Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, các nước bị tác động trực tiếp của khủng hoảng đã thực thi hàng loạt biện pháp quyết liệt, nhằm nhanh chóng khắc phục khó khăn và phục hồi kinh tế. Giờ đây, nhiều nước châu Á đã có cơ chế phòng vệ vững chắc, có thể tránh được tác động tiêu cực bắt nguồn từ những biến động kinh tế bên ngoài. Tuy nhiên, trạng thái bền vững hiện nay đang đối mặt với những thách thức mới trong bối cảnh GDP toàn cầu tăng thấp.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 cho thấy, nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng tại những nước vấp phải khủng hoảng nói riêng và các nước đang phát triển nói chung bắt nguồn từ thực tế là, thị trường vốn mở cửa quá nhanh, các biện pháp nới lỏng kiểm soát dòng vốn ngắn hạn diễn ra nhanh hơn so với đầu tư trực tiếp nước ngoài dài hạn. Trong bối cảnh đó, chính sách tỷ giá cố định so với USD đã khuyến khích dòng vốn đầu tư và tín dụng ngân hàng từ các nước phát triển, góp phần hình thành nền kinh tế bong bóng, giá cả tài sản tăng cao. Một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng vào các công trình đầu tư dài hạn ở trong nước, dẫn đến tình trạng sai lệch về kỳ hạn và tiền tệ. Khi vấn đề bùng phát, dòng vốn nước ngoài đảo chiều nhanh chóng, đồng bản tệ lao dốc, làm tăng gánh nặng nợ ngân hàng.
Trong 20 năm qua, kinh tế châu Á đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 6,8%, tuy thấp hơn tốc độ tăng trưởng trung bình 7-10% trong thời kỳ trước khủng hoảng 1997, nhưng vẫn cao hơn so với những khu vực khác trên thế giới, nhiều nước đã xây dựng được cơ chế phòng vệ thuộc loại mạnh nhất thế giới. Mô hình tăng trưởng cũng có chuyển biến tích cực theo hướng dựa vào nhu cầu trong nước, góp phần ổn định cung cầu và hạn chế rủi ro bắt nguồn từ những biến động kinh tế từ bên ngoài.
Đáng chú ý, dự trữ ngoại hối của châu Á hiện ở mức hơn 6.000 tỷ USD, chiếm trên 50% tổng dự trữ của thế giới, gấp sáu lần so với mức dự trữ dưới 1.000 tỷ USD vào năm 1996, đứng đầu là Trung Quốc với trên 3.000 tỷ USD. Hầu hết các nước châu Á đều áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi, ngân hàng trung ương (NHTW) vì thế không phải duy trì một tỷ giá nhất định. Vị thế tài khoản vãng lai của châu Á đã mạnh hơn nhiều lần so với cách đây 20 năm, khi hầu hết các nước đều đạt thặng dư thương mại trong nhiều năm nay. Phần lớn các nước châu Á đã tăng cường các biện pháp giảm nợ nước ngoài, góp phần hạn chế tác động của xu hướng USD tăng giá, qua đó làm tăng chi phí trả nợ.
Tốc độ tăng trưởng cao phản ánh những nỗ lực của các nước châu Á trong việc đẩy mạnh cải cách để thúc đẩy tăng trưởng cao và bền vững, nhưng cũng cho thấy tác động từ bên ngoài. Bao gồm, các biện pháp hỗ trợ của các nước và tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trong thời kỳ sau khủng hoảng; dòng vốn vào tăng mạnh, nhất là sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009, khi hầu hết các nước phát triển áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng không có tiền lệ và giảm lãi suất xuống mức thấp nhất trong lịch sử.
Tuy nhiên, sự bền vững châu Á đang đứng trước một thách thức lớn nhất là, NHTW tại Mỹ và nhiều nước phát triển hàng đầu đang cân nhắc trở lại chính sách tiền tệ bình thường sau thời gian nới lỏng quá mức. Một khi kế hoạch này được khởi động, làn sóng đào thoát dòng vốn khỏi các nước đang phát triển và mới nổi sẽ tăng cao, thanh khoản giảm mạnh. Kết quả là, thị trường tài chính sẽ bất ổn, gây áp lực lên đồng bản tệ và làm tăng chi phí đối với những khoản nợ bằng USD.
Động thái nới lỏng tiền tệ tại các nước phát triển để đối phó với khủng hoảng tài chính vừa qua cũng khuyến khích nhiều nước đang phát triển và mới nổi mở rộng tiền tệ nhằm hỗ trợ xuất khẩu, đón đầu cơ hội mở rộng tiêu dùng tại Mỹ và các nước phát triển châu Âu. Nhiều doanh nghiệp tăng cường vay vốn ngân hàng để phát triển và mở rộng sản xuất, kinh doanh, dẫn đến tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và nợ nần chồng chất.
Tại châu Á, tình hình có vẻ trầm trọng hơn, do làn sóng đầu tư còn được khuyến khích bởi chính sách mở rộng đầu tư tại những nền kinh tế lớn trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Khi Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư và hỗ trợ xuất khẩu, chính phủ những nước khác cũng khuyến khích doanh nghiệp tăng cường sản xuất, kinh doanh, nhưng phần lớn đều dựa vào nguồn vốn vay từ ngân hàng. Điều này đang đặt ra thách thức rất lớn và khó khắc phục trong thời gian ngắn, một phần là do hầu hết các nước châu Á dựa dẫm quá mức vào nền kinh tế Trung Quốc và những tín hiệu phát ra từ quốc gia này. Mối quan hệ thương mại, đầu tư chặt chẽ giữa Trung Quốc và những nước còn lại đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có thể gây tác động bất lợi, nếu kinh tế Trung Quốc đột ngột giảm tốc. Theo báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), sau khi tăng 6,9% vào năm 2015, GDP của Trung Quốc tiếp tục tăng chậm dần xuống 6,7% vào năm 2016, 6,6% vào năm 2017 và 6,2% vào năm 2018.
Trong những năm gần đây, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào Trung Quốc đang chững lại, trong khi nguồn vốn FDI ra nước ngoài tăng lên nhanh chóng, được phát động bởi chính sách “mở rộng kinh doanh toàn cầu” được thông qua vào năm 2002. Cùng với những ưu đãi rất lớn về tín dụng, chính sách này đã thôi thúc các doanh nghiệp Trung Quốc vay vốn để mở rộng năng lực sản xuất và tăng cường hiện diện tại nước ngoài dưới mọi hình thức như đầu tư sản xuất trực tiếp, hùn vốn và mua lại những tập đoàn có tên tuổi trên thế giới, v.v. Hệ quả của chính sách này là, gánh nặng nợ nần tại Trung Quốc tăng nhanh, cả trong lĩnh vực công và khu vực tư nhân, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây. Theo báo cáo gần đây của IMF, tổng số nợ của chính phủ, hộ gia đình và các doanh nghiệp Trung Quốc đến cuối năm 2016 vào khoảng 28,8 nghìn tỷ USD, tương đương 258% GDP. Trong đó, khoảng 17,0 nghìn tỷ USD là nợ doanh nghiệp, chủ yếu là khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trong những năm gần đây, kinh tế toàn cầu giảm tốc, nhất là tại những nước phát triển hàng đầu, nhu cầu chi tiêu yếu ớt, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc. Theo báo cáo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc trong giai đoạn 2006-2011 tăng gần hai lần, góp phần hỗ trợ quốc gia này đạt được tốc độ tăng trưởng cao, trong khi hầu hết những nền kinh tế lớn khác đều chìm sâu vào suy thoái. Sau thời gian đó, hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc bắt đầu tăng chậm lại, chỉ tăng gần 11,0% trong sáu năm qua. Trong năm 2016, mặc dù cán cân thương mại vẫn thặng dư 509,96 tỷ USD, nhưng hoạt động thương mại giảm sút. So với năm 2015, xuất khẩu giảm 7,7%, nhập khẩu giảm 5,5%.
Xuất nhập khẩu giảm đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo dữ liệu thống kê do Bloomberg thu thập được, sản lượng công nghiệp tháng 7/2017 của Trung Quốc tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức dự báo 7,4% và kết quả tăng 7,6% trong tháng trước đó; doanh số bán lẻ tháng 7/2017 tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức dự báo 10,8% và kết quả tăng 11% trong tháng trước; đầu tư vào tài sản cố định tại khu vực thành thị tăng 7,3% trong tháng 7/2017, thấp hơn mức dự báo tăng 8,6%.
Dữ liệu trên đây cho thấy, nỗ lực kìm cương thị trường bất động sản và các biện pháp cắt giảm nợ công, tình trạng cho vay quá mức và dư thừa sản lượng công nghiệp đã bắt đầu tác động đến tình hình kinh tế Trung Quốc.
Bloomberg cũng dẫn nhận định của Ding Shuang (chuyên gia kinh tế Trung Quốc đến từ Standard Chartered tại Hồng Kông) cho rằng, sự suy giảm của ba chỉ số kinh tế chủ chốt trong tháng 7 vừa qua là tín hiệu ban đầu về khả năng kinh tế Trung Quốc sẽ chậm lại trong nửa sau của năm nay, và có thể báo hiệu những thay đổi nhất định về mặt chính sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ.
Chính phủ Trung Quốc cũng đang mạnh tay xử lý tình trạng nợ nần của các doanh nghiệp, khi gần đây đã yêu cầu các ngân hàng thương mại hạn chế cho vay đối với 4 tập đoàn tư nhân lớn nhất (bao gồm: Tập đoàn Bất động sản Dalian Wanda, Công ty Bảo hiểm Anbang, Công ty Dược phẩm Fosun, và Hãng Hàng không vận tải HNA).
Tuy nhiên, kiềm chế tín dụng chỉ là một lựa chọn, Trung Quốc còn nhiều dư địa chính sách, đặc biệt là dựa trên tiềm lực tài chính lớn, có khả năng đối phó trong trường hợp các ngân hàng hoặc công ty vay nợ nhiều gặp rắc rối. Trong số này, phải kể đến nguồn dự trữ ngoại hối trên 3.000 tỷ USD và lượng tiền gửi tiết kiệm trong nước khoảng 24.000 tỷ USD, đây là hai khoản tài chính thừa đủ để giữ cho các ngân hàng “ngập trong tiền” mà không phải vay từ nước ngoài.
Vì thế, mặc dù đang nỗ lực cắt giảm nợ và giảm tỷ lệ đòn bẩy trong nền kinh tế, chính phủ Trung Quốc có thể sẽ không mạnh tay quá mức trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm duy trì tăng trưởng, đảm bảo mục tiêu tăng GDP và thu nhập theo đầu người năm 2020 tăng gấp đôi so với năm 2010, đặc biệt là năm nay sẽ diễn ra Đại hội Đảng lần thứ 19 rất trọng đại.
Để đạt mục tiêu này, Trung Quốc sẽ đối mặt với những thách thức lớn trong việc kiềm chế rủi ro tài chính, điều này làm dấy lên những nghi ngờ về triển vọng cắt giảm tình trạng nợ nần tại Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không thể giảm mức độ phụ thuộc vào nợ, tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại từ mức 6,9% trong nửa đầu năm 2017 xuống còn 5% vào năm 2021 và thậm chí có thể giảm xuống dưới 3% nếu quốc gia này vấp phải khủng hoảng tài chính. Sau đó, sẽ sẽ lan rộng sang toàn thế giới. Tại châu Á, những doanh nghiệp nặng nợ sẽ phải vội vã tìm kiếm nguồn vốn mới để thay thế cho những khoản vay sắp đáo hạn mà hiện nay vẫn chưa có cách thức xoay xở. Điều đáng lo ngại ở đây là những nỗ lực của họ có thể sẽ làm tình hình còn tệ hơn nữa, thậm chí dẫn đến những cử chỉ và hành động thiếu suy nghĩ.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: ADB, Bloomberg, CNBC, IMF, WTO)