Đằng sau mức tăng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu
TS. Nguyễn Minh Phong1
Theo Báo cáo về Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2017 (GII-2017) công bố chiều 15/6, Việt Nam xếp hạng 47/127, vượt 12 bậc so với năm 2016. Đây là thứ hạng cao nhất Việt Nam đạt được từ trước đến nay; Việt Nam đã vươn lên xếp hạng thứ nhất (từ vị trí số 3 năm 2016) trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, thứ 9 trong khu vực (gồm Đông Nam Á, Đông Á, và châu Đại Dương) và vươn lên đứng trên Thái Lan trong ASEAN. Việt Nam được đánh giá có thế mạnh trong 7 trụ cột: Đầu ra tri thức và công nghệ, chỉ số phức tạp/đa dạng của thị trường, chỉ số phức tạp/đa dạng kinh doanh, chỉ số đầu ra sáng tạo và chỉ số tăng trưởng đầu tư cho giáo dục….
Như vậy, trong 5 năm qua, vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng GII đã tăng ấn tượng tới 29 bậc, từ vị trí 76 (năm 2013), lên 71 (năm 2014), lên 52 (năm 2015), 59 (năm 2016) và 47 (2017).
Báo cáo về Đổi mới sáng tạo toàn cầu được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thuộc Liên Hợp Quốc, phối hợp với Trường Kinh doanh Insead (Pháp) và Đại học Cornell (Hoa Kỳ) xây dựng lần đầu tiên vào năm 2007 và liên tục được hoàn thiện và công bố định kỳ suốt 10 năm qua. Cốt lõi của Báo cáo là Bảng xếp hạng về đổi mới sáng tạo toàn cầu, với Bộ chỉ số khoảng 80 thành phần đánh giá toàn diện về trình độ đổi mới sáng tạo của mỗi quốc gia về các lĩnh vực: Thể chế/tổ chức, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Trình độ phát triển của thị trường, Trình độ phát triển kinh doanh, Đầu ra công nghệ và tri thức, Kết quả sáng tạo… được phân chia theo 7 trụ cột, với 5 trụ cột đầu tiên thuộc “nhóm tiểu chỉ số đổi mới sáng tạo đầu vào” và 2 trụ cột sau cùng thuộc “nhóm tiểu chỉ số đổi mới sáng tạo đầu ra”. Bộ chỉ số xếp hạng này hiện trở thành Bộ công cụ đánh giá tốt hơn, phong phú và xác đáng hơn so với các thước đo đổi mới sáng tạo truyền thống (như số lượng các bài báo nghiên cứu được công bố, số đăng ký bằng độc quyền sáng chế hay các mức chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển…).
Năm 2016, Việt Nam có sự cải thiện tốt về xếp hạng môi trường cạnh tranh (tăng 9 bậc so với 2016, mức cải thiện tốt nhất từ năm 2008), về xếp hạng Chính phủ điện tử (đứng thứ 89 trên thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2014 và xếp thứ 6 trong ASEAN), nhưng việc giảm 7 bậc về chỉ số GII so với 2015 (từ thứ 52/141 xuống 59/128 quốc gia với số điểm chỉ đạt 35,4/100 điểm, trong đó, Việt Nam đạt thứ hạng cao ở chỉ số về “Hấp thụ tri thức”, “Dòng vốn đầu tư nước ngoài”, “Lan truyền tri thức”, hay “Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa”, nhưng còn yếu ở nhóm chỉ số về “môi trường kinh doanh”, “xếp hạng các đại học”, “việc làm thâm dụng tri thức”, “tỷ lệ lao động nữ có trình độ”, “đăng ký sáng chế quốc tế PCT”, “xuất khẩu dịch vụ ICT”, “nhập khẩu dịch vụ ICT”); Việt Nam cũng giảm 4 bậc so với năm 2015 (từ vị trí 56 xuống thứ 60) về xếp hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới.
GII có mối quan hệ với sự phát triển của nền kinh tế cũng như thể hiện trình độ phát triển công nghệ của một quốc gia. Nhận thức được điều đó, khác với các năm trước, Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh đã tích hợp 4 đánh giá xếp hạng toàn cầu là: Đánh giá, xếp hạng về mức độ thuận lợi kinh doanh của WB; đánh giá, xếp hạng về năng lực cạnh tranh quốc gia của WEF; đánh giá, xếp hạng về năng lực đổi mới sáng tạo và đánh giá, xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc.
Đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam định vị và đặt mục tiêu về chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia trong xếp hạng toàn cầu, đồng thời xây dựng và thực hiện hệ chính sách tương ứng theo thông lệ quốc tế.
Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối hướng dẫn, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, sử dụng báo cáo hằng năm về GII để thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, được thể hiện thông qua việc cải thiện các chỉ số GII.
Chính phủ đã đặt mục tiêu cụ thể “Đến năm 2020, các chỉ số GII đạt trung bình ASEAN 5”. Cụ thể, nhóm chỉ tiêu về Thể chế đạt tối thiểu 55 điểm; nhóm chỉ tiêu Nguồn nhân lực và nghiên cứu đạt tối thiểu 31 điểm; nhóm chỉ tiêu về Cơ sở hạ tầng đạt tối thiểu 43 điểm; nhóm chỉ tiêu về Trình độ phát triển của thị trường đạt tối thiểu 51 điểm; nhóm chỉ tiêu về Trình độ phát triển kinh doanh đạt tối thiểu 35 điểm. Đây chính là năm trụ cột của nhóm chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo, vốn được đánh giá là còn yếu của Việt Nam. Đến hết năm 2017, các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt trung bình của nhóm nước ASEAN 4. Trong đó, tiếp tục cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh, kiên quyết đổi mới công tác quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu theo thông lệ quốc tế. Đến hết năm 2017, đạt tối thiểu bằng trung bình của các nước ASEAN 4 trên các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh, cụ thể là khởi sự kinh doanh thuộc nhóm 70 nước đứng đầu; Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số thuộc nhóm 80 nước; Nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận tín dụng (theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới) thuộc nhóm 30 nước. Riêng chỉ tiêu Tạo thuận lợi trong tiếp cận vốn vay (đánh giá theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới), phấn đấu đến năm 2020, thuộc nhóm 40 nước đứng đầu; rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục, gồm: Nộp thuế và bảo hiểm xã hội không quá 168 giờ/năm (trong đó thuế là 119 giờ và bảo hiểm là 49 giờ); cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan tối đa không quá 120 ngày, bao gồm: thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế kỹ thuật, cấp phép xây dựng xuống còn 63 ngày (giảm 19 ngày); thủ tục kết nối cấp, thoát nước xuống còn 7 ngày (giảm 7 ngày); thủ tục đăng ký sở hữu tài sản sau hoàn công xuống còn 20 ngày (giảm 10 ngày); tiếp cận điện năng không quá 35 ngày; đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản không quá 20 ngày; thông quan hàng hóa qua biên giới còn 70 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu, 90 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu; giải quyết tranh chấp hợp đồng tối đa 300 ngày; thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp còn 30 tháng. Tạo lập hệ thống hỗ trợ khởi sự kinh doanh, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, ổn định, tự do sáng tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp; phấn đấu đạt mức 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020, trong đó tối thiểu 0,5% là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đến năm 2020, đạt điểm số trung bình của nhóm nước ASEAN 4 trên các nhóm chỉ tiêu về năng lực cạnh tranh (theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới). Trong đó, nhóm chỉ tiêu các yêu cầu cơ bản đạt tối thiểu 4,8 điểm (hiện nay là 4,5 điểm). Nhóm chỉ tiêu nâng cao hiệu quả đạt tối thiểu 4,4 điểm (hiện nay là 4,1 điểm). Nhóm chỉ tiêu về đổi mới và mức độ tinh thông trong kinh doanh đạt tối thiểu 3,8 điểm (hiện nay là 3,5 điểm). Đến năm 2020, các chỉ số Đổi mới sáng tạo (theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO) đạt trung bình ASEAN 5. Trong đó, nhóm chỉ tiêu về Thể chế đạt tối thiểu 55 điểm (hiện nay là 51,7 điểm); nhóm chỉ tiêu về Nguồn nhân lực và nghiên cứu đạt tối thiểu 31 điểm (hiện nay là 30,1 điểm); nhóm chỉ tiêu về Cơ sở hạ tầng đạt tối thiểu 43 điểm (hiện nay là 36,7 điểm); nhóm chỉ tiêu về Trình độ phát triển của thị trường đạt tối thiểu 51 điểm (hiện nay 43,0 điểm); nhóm chỉ tiêu về Trình độ phát triển kinh doanh đạt tối thiểu 35 điểm (hiện nay là
30,6 điểm).
Về thực hiện Chính phủ điện tử (theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc), Nghị quyết yêu cầu cải cách toàn diện cả 3 nhóm chỉ số gồm: Hạ tầng viễn thông (TII), nguồn nhân lực (HCl) và dịch vụ công trực tuyến (OSI); phấn đấu đến hết năm 2017, xếp hạng thứ 80; đến năm 2020, đạt trung bình ASEAN 5 về điểm số và thứ hạng tối thiểu thứ 70 trên thế giới. Phấn đấu đến hết năm 2017, hầu hết các dịch vụ công phổ biến, liên quan đến nhiều người dân, doanh nghiệp được cung cấp ở mức độ 3; cho phép sử dụng thanh toán lệ phí trực tuyến, nhận hồ sơ và trả kết quả trực tuyến hoặc gửi qua mạng (dịch vụ công trực tuyến mức độ 4). Nghị quyết đưa ra 250 giải pháp cụ thể, nêu rõ trách nhiệm của các bộ ngành, địa phương. Các giải pháp cụ thể này được liệt kê tại 5 phụ lục, gồm 4 phụ lục cho 4 lĩnh vực và 1 phụ lục cho các nhiệm vụ cần thực hiện ngay trong năm 2017. Các nhiệm vụ này đều được nêu rõ mục tiêu, điểm số, thứ hạng hiện tại của Việt Nam và điểm số, thứ hạng cần đạt được trong thời gian tới.
Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả cải thiện các chỉ số theo phân công và tập trung chỉ đạo thực hiện xây dựng Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, trong đó xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và tiến độ thực hiện đối với từng nhiệm vụ gắn với từng chỉ số được phân công, sớm cập nhật các số liệu lạc hậu, thu thập và bổ sung một số số liệu còn thiếu, qua đó góp phần có được một đánh giá toàn diện, sát thực hơn về năng lực của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia của Việt Nam qua các số đo và xếp hạng GII-2017.
Kết quả tăng hạng về Chỉ số đổi mới sáng tạo 2017 nêu trên là thể hiện một phần kết quả thực hiện Nghị Quyết 19/2017.
Việc Việt Nam có sự cải thiện mạnh xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và cũng được nâng hạng triển vọng xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành nợ nội tệ và ngoại tệ dài hạn từ “ổn định” lên “tích cực” trong các xếp hạng tín nhiệm trái phiếu Chính phủ của các Tổ chức xếp hạng tín dụng hàng đầu thế giới, như Moody’s và Fitch là sự ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư và ổn định kinh tế vĩ mô, khuyến khích tự do, sáng tạo và chuyển mạnh từ tăng trưởng theo bề rộng sang theo bề sâu; thể hiện tầm lãnh đạo mang tính chiến lược khi đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là trọng tâm để phát triển kinh tế.
Công cuộc đổi mới sáng tạo là quá trình mang tính lâu dài, đòi hỏi phải có chính sách, các thành phần nền kinh tế tham gia. Ở Việt Nam, các chính sách trong lĩnh vực bảo vệ sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo đã được ban hành. Đổi mới sáng tạo là động lực của đổi mới mô hình tăng trưởng từ bề rộng sang bề sâu; nền kinh tế ngày càng phát triển thì đổi mới sáng tạo sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn. Đổi mới sáng tạo còn là thước đo phản ánh quyết tâm và hiệu quả đổi mới của Nhà nước kiến tạo và cộng đồng doanh nghiệp, khoa học và công nghệ Việt Nam trong thời gian tới. Gắn đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ với các mục tiêu và hoàn cảnh kinh tế của mình là một trong các điều kiện để Việt Nam thành công, mà minh chứng thuyết phục nhất là sự đột phá về xuất khẩu rau quả 2017 đạt trên 1,3 tỷ USD trong nửa đầu năm 2017 và dự kiến đạt 3 tỷ USD cả năm, lần đầu tiên vượt cả xuất khẩu gạo và dầu thô…
Kết quả xếp hạng Việt Nam trong GII-2017 là sự hội tụ và cộng hưởng những đột phá nhận thức và nỗ lực thực hiện cả một quá trình quyết liệt nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực đổi mới sáng tạo, tiềm lực và hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, bảo đảm quốc phòng an ninh và các nhu cầu phát triển của xã hội của Việt Nam; tiếp tục định hướng và tạo đà cho những cải cách và kết quả kỳ vọng tích cực hơn trong đổi mới toàn diện và chủ động hội nhập quốc tế thời gian tới.
1 Hà Nội