Những ngày qua, các nước ASEAN đang tích cực tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thành lập. Đây là kỷ niệm đặc biệt, với mục tiêu cơ bản là đánh giá những kết quả đạt được và đề ra giải pháp phát triển trong thời gian tới.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực. Tổ chức này được thành lập ngày 08/8/1967 với 05 thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines. Một tuần sau tuyên bố độc lập, Brunei Darussalam trở thành thành viên thứ sáu vào ngày 07/01/1984. Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy. Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và Myanmar gia nhập hai năm sau ngày 23/7/1997. Thành viên thứ 10 là Campuchia, được kết nạp vào ngày 30/4/1999.
Trong những năm 1990, ASEAN đã ghi nhận xu hướng gia tăng cả về số thành viên và các giải pháp hội nhập. Năm 1992, kế hoạch Biểu thuế Ưu đãi chung (CEPT) được ký kết nhằm từng bước hủy bỏ các khoản thuế và tăng cường lợi thế cạnh tranh của ASEAN trên thị trường thế giới, đặt khuôn khổ hình thành khu vực tự do thương mại ASEAN. Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, các nước ASEAN đã xem xét lại đề nghị của Malaysia được đưa ra tại Chiềng Mai (được gọi là Sáng kiến Chiềng Mai), kêu gọi sự hội nhập tốt hơn nữa giữa các nền kinh tế của ASEAN cũng như ASEAN cộng ba (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Bên cạnh nỗ lực cải thiện kinh tế trong nước, ASEAN cũng tập trung củng cố nền hòa bình và ổn định trong khu vực. Ngày 15/12/1995, Hiệp ước Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân đã được ký kết với mục tiêu là biến Đông Nam Á trở thành vùng không có vũ khí hạt nhân.
Bước sang thế kỷ 21, các vấn đề chuyển sang khuynh hướng môi trường hơn. Tổ chức này bắt đầu đàm phán các thỏa thuận về môi trường.
Ngày 27/02/2009, thỏa thuận thương mại tự do giữa các nước ASEAN với New Zealand và Australia đã được ký kết, góp phần thúc đẩy các hoạt động trao đổi thương mại, tạo ra kỳ vọng về khả năng GDP của 12 quốc gia ký kết gia hiệp định tăng thêm khoảng 48 tỷ USD trong giai đoạn 2000-2020.
Trong quan hệ với bên ngoài, kể cả với các cường quốc thế giới, ASEAN luôn chủ động đối thoại, hợp tác, là lực lượng dẫn dắt các cơ chế diễn đàn khu vực. ASEAN luôn đi đầu, trao đổi trên tinh thần xây dựng với các đối tác về mọi vấn đề, từ biến đổi khí hậu, chống khủng bố, đến hòa bình ổn định trên Biển Đông… Từ đó, nâng cao vị thế quốc tế của ASEAN và từng thành viên.
Ngày 22/11/2015, trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra tại Malaysia, Lãnh đạo 10 quốc gia thành viên đã ký kết văn kiện lịch sử Tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN (AEC). Đây là bước ngoặt trong tiến trình hợp tác ASEAN theo hướng hiện thực hóa mục tiêu của AEC trên ba trụ cột: Chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội. Trong đó, kinh tế giữ vai trò trọng tâm, mang tính quyết định và phải đi trước một bước nhằm tạo thế và lực cho mục tiêu hình thành cộng đồng theo Tầm nhìn ASEAN 2020.
Hiện nay, ASEAN là động lực kinh tế và thương mại toàn cầu, đứng thứ sáu trên thế giới về GDP, đồng thời là đối tác thương mại lớn thứ tư trên thế giới, sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và CHLB Đức. Nếu tiếp tục duy trì được động lực tăng trưởng, 10 thành viên ASEAN sẽ trở thành nền kinh tế thứ tư thế giới vào năm 2050.
Mặc dù triển vọng kinh tế toàn cầu và khu vực còn trầm lắng, nhưng nền tảng kinh tế vĩ mô của các nước thành viên ASEAN tiếp tục vững chắc, một phần nhờ tiếp tục đẩy mạnh cải cách và điều chỉnh cơ cấu.
Trong năm 2016, kinh tế toàn cầu tăng thấp, nhưng ASEAN tiếp tục ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế 4,8%, chủ yếu nhờ đầu tư và chi tiêu tư nhân tăng vững. Trong năm 2017, đà tăng 4,8% này được kỳ vọng tiếp tục được duy trì, chủ yếu nhờ nhu cầu tăng cao, nhất là tiêu dùng và chi đầu tư, tốc độ tăng trưởng này cao hơn so với những nước và khu vực khác trên thế giới. Bên cạnh nỗ lực của các nước thành viên, Cơ quan Quản lý tiền tệ Singapore (AMS) có thể sẽ áp dụng chính sách hỗn hợp về tài khóa và tiền tệ như mở rộng dư địa chính sách để phòng ngừa rủi ro tác động đến tăng trưởng kinh tế. ASEAN cũng sẽ tăng cường động lượng từ giai đoạn liên kết mới trong khu vực nhằm tiếp tục thúc đẩy các mối liên kết thương mại và đầu tư trong nội khối, qua đó có thể hạn chế những tổn thương bắt nguồn từ những cú sốc bên ngoài.
Theo báo cáo cập nhật gần đây của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), trong năm 2016, tổng giá trị trao đổi thương mại trong khu vực đạt 2.220 tỷ USD, giảm 2,28% so với năm trước. Trong đó, trao đổi thương mại trong nội khối đạt 520,96 tỷ USD, chiếm 23,48% trong tổng giá trị thương mại và là thị trường lớn nhất. Đứng thứ hai là Trung Quốc, cũng là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, chiếm 16,01%. Tiếp theo là Liên minh châu Âu (EU) với 10,35% và Nhật Bản với 9,99%.
Trong năm 2016, dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào ASEAN giảm xuống 96,72 tỷ USD, phản ánh xu hướng suy giảm chung của các dòng vốn trên toàn cầu với mức giảm khoảng 2,0% so với năm trước. Tuy nhiên, dòng vốn FDI trong nội khối vẫn khá cao và đạt 23,95 tỷ USD (chiếm 24,76%), tăng 12,22% so với năm 2015. Dòng vốn FDI từ EU chiếm 31,5%, từ Nhật Bản chiếm 14,6%, từ Hoa Kỳ chiếm 12,05%. Trong năm 2017, dòng vốn FDI vào ASEAN được kỳ vọng tiếp tục tăng do dòng vốn FDI toàn cầu được kỳ vọng sẽ phục hồi nhẹ.
Trong năm 2017, dưới chủ đề “Tăng trưởng dựa trên đổi mới toàn diện”, các nước thành viên đã đặt ra ưu tiên là xác định những biện pháp chiến lược để thúc đẩy đầu tư và thương mại, liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa (MSMEs) trong nền kinh tế số, và phát triển kinh tế dựa trên đổi mới. Trong việc hỗ trợ những biện pháp chiến lược này, Hội đồng Tư vấn kinh doanh (BAC) của SEAN đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh với chủ đề “mang lại phồn vinh cho mọi người” vào ngày 28/4/2017, với sự tham gia của các chuyên gia và viện nghiên cứu hàng đầu nhằm phối hợp và nâng cao quyền hạn của MSME theo hướng tăng trưởng toàn diện.
Về hợp tác tài chính, các nước thành viên ASEAN đã đưa ra lộ trình tự do hóa dịch vụ tài chính, mục đích của sáng kiến là tự do hóa hơn nữa các luồng dịch vụ tài chính vào năm 2025 theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS). Các hoạt động của nhóm công tác về tự do hóa dịch vụ tài chính (FSL) là hướng quá trình tự do hoá dịch vụ tài chính phù hợp với nguyên tắc và mục tiêu kế hoạch tổng thể của AEC, hài hòa với lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ ASEAN (RIA-Fin) và tạo điều kiện đàm phán dịch vụ tài chính ASEAN với các đối tác bên ngoài.
Trong thời gian qua, các nước ASEAN đã ký kết tổng cộng 6 gói cam kết về dịch vụ tài chính trong khuôn khổ AFAS, và đang đàm phán gói cam kết thứ 7. Bên cạnh đó, Nhóm công tác FSL cũng tham gia vào các cuộc đàm phán dịch vụ tài chính với các đối tác đối thoại ASEAN như FTA ASEAN - Ấn Độ (AIFTA); Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP); Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác (Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand, Australia, Trung Quốc).
Trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng trung ương (NHTW) thành viên đã đề ra khuôn khổ hội nhập ngân hàng trong khu vực, mục tiêu là từng bước tự do hóa hoạt động ngân hàng giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN thông qua việc xây dựng Hướng dẫn thực hiện hội nhập ngân hàng khu vực ASEAN (ABIF). Theo đó, văn bản này sẽ xác định các nguyên tắc và định hướng nhằm tăng cường hiện diện thương mại của các ngân hàng ASEAN trên thị trường. Việc thực hiện dựa trên cơ sở thống nhất giữa các nước về tiêu chí dành cho các ngân hàng đạt chuẩn (QABs). Các ngân hàng trong khu vực ASEAN đạt chuẩn QABs sẽ được xem xét dành thuận lợi hơn trong quá trình gia nhập thị trường ASEAN.
Tại Hội nghị Thống đốc NHTW thuộc ASEAN (ACGM) diễn ra vào ngày 19-21/03/2015 tại Malaysia, các Thống đốc đã tuyên bố hoàn tất các nội dung của Hướng dẫn thực hiện ABIF. Tại Hội nghị của Ủy ban cấp cao về hội nhập tài chính ASEAN (SLC) từ ngày 14-15/09/2015 tại Philippines, các nước nhất trí thành lập Nhóm công tác ABIF. Hiện nay, các nước thành viên đang tích cực xây dựng Điều khoản tham chiếu và Kế hoạch hành động chiến lược của WC-ABIF.
Nhằm đạt được mục tiêu về hội nhập về tài chính và thị trường vốn vào năm 2025 trong Kế hoạch tổng thể AEC, các NHTW thành viên đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị chính sách để phát triển một hệ thống thanh toán trong khu vực, tích cực triển khai các hoạt động nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm thông qua việc tổ chức các hội thảo chuyên sâu về lĩnh vực thanh toán như thanh toán thương mại và chuyển tiền qua biên giới, thanh toán bán lẻ và trường vốn qua biên giới, và vấn đề chuẩn hóa trong thanh toán. Đồng thời, các nước thành viên cũng đưa ra được dự thảo Tuyên bố Tầm nhìn về hệ thống thanh toán ASEAN để định hướng cho việc xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thanh toán.
Bên cạnh những sáng kiến trên đây, các nước thành viên đang trong quá trình xây dựng Nhóm công tác Tài chính toàn diện (FI) với vai trò điều phối, tạo ra diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm quốc gia về theo đuổi mục tiêu tài chính toàn diện.
Cùng với tiến trình hợp tác tài chính tiền tệ nội khối, các nước ASEAN còn thiết lập một cơ chế hợp tác tài chính - tiền tệ với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc với nhiều nội dung thiết thực. Những nội dung hợp tác nổi bật bao gồm:
Đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai
Từ bài học kinh nghiệm khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, các Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3 đã thống nhất quan điểm chung. Đó là, các nước trong khu vực cần có một quỹ dự trữ ngoại tệ lớn để hỗ trợ cán cân thanh toán và duy trì dự trữ ngoại hối của từng quốc gia để đối phó với các trường hợp xảy ra khủng hoảng. Ý tưởng về hỗ trợ tài chính đa phương trong ASEAN+3 đã được đề xuất và bắt đầu nghiên cứu từ năm 2006 và Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai (CMIM) đã được Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHTW các nước ASEAN+3 ký kết và có hiệu lực vào ngày 24/3/2010.
CMIM là thể thức hỗ trợ tài chính ngắn hạn giữa các nước trong khu vực ASEAN+3 được thực hiện thông qua các giao dịch hoán đổi tiền tệ giữa các NHTW để các thành viên CMIM giải quyết khó khăn khẩn cấp trong cán cân thanh toán và thanh khoản USD nhằm thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ và kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất ổn toàn cầu gia tăng, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, các nước thành viên đã thống nhất ký kết một Thỏa thuận CMIM mới thay thế cho Thỏa thuận đã ký vào ngày 24/3/2010. Thỏa thuận CMIM mới chính thức có hiệu lực vào ngày 17/7/2014.
Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3
Việc thực hiện cơ chế giám sát kinh tế vĩ mô ASEAN+3 là một điều kiện bắt buộc đối với các nước ASEAN+3 khi tham gia Thỏa thuận CMIM. Cơ chế giám sát này được thực hiện định kỳ nhằm đảm bảo sự vận hành hiệu quả của CMIM. Để thể chế hoá cơ chế này, Văn phòng Giám sát Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) được thành lập vào ngày 4/5/2011. Nhận thấy vai trò quan trọng của AMRO trong quá trình giám sát kinh tế vĩ mô khu vực, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHTW ASEAN+3 (AFMGM+3) năm 2012 đã nhất trí nâng cao vị trí pháp lý của AMRO thành một tổ chức quốc tế. Vào ngày 10/10/2014, Hiệp ước thành lập AMRO đã được ký bên lề Hội nghị Thường niên IMF/WB năm 2014.
Sự kiện thành lập Cộng đồng ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/2015 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hợp tác ASEAN, nâng mức độ hợp tác ASEAN lên một tầm cao mới – cởi mở, sâu sắc và toàn diện hơn. Trên nền tảng đó, đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, năm 2016 đóng vai trò là năm bản lề quan trọng chứng kiến một giai đoạn hội nhập mới trong khuôn khổ ASEAN với nhiều cơ hội và thách thức. Song song với sự phát triển của hợp tác ASEAN, nội dung hợp tác trong khuôn khổ ASEAN+3 cũng sẽ ngày càng được đẩy mạnh về quy mô và về chiều sâu, đòi hỏi sự chuẩn bị kịp thời và chủ động của các nước thành viên.
Hiện nay, các nhóm công tác tài chính - tiền tệ ASEAN đang trong giai đoạn nước rút xây dựng kế hoạch hành động chiến lược tổng thể AEC hậu 2015: “Tầm nhìn 2025, củng cố và tiến xa hơn”. Tầm nhìn AEC đến năm 2025 xác định mục tiêu xây dựng một nền kinh tế hội nhập sâu rộng và có tính gắn kết cao; xây dựng một ASEAN có khả năng phục hồi nhanh, phát triển toàn diện và tập trung vào người dân; xây dựng một ASEAN cạnh tranh, sáng tạo, năng động, toàn cầu và thúc đẩy hợp tác và hội nhập khu vực. Dự kiến, để đạt được các mục tiêu dài hạn nói trên, lĩnh vực tài chính - ngân hàng sẽ tập trung vào 3 nội dung hợp tác trụ cột: Hội nhập tài chính, Tài chính toàn diện và Ổn định tài chính. Đối với trụ cột Hội nhập tài chính, AEC theo đuổi việc thiết lập thị trường tài chính có tính kết nối khu vực cao thông qua nâng cao vai trò của các ngân hàng khu vực, gia nhập sâu vào thị trường bảo hiểm với mức độ phân tán rủi ro cao hơn, và duy trì mức độ lưu động vốn cao. Trụ cột Tài chính toàn diện tập trung giáo dục và phổ biến kiến thức tài chính, đồng thời thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩn và dịch vụ tài chính. Trụ cột Ổn định tài chính thực hiện chiến lược tăng cường giám sát và hợp tác hệ thống tài chính - ngân hàng và khuôn khổ giám sát qua biên giới.
Trong thời gian tới, 3 trụ cột này sẽ theo đuổi các mục tiêu trung hạn là (i) Tự do hóa tài khoản vốn từng bước và thận trọng; (ii) Xây dựng hệ thống thanh toán có tính kết nối; và (iii) Tăng cường năng lực nhằm giải quyết sự chênh lệch năng lực trong khu vực. Để hiện thực hóa các mục tiêu nói trên, trong năm 2016, các nước thành viên sẽ tiếp tục thúc đẩy các nội dung hợp tác đề ra trong Kế hoạch hành động chiến lược của các Nhóm công tác trong khuôn khổ AEC, bám sát các mục tiêu định lượng và điều khoản tham chiếu, đồng thời cập nhật và điều chỉnh kế hoạch hành động để phù hợp với tình hình biến động của kinh tế vĩ mô và bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Như vậy, sau khi thoát khỏi khủng hoảng tài chính 1997, các nước ASEAN đã có những bước tiến khá dài trong việc củng cố các khung khổ kinh tế vĩ mô và vị thế đối ngoại. Khu vực này đã chứng kiến sự gia tăng về thương mại và các dòng vốn đầu tư, kể cả trong nội khối và với những quốc gia khác tại châu Á và trên thế giới. Liên kết tài chính tại ASEAN cũng tiến triển mạnh mẽ, đầu tư trực tiếp tăng dần, các mối liên kết ngân hàng qua biên giới ngày càng sâu rộng, sự tham gia của các đối tác quốc tế vào các thị trường vốn ASEAN ngày càng tăng.
Việc thiết lập AEC là hòn đá tảng trong chặng đường 50 năm qua, khởi đầu cho sự tiến triển mạnh mẽ theo hướng trở thành cộng đồng kinh tế thực sự. Trong đó, thách thức cơ bản là phải đảm bảo cho sự phát triển nhanh chóng, ổn định và phù hợp của AEC.
AEC đưa ra lộ trình vào thời điểm kinh tế toàn cầu tăng trưởng không đồng đều, tăng trưởng thấp trong những năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 tiếp tục cản trở tăng trưởng thương mại. Trong đó, xu hướng chống lại toàn cầu hóa và thương mại bùng phát tại một số nước, sự kiện Brexit và kết quả bầu cử Tổng thống tại Mỹ đang làm gia tăng bất ổn trên toàn thế giới. Việc chuyển dịch trung tâm kinh tế sang châu Á trong những năm gần đây tiếp tục thử thách các chính phủ trong việc phối hợp vì lợi ích chung. Sự chuyển dịch này không chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, mà còn mở rộng sang những vấn đề khác như an ninh và biến đổi khí hậu.
Trong bối cảnh như trên, các chính phủ ASEAN cần kịp thời hành động, khắc phục khó khăn, quan tâm thích đáng trước những áp lực điều chỉnh bắt nguồn từ toàn cầu hóa. Đồng thời, ưu tiên thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong dài hạn, tiến hành những biện pháp cải cách cần thiết về cơ cấu.
Với sự ra đời của AEC, liên kết tài chính sẽ tăng tốc trong những năm tới đây. Đây là quá trình từng bước và mang tính dài hạn theo cách thức riêng, đó là sự đồng thuận trong việc ra quyết định. Trong đó, việc tăng cường xây dựng hệ thống dịch vụ tài chính liên kết giữa các nước ASEAN cùng với sự kết nối các dòng vốn rất lớn trong khu vực, kể cả ASEAN cộng ba (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) có thể làm tăng dòng vốn vào ASEAN, mặc dù lãi suất toàn cầu có xu hướng tăng dần. Đây là dòng vốn có tiềm năng rất lớn, nhất là đối với những nước ASEAN có mức độ mở cửa hạn chế. Đối với các quốc gia thành viên ASEAN, việc mở cửa tài khoản vốn sẽ mang lại lợi ích quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đáng chú ý, việc mở rộng phổ cập tài chính sẽ làm tăng mức độ đồng đều về thu nhập thực tế của người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và hạn chế làn sóng di dân, nhất là tại những khu vực còn tồn tại sự bất bình đẳng đáng kể.
Việc thực hiện các cam kết mở rộng tự do hóa tài chính và liên kết thị trường vốn đòi hỏi phải theo trình tự và giai đoạn nhất định, do mở cửa tài chính có thể dẫn đến những chao đảo lớn tại các nước ASEAN. Trong quá trình dỡ bỏ các rào cản về liên kết tài chính giữa các nước trong khu vực, phần lớn thâm hụt vãng lai sẽ được bù đắp bởi những dòng vốn khác nhau và rủi ro sẽ gia tăng, qua đó làm tăng bất ổn kinh tế vĩ mô. Điều này đòi hỏi phải có cách thức quản lý phù hợp, cả ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Trong ngữ cảnh trên và những tổn thương về tài chính tại một số nước thu nhập thấp thuộc ASEAN, các nhà tạo lập chính sách cần có cách tiếp cận thận trọng trong việc tiếp tục tự do hóa tài chính và tài khoản vốn. Để tiếp tục lộ trình này, các nước ASEAN cần tiếp tục củng cố khung khổ kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính. Có thể dựa vào nguồn dự trữ ngoại tệ lớn và những biện pháp hỗ trợ khác, bao gồm mạng lưới an toàn tài chính song phương và nội bộ ASEAN (theo CMIM), đây là những yếu tố có tác dụng nâng cao tính bền vững trước rủi ro mang tính chu kỳ về các dòng vốn quốc tế.
Xuân Thanh (Nguồn: ADB, IMF, ASEAN)