Ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006-2016
Ts. Lê Long Hậu1
ThS. Phạm Xuân Quỳnh2
Sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của 26 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016, nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả ước lượng dữ liệu bảng cho thấy thu nhập ngoài lãi có mối tương quan thuận với hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng, tăng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, kinh doanh, đầu tư thì khả năng sinh lời sẽ tăng. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho tỷ lệ dư nợ cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát đều có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM
1. Giới thiệu
Một trong các nội dung cơ cấu lại hoạt động tài chính các tổ chức tín dụng (TCTD) trong Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 là: “Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng”. Điều này cho thấy các NHTM Việt Nam đang ngày càng chú trọng hơn đến các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi (TNNL) trong bối cảnh hoạt động tín dụng có quá nhiều rủi ro, nguồn thu từ tín dụng chưa thật sự ổn định.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của TNNL đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Theo Klein và Saidenberg (1997), việc kết hợp các dịch vụ ngân hàng sẽ tạo ra thu nhập ổn định, tối ưu hóa chi phí quản lý và đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng; các ngân hàng với hoạt động kinh doanh phi lãi làm giảm sự biến động của lợi nhuận (Santomero and Chung, 1992). Đối với các NHTM Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) đã cho thấy đa dạng hóa thu nhập, tăng tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi là có lợi cho các NHTM Việt Nam vì giúp tăng khả năng sinh lời cũng như hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro cho ngân hàng. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào cho thấy tác động cụ thể của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Dựa trên nền tảng nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016), nghiên cứu này tiếp tục phân tích mức độ ảnh hưởng trực tiếp của sự thay đổi trong tỷ lệ TNNL nói chung, và của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam.
2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm
TNNL là khoản thu nhập của NHTM được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Tỷ lệ TNNL càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010).
Khi phát triển các hoạt động tạo TNNL như kinh doanh, đầu tư, các hoạt động dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ, thì NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng. Do vậy, giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng. Mở rộng các hoạt động ngoài lãi còn giúp ngân hàng phân tán và giảm rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dung. Về mặt lý thuyết, đa dạng hóa thu nhập, tăng tỷ lệ TNNL có thể tạo ra nguồn thu nhập hoạt động ổn định hơn cho ngân hàng, từ đó cải thiện hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro (Odesanmi và Wolfe, 2007). Hay theo Chiorazzo và cộng sự (2008), Baele và cộng sự (2007) cũng cho rằng tăng nguồn TNNL sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động đối với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn thì sự tác động càng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, DeYoung và Rice (2003) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa TNNL và hiệu suất tài chính của các NHTM Mỹ và kết luận rằng tỷ lệ TNNL tác động cùng chiều đến ROE. Hoặc theo Gürbüz và cộng sự (2013) bởi vì thị phần của TNNL là không đủ cao nên chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong thị phần của TNNL vẫn có ảnh hưởng đến lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm không hoàn toàn ủng hộ điều này.
3. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố trong các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, báo cáo thường niên của 26 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016 (chiếm tỷ lệ 59,09% trên tổng hệ thống; hoặc chiếm 74,29% nếu không kể các ngân hàng liên doanh và 100% vốn nước ngoài; hoặc chiếm 83,87% nếu chỉ tính trên các NHTM).1 Dữ liệu được thu thập trên website của các NHTM, Ngân hàng Nhà nước và các chỉ số kinh tế vĩ mô thu thập từ IMF và Tổng cục thống kê Việt Nam.
Đo lường tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Để đo lường mức độ đóng góp của hoạt động ngoài lãi, tác giả sử dụng tỷ lệ từng nguồn thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động. Như các nghiên cứu trước, nhóm tác giả chia TNNL theo 3 thành phần: thu nhập từ dịch vụ - (COM), thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư - (TRAD), TNNL khác - (OTH) (Chiorazzo và ctg, 2008; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015), cụ thể:
ICOCOM = COM/(NET+NON)
ICOTRAD = TRAD/(NET+NON)
ICOOTH = OTH/(NET+NON)
ICONON = ICOCOM + ICOTRAD + ICOOTH
Trong đó: ICONON là tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi; ICOCOM là tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ; ICOTRAD là tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và ICOOTH là tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động ngoài lãi khác. NON là thu nhập thuần ngoài lãi và NET là thu nhập thuần từ lãi. Khi tính toán biến ICONON, nếu các khoản thu nhập thuần ngoài lãi đều có giá trị âm thì xem như ICONON = 0%, ngân hàng không đa dạng hóa thu nhập (Thi Canh Nguyen và ctg, 2014).
Tiếp theo, để đo lường hiệu quả kinh doanh ngân hàng, nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu khả năng sinh lời trên tài sản - (ROA) và khả năng sinh lời trên VCSH - (ROE). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích khía cạnh rủi ro khi ngân hàng tăng TNNL thông qua việc đo lường hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro (SHROA và SHROE). Theo như Chiorazzo và ctg (2008), SHROA - SHROE được đo lường như sau:
SHROAi,t =ROAi,t/σROAi; SHROEi,t = ROEi,t/σROEi
SHROAi,t =ROAi,t/σROAi ; SHROEi,t =ROEi,t/σROEi
Trong đó: N là số năm quan sát (11 năm, từ năm 2006 đến năm 2016), xt là ROA (hoặc ROE) tại năm t, μ là giá trị trung bình của ROA (hoặc ROE) trong giai đoạn quan sát.
Mô hình nghiên cứu
Để đo lường tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu dựa theo nghiên cứu của Chiorazzo và ctg (2008), đồng thời thay đổi một số biến độc lập cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Cụ thể nhóm tác giả ước lượng mô hình sau:
Yi,t = α1 + α2ICOCOMi,t + α3ICOTRADi,t + α4ICOOTHi,t + α5TAi,t + α6LOANi,t + α7EQUITYi,t + α8COSTi,t + α9DTLi,t + α10INFi,t + α11GDPi,t + εi,t (3.1)
Trong đó Yi,t lần lượt là các biến phụ thuộc ROA, ROE đo lường hiệu quả kinh doanh và SHROA, SHROE đo lường hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro.
Giống với nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016), nghiên cứu này sử dụng thêm một số biến kiểm soát trong mô hình bao gồm:
TA - Quy mô ngân hàng: các ngân hàng lớn có thể đầu tư nhiều hơn về mặt công nghệ và quản lý, do đó, hiệu quả hoạt động cũng như khả năng quản lý rủi ro và có các cơ hội khai thác TNNL tốt hơn (DeYoung và Rice, 2003; Chiorazzo và ctg., 2008). Nghiên cứu chỉ sử dụng biến TA trong trường hợp biến phụ thuộc là ROE và SHROE. Biến TA đo lường bằng logarit tổng tài sản của ngân hàng.
LOAN - Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản: đại diện cho tác động của chiến lược cho vay trên hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Theo Chiorazzo và cộng sự (2008), Stiroh (2004), các ngân hàng tập trung vào mục đích cho vay sẽ ít chú ý đến các hoạt động khác và ngược lại.
EQUITY - Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản: khi ngân hàng có tỷ lệ VCSH cao được xem là an toàn, tránh được rủi ro thanh khoản và tạo được niềm tin với khách hàng; bên cạnh đó, các ngân hàng có nhiều VCSH sẽ có lợi thế cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính hơn cho khách hàng. Nghiên cứu chỉ sử dụng biến này trong trường hợp biến phụ thuộc là ROA và SHROA, (Chiorazzo và cộng sự, 2008)
COST - Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản: khi chi phí tiền lương tăng nhanh hơn so với thu nhập từ hoạt động mới sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (Lepetit và cộng sự, 2007; Thi Canh Nguyen và cộng sự, 2015).
DTL - Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ phải trả: chỉ tiêu này cho thấy cấu trúc tài trợ của ngân hàng. Tỷ lệ này cao sẽ gia tăng hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng do tiết kiệm được chi phí vốn vì nguồn vốn từ tiền gửi khách hàng được cho là nguồn tài trợ ổn định và rẻ hơn so với các nguồn tài trợ khác.
GDP - Tăng trưởng kinh tế: GDP thực đo lường khả năng tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng và ngược lại.
INF - Tỷ lệ lạm phát: được đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI. Lạm phát tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng thông qua lương và chi phí hoạt động khác của ngân hàng (Revell, 1979).
Phương pháp ước lượng
Hồi qui với dữ liệu bảng được ước lượng bằng hai mô hình: mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình FEM hay REM. Đồng thời, các kiểm định liên quan đến mức độ tin cậy của mô hình hồi qui với dữ liệu bảng cũng được thực hiện một cách thích hợp như: kiểm định đa cộng tuyến thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF) và phương sai sai số thay đổi thông qua kiểm định Wald (Baltagi, 2008).
4. Kết quả nghiên cứu
Kết quả thống kê mô tả cho thấy các biến số có phân phối chuẩn và không phát hiện sự tồn tại của các quan sát dị biệt (outliers). Tương tự, kết quả ước lượng ma trận hệ số tương quan cho thấy hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến độc lập trong các mô hình hồi qui đều có trị tuyệt đối nhỏ hơn 0,8 nên đa cộng tuyến không là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến kết quả ước lượng của mô hình hồi qui (Gujarati, 2004).
Kết quả ước lượng các mô hình hồi qui được trình bày trong các bảng 1 và 2. Kết quả kiểm định Hausman cho thấy rằng đối với các mô hình ước lượng ảnh hưởng của TNNL đến ROA và ROE thì FEM thích hợp hơn. Ngược lại, đối với các mô hình ước lượng ảnh hưởng của TNNL đến SHROA và SHROE thì REM thích hợp hơn. Do đó, trong phần nội dung phía sau nhóm tác giả sẽ chỉ trình bày mô hình được chọn lựa và thảo luận kết quả dựa trên các mô hình này. Ngoài ra, kết quả kiểm định ở tất cả các mô hình đều cho thấy rằng có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong các mô hình. Để khắc phục sự ảnh hưởng này đến giá trị sai số chuẩn của các hệ số hồi qui, nhóm tác giả sử dụng ma trận hiệp phương sai điều chỉnh của Huber/White (Huber/White estimator hay sandwich estimator) để ước lượng.
Bảng 1: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là ROA và ROE |
||||
Biến phụ thuộc |
ROA |
ROA |
ROE |
ROE |
Mô hình |
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
ICONON |
0,0168*** |
|
0,0904** |
|
|
(0,0053) |
|
(0,0412) |
|
ICOCOM |
|
0,0213** |
|
0,1441* |
|
|
(0,0094) |
|
(0,0711) |
ICOTRAD |
|
0,0118** |
|
0,1075* |
|
|
(0,0047) |
|
(0,0530) |
ICOOTH |
|
0,0232** |
|
0,0431 |
|
|
(0,0109) |
|
(0,0597) |
TA |
|
|
-0,0024 |
-0,0016 |
|
|
|
(0,0050) |
(0,0051) |
LOAN |
0,0154 |
0,0158 |
0,0373 |
0,0347 |
|
(0,0094) |
(0,0095) |
(0,0653) |
(0,0663) |
EQUITY |
0,0330*** |
0,0328*** |
|
|
|
(0,0106) |
(0,0104) |
|
|
COST |
-0,2724* |
-0,2790** |
-0,9531* |
-0,7557 |
|
(0,1299) |
(0,1329) |
(0,4922) |
(0,5300) |
DTL |
-0,0106** |
-0,0102** |
-0,1127** |
-0,1137** |
|
(0,0050) |
(0,0048) |
(0,0412) |
(0,0426) |
GDP |
0,1437*** |
0,1434*** |
1,1791*** |
1,1984*** |
|
(0,0336) |
(0,0323) |
(0,2937) |
(0,3067) |
INF |
0,0223*** |
0,0223*** |
0,1901*** |
0,1894*** |
|
(0,0077) |
(0,0077) |
(0,0675) |
(0,0668) |
Hằng số |
-0,0035 |
-0,0038 |
0,1117 |
0,0921 |
|
(0,0041) |
(0,0041) |
(0,1121) |
(0,1152) |
Số quan sát |
268 |
268 |
268 |
268 |
R bình phương |
43,34% |
44,51% |
32,89% |
33,72% |
Kiểm định F |
22,52*** |
24,90*** |
13,65*** |
13,49*** |
H0:α2= α3=0 |
|
4,98** |
|
3,42** |
H0:α3= α4=0 |
|
4,60** |
|
2,10 |
H0:α2= α4=0 |
|
4,55** |
|
2,26 |
Bảng 1 trình bày kết quả hồi quy theo mô hình FEM với biến phụ thuộc là ROA và ROE. Mô hình (1) và (3) cho thấy tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi có mối tương quan thuận với khả năng sinh lời trên tài sản và VCSH, hay nói cách khác, ngân hàng mở rộng hoạt động theo hướng tăng các khoản TNNL là có lợi cho ngân hàng. Cụ thể, khi xét ảnh hưởng của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh, kết quả nghiên cứu ở mô hình (2) và (4) cho thấy tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh, đầu tư và các hoạt động ngoài lãi khác có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Như vậy, kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy rằng phát triển theo hướng tăng tỷ trọng của các hoạt động tạo TNNL như các hoạt động cung cấp dịch vụ, kinh doanh, đầu tư là giải pháp để ngân hàng tăng hiệu quả kinh doanh.
Bảng 2: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là SHROA và SHROE |
||||
Biến phụ thuộc |
SHROA |
SHROA |
SHROE |
SHROE |
Mô hình |
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
ICONON |
1,5454*** |
|
1,1924* |
|
|
(0,5014) |
|
(0,6181) |
|
ICOCOM |
|
2,8076** |
|
2,6784** |
|
|
(1,1524) |
|
(1,1609) |
ICOTRAD |
|
1,3883** |
|
1,1815* |
|
|
(0,5866) |
|
(0,6322) |
ICOOTH |
|
1,2907* |
|
0,6276 |
|
|
(0,7448) |
|
(1,0504) |
TA |
|
|
0,0166 |
0,0209 |
|
|
|
(0,0860) |
(0,0836) |
LOAN |
1,3922* |
1,3523* |
1,1783 |
1,1170 |
|
(0,7732) |
(0,7732) |
(0,9539) |
(0,9603) |
EQUITY |
2,7733** |
2,7871*** |
|
|
|
(1,0867) |
(1,0067) |
|
|
COST |
-15,7048* |
-14,6970 |
-11,9078 |
-9,6217 |
|
(8,6191) |
(9,4984) |
(8,3633) |
(9,5697) |
DTL |
-1,2813** |
-1,2745** |
-1,6960** |
-1,6938** |
|
(0,5919) |
(0,5871) |
(0,7384) |
(0,7471) |
GDP |
25,0058*** |
24,7313*** |
25,2385*** |
25,0887*** |
|
(4,9037) |
(4,9906) |
(4,4350) |
(4,8260) |
INF |
3,4302*** |
3,3487*** |
3,2245*** |
3,1448*** |
|
(0,9520) |
(0,9446) |
(1,1356) |
(1,1208) |
Hằng số |
-0,1281 |
-0,1731 |
0,4680 |
0,3192 |
|
(0,5248) |
(0,5073) |
(1,827) |
(1,7994) |
Số quan sát |
268 |
268 |
268 |
268 |
R bình phương |
37,64% |
37,99% |
30,62% |
31,45% |
Kiểm địnhWald |
347,74*** |
539,51*** |
308,16*** |
383,17*** |
H0:α2= α3=0 |
|
8,75** |
|
6,25** |
H0:α3= α4=0 |
|
7,02** |
|
3,54 |
H0:α2= α4=0 |
|
6,96** |
|
5,36* |
Bảng 2 trình bày kết quả hồi quy theo mô hình REM với biến phụ thuộc là SHROA và SHROE. Khi xét tới yếu tố rủi ro thì tăng TNNL vẫn là hướng phát triển khả quan cho các NHTM Việt Nam. Trong các hoat động tạo TNNL thì hoạt động dịch vụ có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Mặc dù các hoạt động kinh doanh, đầu tư như kinh doanh ngoại hối, vàng, mua bán chứng khoán đầu tư có tương quan thuận đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng nhưng khi thị trường biến động thì các hoạt động này có thể không tránh khỏi rủi ro. Trong khi hoạt động dịch vụ có thể mang lại khoản thu nhập đáng kể với rủi ro có thể kiểm soát được. Dịch vụ ngân hàng hiện đại, phong phú, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng sẽ thu hút được khách hàng đến với ngân hàng. Do thực tế ở các NHTM Việt Nam tỷ lệ TNNL còn thấp, dưới 50% (Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh, 2016) nên mở rộng các hoạt động này đồng nghĩa với việc ngân hàng đang tăng mức độ đa dạng hóa thu nhập, giúp giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Bên cạnh đó, kết quả kiểm tra sự khác biệt về hệ số ước lượng của từng nguồn TNNL theo từng cặp trình bày trong bảng 1 và bảng 2 cũng có ý nghĩa thống kê trong một số mô hình hồi quy. Điều này cho thấy các nguồn để tạo ra TNNL cũng rất quan trọng.
Đối với các biến độc lập đóng vai trò kiểm soát trong mô hình, kết quả hồi quy ở bảng 1 và bảng 2 cho thấy tỷ lệ dư nợ cho vay, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát có mối tương quan thuận đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng; ngược lại biến tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ tiền gửi khách hàng và các biến phụ thuộc có mối tương
quan nghịch.
5. Kết luận
Các NHTM Việt Nam cũng giống như các ngân hàng Mỹ trong nghiên cứu của Chiarozza và cộng sự (2008), các ngân hàng ở những nền kinh tế mới nổi trong nghiên cứu của Odesanmi và Wolfe (2007), tăng TNNL làm tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Đặc biệt, ngân hàng nên phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ ngoài tín dụng. Để làm tốt điều này thì các ngân hàng cần phải có hạ tầng kỹ thuật công nghệ ở mức tương thích để mở rộng các hoạt động dịch vụ hiện đại, nâng cao năng lực quản trị điều hành và chất lượng nguồn nhân lực vì nhiều loại hình dịch vụ chủ yếu dựa trên cơ sở chất lượng nguồn nhân lực của các NHTM như các dịch vụ về môi giới hay tư vấn. Nhìn một cách tổng quát, lợi nhuận từ dịch vụ phi tín dụng góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng trong điều kiện các hoạt động tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, các hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán gặp nhiều khó khăn trong thời điểm hiện nay. Do vậy, phát triển dịch vụ phi tín dụng là hướng đi hiệu quả để thay đổi cơ cấu kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu sẽ có lợi cho hoạt động ngân hàng, tạo lợi thế cạnh tranh và khả năng khai thác các hoạt động tạo TNNL. Ngược lại, ngân hàng cần có giải pháp để quản lý tốt chi phí hoạt động. Bên cạnh đó, khoản huy động vốn từ tiền gửi khách hàng không phải lúc nào cũng có chi phí thấp, do áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải tăng chi phí cho việc huy động vốn tiền gửi, giảm lãi suất cho vay. Vì vậy, ngân hàng cần có chiến lược huy động vốn phù hợp để tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả kinh doanh.
1Đến thời điểm tháng 3/2017, vẫn còn một số ngân hàng chưa công bố báo cáo tài chính nên dữ liệu trong nghiên cứu này ở một số ngân hàng bị khuyết trong năm 2016.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010). Trao đổi về phương pháp tính tỷ lệ thu nhập ngoài tín dụng của ngân hàng thương mại. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 48,36-39;
2. Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016). Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 124, 11-22;
3. Baele và cộng sự (2007). Does the stock market value bank diversification? Journal of Banking and Finance, 31, 1999-2023;
4. Baltagi (2008). “Econometric Analysis of Panel Data”. Wiley;
5. Chiorazzo và cộng sự (2008). Income diversification and bank performance: Evidence from Italian banks. Journal of Financial Services Research, 33(3), 181-203;
6. DeYoung và Rice (2004). Non-interest Income and Financial Performance at U.S.A Commercial Bank. The Financial Review, Vol. 39, No.1, 456-478;
7. Gürbüz và cộng sự (2013). Income Diversification and Bank Performance: Evidence From Turkish Banking Sector . BDDK Bankacılık ve Finansal Piyasalar;
8. Gujarati (2004). “Basic Econometrics”. 4th edition, McGraw - Hill Irwin;
9. Hausman (1978). Specification Tests in Econometrics. Econometrica, 1251 - 1271;
10. Klein và Saidenberg (1997). Diversification, organization, and efficiency: evidence from bank holding companies.” Working Papers 97-27, Wharton School Center for Financial Institutions, University of Pennsylvania;
11. Lepetit và cộng sự (2008). Bank income structure and risk: An empirical analysis of European banks. Journal of Banking & Finance,32(8), 1452-1467;
12. Odesanmi và Wolfe (2007). Revenue diversification and insolvency risk: Evidence from banks in emerging economies. Social Science Research Network;
13. Revell (1979). Inflation and financial institutions. Financial Times, London
14. Stiroh (2004). Diversification in banking: Is noninterest income the answer?. Journal of Money, Credit and Banking, 853-882;
15. Santomero và Chung (1992). Evidence in support of broader bank powers (Vol. 1): Blackwell. Saunders;
16. Thi Canh Nguyen và cộng sự (2015). Risk and Income Diversification in the Vietnamese Banking System. Journal of Applied & Banking, vol.5, no. 1, 2015, 99-115.