Trong báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản kìm hãm hoạt động thương mại toàn cầu trong thời gian qua. Đó là, “Giao dịch Chân tay” bị suy giảm mạnh - một hình thức giao dịch giữa các bên không có mối quan hệ với nhau, khi người mua và người bán sản phẩm đều cố gắng đạt được lợi ích tối ưu.
Báo cáo kết quả nghiên cứu cho thấy, sau khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009, thương mại toàn cầu giảm sâu, từ mức tăng trưởng trung bình hàng năm 7,6% trong giai đoạn 2002-2008 xuống 4,3% trong giai đoạn 2010-2014. Đáng chú ý là, thương mại toàn cầu năm 2016 chỉ tăng 2,4%. Trong các năm 2007-2009, thương mại toàn cầu giảm tới 11%, khi nhu cầu trong nước lao dốc và giao dịch tài chính thu hẹp. Tuy nhiên, mức đóng góp của các chuỗi giá trị toàn cầu hầu như không thay đổi.
Sự suy giảm của thương mại toàn cầu chịu tác động của những yếu tố mang tính chu kỳ như nhu cầu yếu ớt, giá cả hàng hóa giảm thấp, kinh tế Trung Quốc tăng chậm dần. Ngoài ra, các yếu tố cơ cấu cũng cản trở tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu. Trong đó, sự chín muồi của chuỗi giá trị toàn cầu là yếu tố chi phối.
Do các chuỗi giá trị toàn cầu thường bao gồm hàng loạt hoạt động xuyên biên giới, thông qua các giao dịch trong nội bộ công ty như giữa các doanh nghiệp liên quan về sở hữu hay với công ty dưới quyền kiểm soát, cũng như thông qua các doanh nghiệp độc lập (chân - tay). Quyết định lựa chọn của doanh nghiệp giữa giao dịch nội bộ và giao dịch chân tay bắt nguồn từ động lực liên kết phân cấp (hay không liên kết) và đầu tư nước ngoài trực tiếp.
Về khái niệm, giao dịch chân tay được hiểu là giao dịch mua bán thông thường, được tiến hành giữa hai doanh nghiệp không có hội viên (doanh nghiệp độc lập về lợi ích kinh tế). Trong khi đó, giao dịch nội bộ được hiểu là giao dịch giữa các doanh nghiệp có mối liên kết sở hữu hoặc kiểm soát hoạt động kinh doanh trên thị trường. Thuật ngữ “giao dịch chân tay” thường được sử dụng trong hoạt động thương mại xuyên biên giới, để chỉ mối quan hệ tồn tại giữa các công ty độc lập về lợi ích kinh tế, dùng để phân biệt với mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con của các công ty xuyên quốc gia.
Trong các giao dịch xuyên biên giới, doanh nghiệp có thể sẽ ưu tiên giao dịch chân tay, khi tìm cách tiếp cận các thị trường xuất khẩu và trong trường hợp không đòi hỏi phải chuyển giao công nghệ, tri thức và nguồn lực. Kết quả là, các giao dịch chân tay chiếm ưu thế trong những khu vực không đòi hỏi kỹ năng và những doanh nghiệp hiệu quả thấp.
Trên thực tế, các doanh nghiệp đa quốc gia sử dụng các giao dịch nội bộ và giao dịch chân tay với mức độ khác nhau. Trong năm 2015, các giao dịch nội bộ doanh nghiệp chiếm khoảng 1/3 hoạt động xuất khẩu toàn cầu. Phần lớn các công ty đa quốc gia có mối liên kết theo chiều dọc (trên dưới) với mạng lưới chi nhánh và công ty con tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, một số công ty đa quốc gia lại trông chờ chủ yếu vào giao dịch chân tay và các công ty phân phối độc lập.
Trong năm 2015, các công ty đa quốc gia và chi nhánh đóng góp khoảng 10% GDP và tổng doanh số bán hàng chiếm khoảng 50% GDP toàn cầu. Các tập đoàn đa quốc gia (như Shell, Toyota, General Electric tại các nước phát triển, Công ty Dầu hải ngoại của Trung Quốc, Vale SA, Petronas tại EMDEs) có tầm quan trọng chiến lược quốc gia và quốc tế. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, các chi nhánh (của các tập đoàn đa quóc gia) tại nước ngoài tiến triển tốt hơn các đối tác trong nước và đóng góp rất lớn cho quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu. Thí dụ, giá trị tăng thêm của các tập đoàn đa quốc gia tăng 6,6% trong năm 2014, trong khi GDP toàn cầu chỉ tăng 4,4%.
Mặc dù không có đầy đủ dữ liệu về thương mại nội bộ trên toàn cầu, nhưng dữ liệu về xuất nhập khẩu của Mỹ có thể đưa ra tốc độ tăng trưởng thương mại trong nội bộ doanh nghiệp. Theo tính toán, thị trường Mỹ đóng góp khoảng 11% giao dịch hàng hóa toàn cầu và 23% vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp. Mỹ là thị trường xuất khẩu của khoảng 20% số quốc gia trên toàn thế giới, và là thị trường nhập khẩu của 10% số quốc gia trên thế giới. Trong top 100 tập đoàn đa quốc gia trên toàn cầu, các công ty đa quốc gia của Mỹ chiếm khoảng 30% lao động và doanh số bán hàng.
Nghiên cứu của WB dẫn nhận định của Bộ Thương mại Mỹ cho rằng, giao dịch chân tay không cân xứng với xu hướng suy giảm thương mại sau khủng hoảng. Trước khủng hoảng tài chính, tăng trưởng nhanh chóng của một số khu vực kinh tế đã thúc đẩy giao dịch chân tay. Tuy nhiên, sau khủng hoảng, những khu vực kinh tế này bị suy giảm mạnh, kéo theo sự suy giảm của giao dịch chân tay. So với giao dịch trong nội bộ doanh nghiệp, giao dịch chân tay phụ thuộc nặng nề vào những khu vực kinh tế này. Ngoài ra, giao dịch chân tay cũng phụ thuộc rất lớn vào các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs), trong khi tăng trưởng GDP tại các EMDE ghi nhận mức suy giảm mạnh sau thời kỳ tăng tốc trước khủng hoảng. So với các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp độc lập thường rất khó tiếp cận các nguồn tài chính, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng với nhiều bất ổn về thu nhập, tỷ giá, đặc điểm của doanh nghiệp và chính sách kinh tế.
Khoảng 57% tổng thương mại của Mỹ được thực hiện theo phương thức giao dịch chân tay giữa các công ty độc lập. Trong đó, hoạt động nhập khẩu chiếm 50%, hoạt động xuất khẩu chiếm 70%, chiếm 50% giao dịch hàng hóa vốn (tư liệu sản xuất), 60% giao dịch thành phẩm, 51% trao đổi thương mại của Mỹ với các nước phát triển và 64% trao đổi thương mại với EMDEs. Nhìn chung, nhóm đối tác có thu nhập cao chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong giao dịch chân tay. Từ năm 2002 đến trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, giao dịch nội bộ tại Mỹ tương đối ổn định, sau đó tăng mạnh, nhất là trong trao đổi thương mại với các EMDE.
Phân theo khu vực, các nước Canada và Mêhicô là đối tác thương mại chủ chốt của Mỹ với khoảng 50% xuất khẩu và trên 50% nhập khẩu của Mỹ, chủ yếu được tiến hành theo phương thức giao dịch nội bộ. Trong quan hệ thương mại với những quốc gia và khu vực khác, trên 50% hoạt động nhập khẩu được tiến hành theo phương thức giao dịch nội bộ (trừ trường hợp Italia và Trung Quốc), nhưng phần lớn hoạt động xuất khẩu được tiến hành theo phương thức giao dịch chân tay (chiếm 53-65% hoạt động xuất khẩu sang Liên minh châu Âu và châu Á).
Dữ liệu thương mại của Mỹ nhấn mạnh, giao dịch chân tay đóng góp đáng kể vào sự suy giảm thương mại của Mỹ sau khủng hoảng tài chính, phản ánh kết quả phát triển nhanh chóng của loại hình giao dịch này trong thời kỳ trước khủng hoảng và sự phục hồi chậm chạp sau khủng hoảng, trong khi giao dịch nội bộ phục hồi nhanh chóng. Trong thời kỳ khủng hoảng, cả hai phương thức giao dịch này đều suy giảm mạnh.
Sau khủng hoảng tài chính, thương mại tại Mỹ suy giảm mạnh, ảnh hưởng rất lớn đến các giao dịch chân tay. Năm 2014, giao dịch nội bộ phục hồi lên mức tăng trưởng gần bằng mức tăng trưởng đạt được trong thời kỳ trước khủng hoảng (xuất khẩu tăng 4,3%/năm và nhập khẩu tăng 5,0%/năm). Trái lại, giao dịch chân tay chỉ tăng 4,7%, thấp hơn nhiều so với kết quả tăng trung bình hàng năm 11,3% trong giai đoạn 2002-2008. Giao dịch chân tay giảm sâu phần nào phản ánh những tác động trước những thay đổi về tình hình kinh tế vĩ mô trên toàn cầu. Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng gây bất lợi cho các doanh nghiệp hoạt động dưới mô hình giao dịch chân tay, nhất là chi phí giao dịch tăng.
Về tác động mang tính cơ cấu, giao dịch chân tay chiếm phần lớn tỷ trọng xuất khẩu sang các EMDE, nhất là nhóm BRICS. Trong quan hệ thương mại với nhóm quốc gia này, giao dịch chân tay tăng trong thời kỳ trước khủng hoảng, và sau đó giảm mạnh. Mặt khác, giao dịch chân tay phụ thuộc rất lớn vào những khu vực tăng trưởng nhanh trong thời kỳ trước khủng hoảng khi giá cả hàng hóa tăng nhanh, nhưng trì tệ sau khủng hoảng cũng bắt nguồn từ xu hướng giảm thấp của giá cả hàng hóa, từ năng lượng đến những mặt hàng khác.
Bên cạnh hai nhóm yếu tố cơ bản trên đây, một số yếu tố khác cũng tác động đến giao dịch chân tay. Bao gồm, khó tiếp cận các nguồn tài chính, trình độ quản lý cũng như quy mô và hiệu quả hoạt động thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp tham gia giao dịch nội bộ, USD tăng giá mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, các doanh nghiệp tham gia giao dịch chân tay vấp phải những cú sốc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh thu nhập suy giảm và đòi hỏi của nhu cầu ngày càng khắt khe, bất ổn chính sách ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp liên kết và doanh nghiệp độc lập, nhưng doanh nghiệp độc lập chịu tác động lớn hơn) khi đưa ra quyết định kinh doanh. Trong nhóm yếu tố này, USD tăng giá là cản trở lớn nhất. Cụ thể là, các hoạt động thương mại thông qua chuỗi giá trị toàn cầu thường kém nhạy cảm với tỷ giá thực, trong khi hoạt động giao dịch nội bộ có mối quan hệ chặt chẽ với chuỗi giá trị toàn cầu. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, đà tăng giá liên tục và bền vững của USD gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tham gia hoạt động giao dịch chân tay, trong khi các doanh nghiệp liên kết theo chiều dọc thường có sẵn nhiều công cụ để đối phó với những biến động về tỷ giá.
Một khó khăn bao trùm và lâu dài là, những khó khăn về môi trường kinh tế vĩ mô sau khủng hoảng đang gây bất lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp tham gia các giao dịch chân tay. Đáng chú ý, rủi ro tài chính tăng cao và bất định chính sách cản trở đáng kể các giao dịch chân tay. Thực tế này đang tạo ra những thách thức về thay đổi chính sách, gây áp lực buộc tất cả các loại hình doanh nghiệp phải điều chỉnh để thích ứng và tồn tại trong thế giới liên tục thay đổi.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: WB tháng 6/2017