng lực tài chính khi vay vốn chính thức

0 %

Không đáp ứng điều kiện về đảm bảo tiền vay khi vay vốn chính thức

22,22 %

Nhu cầu vay vốn quá gấp

88,89 %

Thủ tục vay vốn từ nguồn phi chính thức dễ dàng, nhanh chóng

55,56 %

Lãi suất vay vốn từ nguồn phi chính thức phù hợp với khả năng tài chính (vay từ họ hàng, bạn bè)

14,25 %

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Để khắc phục nhược điểm này nhiều người dân đã tiếp cận kênh tín dụng đen bất chấp việc phải trả lãi suất cao. Với hình thức tín dụng đen, người vay có thể thỏa mãn khối lượng vốn theo nhu cầu, không bị giới hạn như vay người thân bạn bè; và thời gian vay dài hơn, ổn định hơn. Như vậy, ấn tượng của người dân về tín dụng phi chính thức vẫn rất tốt, gây khó khăn cho việc thay đổi nhận thức của người dân hướng về kênh tín dụng chính thức.

Hình thức tín dụng đen đang xuất hiện ngày càng nhiều ở khu vực nông thôn. Tín dụng đen là hoạt động cho vay dân sự giữa các cá nhân, tổ chức không qua hệ thống tín dụng chính thức. Hình thức này bị pháp luật cấm nhưng nó vẫn hoạt động ngầm, diễn ra âm thầm và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội. Sự nguy hiểm của nó nằm ở lãi suất cho vay theo nguyên tắc thỏa thuận, thường cao hơn nhiều so với lãi suất tín dụng chính thức. Người vay khó mà trả được nợ bởi “lãi mẹ đẻ lãi con”, và nợ chồng lên nợ khiến họ vướng vào vòng vay nợ luẩn quẩn, bế tắc. Đến hạn trả, khi người vay không trả được nợ, cũng là lúc các hình thức đòi nợ thuê, liên quan đến xã hội đen xuất hiện, gây bất ổn kinh tế, bất an xã hội. Tại Việt Nam, hoạt động tín dụng đen đã “ẩn nấp” từ rất lâu, nhưng từ năm 2011 mới bùng phát mạnh mẽ. Hình thức tín dụng này có cơ hội phát triển vì hai lý do:

   (i) Nguồn tín dụng chính thức có xu hướng giảm dần do tác động chính sách thắt chặt tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, lo ngại nợ xấu của các ngân hàng gia tăng (giai đoạn 2011-2014). Do đó người dân sẽ tự động tìm đến kênh tín dụng đen để đáp ứng đủ nhu cầu vốn.

(ii) Người dân khó tiếp cận nguồn tín dụng chính thức do không đủ điều kiện vay vốn, hoặc họ đang có nhu cầu gấp về vốn, nhưng ngại phải tiếp xúc kênh tín dụng chính thức với thủ tục vay vốn phức tạp, mất nhiều thời gian xử lý hồ sơ vay. Vì vậy, họ tìm đến tín dụng đen như một kênh có thủ tục cho vay đơn giản, nhanh gọn, đáp ứng đủ nhu cầu vốn và thời hạn vay dài.

Như vậy, tín dụng đen sẽ có cơ hội bùng phát nếu tín dụng chính thức không đủ đáp ứng vốn cho người dân hoặc người dân không thể tiếp cận được vì không đủ điều kiện vay vốn. Điều này sẽ làm suy giảm nhận thức của họ về tầm quan trọng của tín dụng chính thức, thay vào đó họ có góc nhìn tích cực về tín dụng đen xét trên khía cạnh thủ tục đơn giản và thỏa mãn đủ nhu cầu vốn.

 

4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức người dân nông thôn về tín dụng chính thức

Một là, chính quyền cần có những giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân có việc làm và thu nhập ổn định. Nên tích cực tuyên truyền vận động bà con nông dân tận dụng nguồn đất đai để sản xuất, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nông nghiệp, mở rộng sản xuất hàng hóa, tăng sản lượng. Trong trồng trọt, người dân nên trồng thử nghiệm, tiến tới thực hiện rộng rãi những mô hình trồng cây có giá trị kinh tế. Trong chăn nuôi, nên khuyến khích người dân áp dụng mô hình chăn nuôi mang lại thu nhập cao như nuôi lợn nái, gà thả vườn, nuôi ong lấy mật…; phối hợp với trung tâm khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn về chăn nuôi, cách phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi.

Hai là, ngân hàng cần phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người dân nông thôn về các sản phẩm dịch vụ tài chính - ngân hàng. Mở các lớp tập huấn, lớp học phổ biến kiến thức về vai trò của tín dụng chính thức trong việc cải thiện đời sống nhân dân, tuyên dương và giới thiệu các tấm gương điển hình đã sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thành công trong việc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập. Thông tin, tuyên truyền, chia sẻ kiến thức, giới thiệu các gói sản phẩm dịch vụ tín dụng và tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng trong việc xây dựng và hoàn thiện hồ sơ vay vốn, lập phương án sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế - xã hội
địa phương.

Ba là, Nhà nước, các ngân hàng nên tăng cường khơi thông nguồn vốn tới tay người dân. Tăng khả năng cung ứng vốn cho các hộ gia đình nông thôn, đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, nới lỏng các điều kiện tài sản đảm bảo, hướng dẫn, tư vấn cho người dân trong việc lập và hoàn thiện phương án sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, Nhà nước nên khuyến khích thành lập và phát triển các định chế tài chính vi mô để đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ, tài chính vi mô trong khu vực nông nghiệp. Hiện nay, tỷ lệ tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ tài chính của Việt Nam thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Số lượng chi nhánh ngân hàng thương mại tính trên 100.000 người của Việt Nam là 3,6; trong khi tại Thái Lan là 11,3; Indonesia là 8,5; Philippines là 8,1.

Bốn là, Nhà nước, chính quyền địa phương nên có biện pháp mạnh nhằm thu hẹp và đẩy lùi tín dụng đen. Tín dụng đen có cơ hội phát triển cả về quy mô, mức độ tinh vi có một nguyên nhân quan trọng thuộc về nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết của người dân, sử dụng tín dụng đen mà không lường trước được mối hiểm họa của chúng. Ngoài ra, sự hạn chế kiến thức về pháp luật khiến người dân vay nợ có thể ký bất cứ giấy tờ nào giữa họ và chủ nợ ngay trước mặt công chứng viên tại phòng công chứng, mà không hề biết những điều khoản, ràng buộc giao dịch trong hợp đồng có thể gây bất lợi cho chính họ. Do vậy, để đẩy lùi tín dụng đen trước hết phải phát huy vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội cùng tham gia tuyên truyền nâng cao hiểu biết người dân về vai trò của tín dụng chính thức, chú trọng công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong giao dịch vay nợ tới người dân. Đồng thời, tuyên truyền mạnh mẽ để mọi người hiểu được những mặt trái của hoạt động cho vay nặng lãi, những biểu hiện, hành vi, thủ đoạn của những kẻ hoạt động trong thế giới tín dụng ngầm, và dẫn chứng những vụ trọng án liên quan đến tín dụng đen làm cảnh báo người dân xa lánh tín dụng đen. Cuối cùng là Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nên kiểm soát tốt hoạt động tài chính, ngăn chặn hệ thống tài chính ngầm, xử lý nghiêm những cán bộ tín dụng tiếp tay cho tín dụng đen; tăng cường khả năng phát hiện, đấu tranh phòng ngừa các hành vi kinh doanh trái phép như buôn lậu, gian lận thương mại, rửa tiền.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Bùi Thị Minh Thơ, 2010. Phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn - tỉnh Vĩnh Long, Đại học Cần Thơ.

2. Đường Thu Trang, 2013. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Luận văn thạc sĩ. Học viện Ngân hàng.

3. Frankellis, 1993. Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh: NXB Nông nghiệp.

4. Ho, G., 2004. Rural credit markets in Vietnam: Theory and practice, Grand prize thesis. Macalester College.

5. Hồng Anh, 2015. Chính sách tín dụng mới phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Báo Nhân dân điện tử.

6. Lê Minh Tiến, 2007. Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay và xác định nhu cầu vay vốn của các nông hộ ở huyện Tam Bình - tỉnh Vĩnh Long. Đại học Cần Thơ.

7. Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung, 2010. Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân: trường hợp nghiên cứu ở vùng cận ngoại thành Hà Nội. Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Tập 8, số 1: 170-177.

8. Vương Quốc Duy và Lê Long Hậu, 2012. Vai trò của tín dụng chính thức trong đời sống nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đại học Cần Thơ.

 

1 Khoa Ngân hàng – Học viện Ngân hàng


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Tạp chí Ngân hàng
CÁC TIN KHÁC
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
23/04/2025
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
18/04/2025
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
10/04/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
31/03/2025
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
28/03/2025
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/03/2025
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
28/03/2025
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
18/03/2025
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
18/03/2025
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
18/03/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready