Phổ cập tài chính từ phương diện thanh toán ở Việt Nam giai đoạn 2017-2020
ThS. Nghiêm Thanh Sơn1
Phổ cập tài chính là việc cung cấp các dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi thành viên xã hội với mức chi phí hợp lý, đặc biệt chú trọng đến nhóm cá nhân và tổ chức yếu thế, chưa được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính chính thống. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã có định hướng phát triển phổ cập tài chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là đơn vị được giao nhiệm vụ điều phối chung xây dựng một Chiến lược Phổ cập Tài chính Quốc gia, dự kiến ban hành vào năm 2018 và triển khai các chương trình/dự án liên quan. Về tổng thể, chiến lược phổ cập tài chính giai đoạn này đã xác định rõ ràng dịch vụ thanh toán cần được phát triển tiên phong để tạo nền tảng mở rộng tới các dịch vụ tài chính khác một cách vững chắc. Việt Nam là một trong số 25 nước được Ngân hàng Thế giới (WB) tập trung hỗ trợ thúc đẩy phổ cập tài chính trong khuôn khổ Sáng kiến Tiếp cận Tài chính Toàn cầu đến năm 2020 (UFA 2020) do Chủ tịch WB khởi xướng và hiện đang hỗ trợ NHNN triển khai xây dựng Chiến lược này.
Năm 2016, một báo cáo khuyến nghị hành động có tính chất toàn cầu về phát triển thanh toán trong phổ cập tài chính của Nhóm đặc trách PAFI đã được WB phối hợp cùng Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ban hành làm căn cứ để các nước triển khai theo các nguyên tắc hướng dẫn chung cho mỗi quốc gia. Báo cáo PAFI xác định mục tiêu cuối cùng của phát triển thanh toán trong phổ cập tài chính là việc đảm bảo mỗi người dân, doanh nghiệp và cơ quan chính phủ được tiếp cận và sử dụng thường xuyên ít nhất một tài khoản giao dịch trong các giao dịch thanh toán
hàng ngày.
Tài khoản giao dịch - nền tảng cung ứng dịch vụ thanh toán điện tử
Theo Báo cáo PAFI, tài khoản giao dịch được hiểu là tài khoản được sử dụng để chuyển - nhận các khoản thanh toán và lưu trữ giá trị tiền tệ. Như vậy, chức năng thanh toán là đặc điểm nhận biết quan trọng của tài khoản này. Theo cách hiểu đó, tài khoản giao dịch sẽ bao gồm tài khoản thanh toán/tài khoản vãng lai do các ngân hàng cung ứng rất phổ biến hiện nay và một loại hình tài khoản được công nhận gần đây là tài khoản tiền điện tử (e-money) hay tài khoản tiền di động (mobile money) do các tổ chức phi ngân hàng cung ứng, ví dụ như tổ chức phát hành ví điện tử, thậm chí là tổ chức cung ứng dịch vụ mạng viễn thông di động (MNOs) được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.
Tài khoản tiền điện tử bị hạn chế về tính năng, thông thường chỉ được sử dụng ở môi trường cơ sở hạ tầng do chính các tổ chức phi ngân hàng cung ứng, không cho phép chủ tài khoản thực hiện giao dịch ở các hệ thống thanh toán của ngân hàng (ví dụ như ATM/POS). Tuy nhiên, loại hình tài khoản này được công nhận độc lập (nghĩa là không cần phải duy trì một tài khoản thanh toán tại ngân hàng đi kèm như quy định của Việt Nam) và có thể liên thông được với tài khoản thanh toán của ngân hàng (có thể chuyển và nhận tiền giữa hai tài khoản). Với chi phí thấp và yêu cầu xác thực người sử dụng (KYC/CDD) đơn giản hơn tài khoản thanh toán, tài khoản tiền điện tử có thể giúp cho những người chưa được tiếp cận dịch vụ tài chính có được một tài khoản giao dịch đầu tiên, tạo điều kiện cho họ làm quen với các dịch vụ tài chính phức tạp hơn; do đó, có thể đóng góp đáng kể vào mục tiêu phổ cập tài chính.
Một số quốc gia đang xem xét ban hành quy định các tổ chức cung ứng dịch vụ tài khoản phải thiết kế một loại tài khoản giao dịch có tên là tài khoản cơ bản (basic account) với tính năng, yêu cầu KYC đơn giản, chi phí duy trì thấp (thậm chí có xu hướng không yêu cầu duy trì số dư tối thiểu) và có thiết lập hạn mức số dư tối đa (phục vụ mục đích về phòng chống rửa tiền - AML) để phục vụ cho nhóm khách hàng mục tiêu trong chiến lược phổ cập tài chính. Đồng thời, việc thiết kế tài khoản cơ bản với mức độ rủi ro thấp cũng tạo điều kiện cho mạng lưới đại lý (bưu điện, cửa hàng bán lẻ…) của các tổ chức được cấp phép tham gia vào việc cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ từ loại tài khoản này, giúp gia tăng các điểm giao dịch cho khách hàng với chi phí rẻ đáng kể so với mạng lưới chi nhánh truyền thống của
ngân hàng.
Tài khoản giao dịch là dịch vụ tài chính đơn giản nhất, dễ dàng tiếp cận nhất và được sử dụng thường xuyên nhất so với các dịch vụ tài chính khác vì để phục vụ cho nhu cầu cơ bản của xã hội là cất trữ, chuyển và nhận các khoản tiền hàng ngày. Chiến lược phổ cập tài chính đã xác định việc cung ứng tài khoản giao dịch để tạo điều kiện cho mục đích thanh toán và cất trữ chỉ là bước khởi đầu để tiếp cận tới tất cả các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác nhau như tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và đầu tư, nói cách khác là bước đầu tiên để có thể tiến tới phổ cập tài chính một cách toàn diện.
Thật vậy, khi khách hàng mở và sử dụng tài khoản giao dịch, các tổ chức có thể dễ dàng thu thập được một số thông tin quan trọng cần thiết (ví dụ như nguồn thu nhập thường xuyên, xu hướng thanh toán…) để hỗ trợ thiết lập một hồ sơ giao dịch tài chính liên quan tới các dịch vụ tài chính khác (đặc biệt là tín dụng) và đóng vai trò nghiệp vụ quan trọng để hỗ trợ cho các dịch vụ khác ví dụ như thanh toán hóa đơn định kỳ, trả nợ các khoản vay, phí bảo hiểm một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Bên cạnh việc hỗ trợ tiếp cận dịch vụ tài chính cho mục tiêu phổ cập tài chính, tài khoản giao dịch còn có tác động tích cực đến sự phát triển của phương tiện, dịch vụ thanh toán điện tử và rộng hơn là hệ thống thanh toán quốc gia. Với tần suất và mức độ sử dụng tài khoản giao dịch đủ lớn để thực hiện các khoản thanh toán sẽ làm tăng tính bền vững và hiệu quả tổng thể của cơ sở hạ tầng thanh toán điện tử. Hơn nữa, để hỗ trợ mục tiêu phổ cập tài chính, cũng đòi hỏi cần phải thực hiện cải cách khuôn khổ pháp lý về thanh toán, từ đó tạo ra sự thay đổi tích cực đến hệ thống thanh toán quốc gia. Theo một vòng tuần hoàn, những yếu tố tích cực đó tác động trở lại giúp cải thiện hơn nữa điều kiện tiếp cận và sử dụng tài khoản giao dịch phục vụ cho phổ cập tài chính.
Các nguyên tắc hướng dẫn tăng cường tiếp cận và sử dụng tài khoản giao dịch - Thực trạng tại Việt Nam
Theo khuyến nghị tại Báo cáo PAFI, để giải quyết những rào cản tiếp cận và sử dụng tài khoản giao dịch nhằm đạt mục tiêu để ra, các quốc gia cần thiết kế các giải pháp dựa trên một số nguyên tắc chung sau: (Hình 1)
Hình 1
Dựa vào các nguyên tắc hướng dẫn của Báo cáo PAFI, NHNN đã chủ động nghiên cứu, đánh giá và lồng ghép các giải pháp tăng cường tiếp cận và sử dụng tài khoản giao dịch vào Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào cuối năm 2016. Cụ thể:
Nguyên tắc số 1: Cam kết của chính phủ và các tổ chức tư nhân trong việc mở rộng phổ cập tài chính phải được thể hiện một cách rõ ràng, chắc chắn và ổn định theo thời gian.
Chủ trương thúc đẩy phổ cập tài chính tại Việt Nam đã được Chính phủ định hướng và giao NHNN là cơ quan chủ trì và điều phối chung về phổ cập tài chính tại Việt Nam, trong đó xây dựng Chiến lược Phổ cập Tài chính Quốc gia, dự kiến ban hành vào năm 2018. Cơ sở hạ tầng tài chính cốt lõi phục vụ cho phổ cập tài chính tại Việt Nam đã được định hướng phát triển đi trước một bước. Từ năm 2006 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 03 Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006; Quyết định số 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011 và Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016) với nhiều giải pháp phát triển hệ thống, phương tiện và dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế, đã góp phần hình thành cơ sở hạ tầng tài chính quan trọng thúc đẩy phổ cập tài chính trong thời gian tới.
Nguyên tắc số 2: Khuôn khổ pháp lý và các quy định phải có tính hỗ trợ cho phổ cập tài chính thông qua việc giải quyết có hiệu quả những rủi ro liên quan và bảo vệ người tiêu dùng, đồng thời vẫn đảm bảo thúc đẩy được các yếu tố đổi mới và cạnh tranh.
Hành lang pháp lý, các cơ chế, chính sách cho hoạt động thanh toán đã được bổ sung, xác lập và ngày càng hoàn thiện; hệ thống văn bản từ Luật, Nghị định đến Thông tư được ban hành một cách khá đồng bộ, tạo lập hành lang pháp lý quan trọng, điều chỉnh đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động thanh toán trong nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi hơn, khuyến khích phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), tăng cường quản lý thanh toán bằng tiền mặt và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Từ năm 2011, Luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực thi hành, trong đó bổ sung một số quy định trong lĩnh vực thanh toán để phù hợp với xu thế phát triển. Vai trò và vị thế của NHNN được khẳng định trong việc tổ chức, quản lý, vận hành Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS), giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng và quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.
- NHNN đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định 101/2012/NĐ-CP về TTKDTM, Nghị định 80/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 101/2012/NĐ-CP, tạo lập hành lang pháp lý quan trọng, điều chỉnh đối với các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia vào hoạt động thanh toán trong nền kinh tế, góp phần nâng cao vai trò quản lý nhà nước về thanh toán.
- Giai đoạn 2010 - 2016, NHNN ban hành 21 Thông tư để hướng dẫn về các lĩnh vực dịch vụ thanh toán điện tử; dịch vụ trung gian thanh toán; phí dịch vụ thanh toán, phí thẻ ghi nợ nội địa; mở và sử dụng tài khoản thanh toán; yêu cầu kỹ thuật về an toàn bảo mật đối với trang thiết bị phục vụ thanh toán thẻ và hoạt động thẻ ngân hàng; quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; thanh toán séc; quản lý, vận hành và đảm bảo an ninh an toàn hoạt động của ATM…
- Hành lang pháp lý hiện nay đã hỗ trợ các tổ chức không phải ngân hàng có thể tham gia vào thị trường cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, góp phần mở rộng mạng lưới và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, thanh toán phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng, tiến tới thúc đẩy mục tiêu phổ cập tài chính.
Nguyên tắc số 3: Cơ sở hạ tầng tài chính và công nghệ thông tin khi được phát triển mạnh mẽ, an toàn, hiệu quả và có độ bao phủ rộng sẽ có hiệu quả đối với việc cung ứng các dịch vụ tài khoản giao dịch và cũng hỗ trợ cho việc cung ứng các dịch vụ tài chính khác.
Cơ sở hạ tầng tài chính, công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ cho phổ cập tài chính cần phải được thiết kế đảm bảo có đầy đủ các hệ thống cốt lõi sau: (Hình 2)
Phạm vi bài viết sẽ chỉ tập trung vào những hạ tầng thanh toán quan trọng, bao gồm:
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thanh toán đã được thiết lập cùng với sự triển khai của Hệ thống IBPS. Hệ thống IBPS đã bắt đầu được triển khai từ năm 2002 với sự hỗ trợ từ WB và được nâng cấp trong năm 2008. Hệ thống này được quản lý và vận hành bởi NHNN. Hệ thống bao gồm hai cấu phần: Tiểu hệ thống giá trị cao phục vụ các giao dịch thanh toán liên ngân hàng tổng tức thời giá trị lớn và Tiểu hệ thống giá trị thấp được thiết kế để xử lý theo lô các giao dịch chuyển có liên ngân hàng giá trị thấp. Việc triển khai Hệ thống IBPS cho phép giảm thiểu rủi ro và tăng tính an toàn và tốc độ cho các giao dịch thanh toán liên ngân hàng, trong những năm qua được quản lý, vận hành trôi chảy, an toàn, ổn định, đáp ứng nhu cầu giao dịch thanh toán ngày càng tăng của nền kinh tế; số lượng, giá trị giao dịch thanh toán tiếp tục tăng lên. Trong giai đoạn 2011-2016, hệ thống IBPS trung bình xử lý trên 180 ngàn giao dịch/ngày với tổng giá trị hơn 170 ngàn tỷ đồng/ngày; riêng trong năm 2016, hệ thống IBPS xử lý gần 45 triệu tỷ đồng với trên 80 triệu giao dịch (tăng tương ứng 69,22% và 368,47% so với năm 2010). Hệ thống IBPS tiếp tục phát huy vai trò là hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia, qua đó tạo ra nền tảng cơ sở vật chất, kỹ thuật vững chắc cho thanh toán điện tử. Hệ thống IBPS giá trị thấp mới đáp ứng phần nào nhu cầu thực hiện bù trừ các giao dịch ủy nhiệm chi liên ngân hàng giá trị thấp và thành viên được phép tham gia là các ngân hàng thương mại.
- NHNN đã tập trung chỉ đạo xây dựng và triển khai Phương án sáp nhập Công ty Cổ phần dịch vụ thẻ Smartlink vào Banknetvn để triển khai Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất. Đến nay, hai công ty đã hoàn thành việc sáp nhập và đổi tên là Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), qua đó tập trung chuyển mạch về một đầu mối, tạo thuận lợi và hiệu quả hơn trong việc kết nối, chuyển mạch thẻ tại Việt Nam. Đây là bước đi quan trọng nhằm tạo nền tảng kỹ thuật và tăng cường vai trò định hướng của Nhà nước cho hoạt động thanh toán thẻ nói riêng và thanh toán bản lẻ nói chung.
- Các ngân hàng thương mại tiếp tục quan tâm, chú trọng đầu tư, cập nhật và phát triển hệ thống thanh toán nội bộ, hệ thống ngân hàng lõi với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, quản lý tập trung, cho phép cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán đa dạng, tiện lợi, mở rộng phạm vi cung ứng trên toàn quốc, qua đó tiết giảm thời gian và chi phí giao dịch cho người dân, doanh nghiệp và nhận được những phản hồi tích cực của khách hàng.
Nguyên tắc số 4: Việc cung ứng tài khoản giao dịch và sản phẩm thanh toán phải đáp ứng có hiệu quả nhu cầu giao dịch đa dạng của nhóm dân số mục tiêu với chi phí nhỏ hoặc không mất chi phí.
Hiện nay, tại Việt Nam, chỉ có tài khoản thanh toán do ngân hàng cung ứng mới được công nhận trong các quy định pháp lý hiện hành và cũng chỉ có loại hình tài khoản thanh toán duy nhất phục vụ cho tất cả các đối tượng, việc thiết kế tài khoản theo từng đối tượng khách hàng do các ngân hàng tự quyết định. Việc cung ứng tài khoản cho đối tượng khách hàng thu nhập thấp và yếu thế chưa được các ngân hàng đẩy mạnh. Bên cạnh tài khoản thanh toán, có loại hình tài khoản ví điện tử (có bản chất giống tài khoản tiền điện tử của các nước) do tổ chức trung gian thanh toán phát hành, mặc dù thủ tục đơn giản và có chi phí duy trì thấp hơn nhưng loại tài khoản này vẫn chưa phát huy được hết ưu điểm bởi hiện nay người sử dụng vẫn cần phải có tài khoản thanh toán của ngân hàng đi kèm để đảm bảo an toàn.
Nguyên tắc số 5: Tài khoản giao dịch sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn khi có được một mạng lưới các điểm tiếp cận có độ bao phủ rộng về mặt địa lý và có nhiều kênh tiếp cận có khả năng liên thông với nhau.
Mạng lưới điểm tiếp cận dịch vụ thanh toán điện tử tại Việt Nam khá đa dạng và đang dần được mở rộng theo phạm vi địa lý cũng như phạm vi cung ứng dịch vụ, cụ thể:
- Hạ tầng mạng lưới ATM/POS đã được tập trung đầu tư phát triển và cải thiện chất lượng từ năm 2006 trên khắp 63 tỉnh, thành phố cả nước với 17.500 ATM và 263.000 POS tính đến hết tháng 12/2016. POS hiện đã được lắp đặt tại hầu hết các cơ sở, chuỗi phân phối, bán lẻ, khách sạn lớn và đang mở rộng dần ra các cơ sở y tế, bệnh viện, trường học. NHNN đã chỉ đạo công ty chuyển mạch, các đơn vị liên quan hoàn thành kết nối liên thông hệ thống ATM/POS trên phạm vi toàn quốc, qua đó thẻ của một ngân hàng đã có thể sử dụng để rút tiền và thanh toán tại hầu hết ATM/POS của các ngân hàng khác, tạo ra tiện ích lớn hơn cho chủ thẻ, góp phần thúc đẩy thanh toán qua tài khoản trong khu vực dân cư.
- Việc triển khai các dịch vụ thanh toán điện tử qua Internet và điện thoại di động đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thu hút số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ khá lớn, cũng như số lượng và giá trị giao dịch tăng cao (nhiều ngân hàng đạt mức tăng trên 100% hàng năm); thể hiện tiềm năng, xu hướng trong phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại, qua đó tạo thêm kênh thanh toán mới, thuận tiện và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, nhà cung cấp hàng hóa và cả ngân hàng. Đến nay, tại Việt Nam, đã có 70 tổ chức tín dụng triển khai cung ứng các dịch vụ thanh toán qua Internet và 35 tổ chức cung ứng các dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động. Thanh toán qua Internet và điện thoại di động mang lại nhiều thuận lợi, tiện ích cho người sử dụng và đang được khách hàng sử dụng ngày càng nhiều hơn. Trong năm 2016, số lượng giao dịch tài chính qua kênh Internet là gần 126 triệu giao dịch, với giá trị giao dịch trên 7 triệu tỷ đồng; tương tự số lượng giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động là gần 98 triệu giao dịch, với giá trị giao dịch trên 300 nghìn tỷ đồng.
- Hạ tầng mạng lưới thanh toán thương mại điện tử đã được thiết lập và tiếp tục phát triển với sự gia tăng số lượng tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với nhiều loại hình và kênh thanh toán sử dụng tài khoản giao dịch như dịch vụ cổng thanh toán điện tử, dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ và dịch vụ ví điện tử. Đến nay, có 21 tổ chức trung gian thanh toán được cấp phép với 3,9 triệu ví điện tử được phát hành.
- Cùng với xu thế triển khai mô hình ngân hàng đại lý của các quốc gia đi đầu về phổ cập tài chính, NHNN đã xây dựng và triển khai thí điểm một số hình thức ủy thác thanh toán, qua đó sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại nhưng dễ sử dụng, phù hợp với địa bàn nông thôn để mở rộng các điểm tiếp cận dịch vụ trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Đến nay, NHNN đã chấp thuận triển khai thí điểm 03 mô hình: Dịch vụ chuyển tiền nhanh của Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Xăng dầu Petrolimex trên cơ sở hợp tác sử dụng mạng lưới các chi nhánh, cửa hàng xăng dầu của Petrolimex tại các khu vực nông thôn; dịch vụ chuyển tiền giá trị nhỏ của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam trên cơ sở hợp tác sử dụng mạng lưới các đại lý viễn thông của Công ty Cổ phần Di động Trực tuyến (M_Service) ở khu vực nông thôn; Dịch vụ chuyển tiền của NHTMCP Quân đội trên cơ sở hợp tác sử dụng mạng lưới của Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) ở địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo. Trong thời gian đầu thực hiện, các mô hình thực hiện thí điểm đã đạt một số kết quả khả quan với hơn 22.800 điểm giao dịch phục vụ trên 2,5 triệu khách hàng trên cả nước.
Nguyên tắc số 6: Thông qua những chương trình nâng cao nhận thức và phổ cập kiến thức tài chính, người dân phải được trang bị kiến thức về lợi ích của việc sử dụng tài khoản giao dịch, cách thức sử dụng tài khoản một cách hiệu quả với mục đích thanh toán hay lưu trữ giá trị cũng như cách thức tiếp cận các dịch vụ tài chính khác.
NHNN đã và đang tích cực, triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức, cung cấp thông tin về các phương tiện, dịch vụ thanh toán điện tử nhằm giúp cho công chúng, người sử dụng và các tổ chức trong xã hội hiểu, tiếp cận và sử dụng các phương tiện, dịch vụ thanh toán qua tài khoản một cách đầy đủ, kịp thời, tạo được sự chuyển biến bước đầu về thói quen sử dụng tiền mặt. Nhiều NHTM đã tích cực thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan truyền thông, đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ để tuyên truyền, quảng bá về thanh toán thẻ qua POS, thanh toán điện tử dưới nhiều hình thức phong phú, hiệu quả; triển khai nhiều chương trình khuyến mại, ưu đãi hấp dẫn, áp dụng những mức phí phù hợp đối với khách hàng sử dụng dịch vụ; tăng cường công tác truyền thông để các doanh nghiệp, người dân nhận thức đầy đủ về các nguy cơ, rủi ro, được trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết giúp cho việc sử dụng các dịch vụ thanh toán an toàn và hiệu quả. NHNN chi nhánh một số tỉnh, thành phố chủ động tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, cơ chế chính sách về thanh toán điện tử trên địa bàn.
Nguyên tắc số 7: Các luồng thanh toán với số lượng giao dịch lớn và thường xuyên, kể cả chuyển tiền, được tận dụng để thúc đẩy mục tiêu phổ cập tài chính, cụ thể bằng cách gia tăng số lượng tài khoản giao dịch và tạo động lực cho việc sử dụng thường xuyên các tài khoản này.
Từ năm 2006 đến nay, Chính phủ Việt Nam có 2 sáng kiến quan trọng làm gia tăng luồng thanh toán với số lượng giao dịch lớn và định kỳ, góp phần thúc đẩy mục tiêu phổ cập tài chính, bao gồm:
- Triển khai Chương trình trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương ngân sách nhà nước (NSNN). Chương trình này đã thúc đẩy việc gia tăng đáng kể số lượng tài khoản giao dịch và tạo thói quen sử dụng tài khoản để thanh toán các khoản chi tiêu hàng ngày của đối tượng được trả lương. Số lượng đơn vị sử dụng NSNN và số cán bộ, công chức thực hiện trả lương qua tài khoản tiếp tục tăng lên; đến nay, đã có 70.505 đơn vị hưởng lương từ NSNN (chiếm trên 77%) thực hiện trả lương qua tài khoản với hơn 2,28 triệu cán bộ, công chức nhận lương qua tài khoản; trong đó, 15 tỉnh, thành phố có số lượng các đơn vị sử dụng NSNN đã trả lương qua tài khoản đạt trên 80%. Việc trả lương qua tài khoản đối với đối tượng hưởng lương NSNN cũng đã tạo động lực tích cực thúc đẩy việc áp dụng sáng kiến này đối với khu vực tư nhân.
- Phối hợp thu chi NSNN giữa các cơ quan trong ngành Tài chính (Kho bạc Nhà nước - KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan) với các NHTM:
+ Bộ Tài chính đã chỉ đạo triển khai dự án tổ chức phối hợp thu NSNN giữa các cơ quan thuộc Bộ với các NHTM; đến nay, KBNN đã triển khai phối hợp thu NSNN với 21 hệ thống NHTM tại 63 KBNN tỉnh, thành phố, 768 đơn vị KBNN quận, huyện và Sở giao dịch KBNN. KBNN cũng đẩy mạnh việc phối hợp thu, kết nối trao đổi thông tin, dữ liệu thu NSNN với các cơ quan thu và các hệ thống NHTM; triển khai thí điểm thu NSNN qua POS tại một số đơn vị KBNN... Trên cơ sở đó, KBNN áp dụng các hình thức thu nộp NSNN hiện đại, tiện lợi thông qua tài khoản giao dịch như nộp NSNN qua Internet, ATM, POS…, từ đó tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể lựa chọn địa điểm phù hợp nhất, nơi có trụ sở KBNN hoặc chi nhánh/điểm giao dịch của NHTM; thực hiện thu nộp ngoài giờ hành chính; người nộp thuế có thể tiếp cận được các dịch vụ thu nộp NSNN hiện đại, tiện lợi; giảm thời gian thực hiện một giao dịch nộp NSNN rút xuống chỉ còn 5 phút/1 giao dịch (so với khoảng 30 phút như trước đây).
+ NHNN cũng chỉ đạo các NHTM thực hiện thanh toán điện tử trong công tác phối hợp thu NSNN; đến nay, đã có hơn 40 NHTM triển khai phối hợp thu thuế điện tử với Tổng cục Thuế và 33 NHTM đã ký thỏa thuận phối hợp thu NSNN với Tổng cục Hải quan. Tỷ lệ thu qua các NHTM phối hợp thu của ngành Hải quan đạt trên 90% thu NSNN, góp phần làm giảm thời gian làm thủ tục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp. Đồng thời, NHNN phối hợp với Bộ Tài chính tiến hành khảo sát, nghiên cứu phương án chỉnh sửa hệ thống IBPS và hệ thống quản lý, chia sẻ dữ liệu thu nộp NSNN để đáp ứng yêu cầu thông tin thu NSNN.
Một số giải pháp phát triển thanh toán nhằm thúc đẩy phổ cập tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020
Áp dụng các nguyên tắc của Báo cáo PAFI, một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới cụ thể như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và bảo vệ người tiêu dùng
- Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến TTKDTM tại các văn bản Luật hiện hành (như Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng, Luật phòng chống rửa tiền); hoặc nghiên cứu, xây dựng một Luật riêng về các hệ thống thanh toán, qua đó đảm bảo tính bao quát, thống nhất và quản lý toàn diện các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế phù hợp với thực tế Việt Nam dựa trên chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
- Ban hành các quy định về ngân hàng đại lý, cho phép các tổ chức phi ngân hàng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ thanh toán mới, mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa để thúc đẩy việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán.
- Ban hành các cơ chế, chính sách thích hợp về phí dịch vụ thanh toán để khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện thanh toán điện tử; quy định về cách thức tính phí, cơ cấu phân bổ phí của các tổ chức vận hành các hệ thống thanh toán, đảm bảo mức phí hợp lý, tạo lập thị trường cạnh tranh bình đẳng, tránh độc quyền.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, chính sách về đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật, phòng, chống rửa tiền, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, đặc biệt là tội phạm và gian lận trong thanh toán thẻ, thanh toán qua ATM, POS, thanh toán qua Internet, điện thoại di động và các phương thức thanh toán sử dụng công nghệ cao.
- Tăng cường quản lý, giám sát đối với các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế như Hệ thống IBPS, hệ thống chuyển mạch thẻ, Hệ thống ACH, hệ thống thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng, hệ thống thanh toán chứng khoán; các hoạt động thanh toán xuyên biên giới, thanh toán quốc tế; các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, bao gồm cả việc thiết lập các tiêu chuẩn, tiêu chí giám sát để yêu cầu đối với tổ chức vận hành phải tuân thủ, bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và quyền lợi của các thành viên, người sử dụng cũng như vì lợi ích tổng thể của nền kinh tế.
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ hiệu quả người tiêu dùng các dịch vụ thanh toán điện tử như tăng cường tính minh bạch và công bố công khai các thông tin về sản phẩm, dịch vụ thanh toán điện tử; cải thiện các hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán điện tử, các TCCUDVTT, dịch vụ trung gian thanh toán cần đảm bảo rằng các hợp đồng của họ là rõ ràng và dễ hiểu đối với khách hàng; có cơ chế xử lý khiếu nại, đền bù, tranh chấp hiệu quả; xây dựng một kênh tiếp nhận, xử lý thông tin trực tuyến để người dân có thể phản ánh, cập nhật các hành vi tội phạm như gian lận, giả mạo, lừa đảo, biện pháp nhận biết rủi ro, cách phòng tránh và xử lý khi bị lợi dụng trong hoạt động thanh toán điện tử.
Thứ hai, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thanh toán
- Nâng cấp và hoàn thiện Hệ thống IBPS của NHNN:
Trong giai đoạn 2016 - 2020, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế và hội nhập quốc tế, Hệ thống IBPS thế hệ mới sẽ được đẩy mạnh đầu tư cùng với hoàn thiện chức năng vận hành và xử lý theo các chuẩn mực quốc tế, góp phần đẩy mạnh phổ cập tài chính: (i) Chuyển đổi từ mô hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung tại một Trung tâm Thanh toán Quốc gia, thực hiện quyết toán liên ngân hàng tập trung qua một tài khoản mở tại NHNN; (ii) Hiện đại hóa hệ thống thanh toán giá trị thấp, nâng cao chất lượng phục vụ cho các thành viên, tăng tốc độ xử lý và tăng số phiên bù trừ, đảm bảo hiệu quả cho việc chu chuyển vốn liên ngân hàng; (iii) Thực hiện lộ trình thích hợp, từng bước chuyển đổi mô hình tổ chức, vận hành và quản lý Hệ thống IBPS theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cung ứng dịch vụ công tại một đơn vị độc lập dưới sự quản lý trực tiếp của NHNN để đảm bảo tính tự chủ, tăng cường hiệu quả hoạt động và đáp ứng được nhu cầu liên tục đổi mới.
- Thiết lập và đưa vào vận hành Hệ thống ACH:
Hệ thống ACH với đầy đủ tính năng với công nghệ hiện đại sẽ được thiết lập và đưa vào vận hành. Hệ thống ACH sẽ cho phép nhiều thành viên tham gia hơn, bao gồm doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cung ứng dịch vụ bù trừ liên ngân hàng cho nhiều loại hình phương tiện thanh toán hơn, bao gồm ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu và các phương tiện thanh toán mới với nhiều kênh thanh toán hơn như thương mại điện tử, thanh toán qua internet và điện thoại di động. Hệ thống sẽ hoạt động 24/7, vì vậy cho phép chuyển tiền nhanh và sẽ làm tăng đáng kể tốc độ bù trừ và quyết toán các khoản thanh toán qua tài khoản giao dịch.
- Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế đối với cơ sở hạ tầng thanh toán:
Để đảm bảo khả năng hoạt động liên thông và hiệu quả trao đổi dữ liệu của cơ sở hạ tầng tài chính, trong thời gian tới, NHNN sẽ áp dụng chuẩn tin điện tài chính toàn cầu ISO 20022 đối với Hệ thống IBPS, Hệ thống ACH và thông tin rộng rãi tới các thành viên thị trường về định hướng này để tiết kiệm chi phí khi đầu tư, nâng cấp hệ thống mới. Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo xây dựng chuẩn thẻ chip nội địa, cập nhật những tiến triển công nghệ thanh toán thẻ mới và thực hiện kế hoạch chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip tại Việt Nam, đạt được mục tiêu đề ra nhằm đảm bảo thống nhất việc quản lý, định hướng kỹ thuật đối với hạ tầng thanh toán thẻ.
Thứ ba, thiết kế tài khoản giao dịch và sản phẩm thanh toán đa dạng
Tài khoản thanh toán cần được thiết kế đa dạng hơn để phục vụ cho các đối tượng mục tiêu của phổ cập tài chính. NHNN nghiên cứu, rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy định về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán theo cấp độ tương ứng với các quy định về KYC/CDD đối với loại hình tài khoản này; nghiên cứu, áp dụng các công nghệ thanh toán hiện đại mới với chi phí hợp lý, tốc độ thanh toán nhanh, đơn giản, tiện dụng và chất lượng cao, trong đó có thanh toán thẻ chip EMV, Token hóa thế hệ mới, thẻ không tiếp xúc và chấp nhận thanh toán không tiếp xúc, thanh toán không tiếp xúc trên di động, thanh toán trường gần trên di động (NFC), ví điện tử,
mã QR Code.
Thứ tư, tiếp tục mở rộng các điểm tiếp cận dịch vụ
Để gia tăng các điểm tiếp cận giao dịch, cùng với tiếp tục đầu tư và mở rộng mạng lưới ATM/POS/internet banking/mobile banking/cổng thanh toán/ví điện tử tới khu vực và đối tượng có đủ điều kiện, NHNN có chủ trương đẩy mạnh phát triển, ứng dụng các phương tiện và mô hình thanh toán/chuyển tiền hiện đại, dễ sử dụng và phù hợp với điều kiện ở nông thôn (thanh toán qua điện thoại di động, thiết bị kỹ thuật số…) nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt ở những khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và cả đối với những đối tượng chưa có tài khoản ngân hàng, trên cơ sở sử dụng mạng lưới sẵn có của các tổ chức tín dụng, mạng lưới bưu điện, mạng lưới của các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (như các cửa hàng bán lẻ)... gắn với việc xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thúc đẩy phổ cập tài chính tại Việt Nam.
Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, đào tạo, hướng dẫn
Tăng cường đào tạo cho cán bộ, nhân viên của các tổ chức cung ứng dịch vụ để có kỹ năng hướng dẫn khách hàng hiểu và sử dụng các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử; đưa các nội dung, kiến thức cơ bản về thanh toán điện tử, nhất là các phương tiện thanh toán điện tử mới vào chương trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về kinh tế, tài chính, ngân hàng...; phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng và thực hiện các chương trình truyền hình, truyền thông phù hợp, hiệu quả để phổ biến kiến thức, giáo dục tài chính, kỹ năng tài chính cho các tổ chức/cá nhân có liên quan, kể cả người cao tuổi, người dân ở vùng nông thôn; thực hiện chương trình tiếp thị, phổ biến các kinh nghiệm, sáng kiến tốt trên thế giới, cung cấp tư vấn, các chương trình quản lý rủi ro… để tạo điều kiện thúc đẩy thanh toán điện tử. Sử dụng mạng xã hội (facebook, fanpage, ...), các điểm bưu điện - văn hóa xã ... tại các khu vực nông thôn, miền núi để tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn về thanh toán điện tử.
Thứ sáu, đẩy mạnh luồng thanh toán định kỳ số lượng lớn
Hoàn thiện, tăng cường kết nối xử lý giải pháp trao đổi thông tin dữ liệu giữa các cơ quan trong ngành Tài chính (KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan) với hệ thống ngân hàng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu phối hợp thu NSNN bằng phương thức điện tử. Ứng dụng phương thức thanh toán điện tử tiên tiến đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp công để thực hiện việc thu phí, lệ phí các thủ tục hành chính, dịch vụ công, y tế, giáo dục, giao thông và các dịch vụ công khác; phát triển và ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán điện tử phục vụ chi tiêu công vụ của các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN.
Với cách tiếp cận toàn diện theo khuyến nghị của Báo cáo PAFI, một số định hướng nêu trên sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận và sử dụng thường xuyên tài khoản giao dịch tại Việt Nam, với mục tiêu vào cuối năm 2020 có ít nhất 70% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng, góp phần mở rộng phổ cập tài chính tại Việt Nam trong thời gian tới.
1 Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, NHNN