Đồng bộ giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
TS. Nguyễn Minh Phong1
ThS. Nguyễn Trần Minh Trí2
Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) là hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để sản xuất một hoặc một số sản phẩm nông sản hàng hóa đạt năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, theo quy định của pháp luật.
Đồng bộ các giải pháp phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC là lựa chọn cần thiết tất yếu cho phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững và hiệu quả...
Ngành nông nghiệp Việt Nam (bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản) đang tạo ra khoảng 20% GDP, đóng góp tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 hơn 36 tỷ USD, trong đó xuất siêu khoảng 7 tỷ USD. Hiện hàng chục triệu hộ nông dân, khoảng 10.500 HTX nông nghiệp và hơn 33 nghìn doanh nghiệp đang trực tiếp tổ chức sản xuất nông nghiệp trên 70 triệu mảnh ruộng; Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ nhất, gạo, cà phê, sắn đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, thủy hải sản đứng thứ 5, chè đứng thứ 7 thế giới và rất nhiều mặt hàng khác nữa. Đặc biệt, nhờ ứng dụng CNC mà xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2017 đạt khoảng 1,5 tỷ USD và dự kiến cả năm khoảng 3 tỷ USD, tức lần đầu tiên đã vượt cả xuất khẩu gạo, cũng như dầu mỏ và kéo dài thêm danh mục xuất khẩu nông sản chủ lực có triển vọng của nước ta…
Việt Nam đã ban hành Luật CNC năm 2008 và thông qua Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC đến năm 2020 theo Quyết định 1985/QĐ-TTg ngày 17/12/2012. Hiện nay, cả nước có hơn 20 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và 29 khu nông nghiệp ứng dụng CNC đã đi vào hoạt động. Hàng trăm tập đoàn lớn và công ty liên kết với nông dân sản xuất hàng hóa trên diện tích hơn 400.000 ha. Hàng ngàn tỷ đồng đã được đầu tư cho ứng dụng CNC vào nông nghiệp từ các doanh nghiệp, địa phương, cũng như được thực hiện lồng ghép với các nhiệm vụ phát triển của ngành, địa phương, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, cấp nhà nước, đề án ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao hàng ngàn tỷ đồng đã được Thủ tướng đồng ý cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng, triển khai…
Đó là những cơ sở và bước đi ban đầu trên hành trình nông nghiệp Việt Nam từ tiểu nông thành nông nghiệp CNC.
Theo báo cáo “Tạo thuận lợi cho kinh doanh nông nghiệp 2016” của Ngân hàng Thế giới dựa trên điều tra 40 nước trên thế giới, môi trường kinh doanh nông nghiệp Việt Nam ở dưới mức trung bình chung của các nước. Trong khu vực Đông Nam Á, xếp hạng của Việt Nam trên Lào, Campuchia và Myanmar. Việt Nam có điểm số còn thấp về quản lý giống cây trồng, máy móc nông nghiệp và vận tải.
Thực tế đặt ra và đòi hỏi cần nhiều hơn nữa những đột phá trong cách nghĩ, cách làm và các chính sách cần thiết để nông nghiệp nước nhà “vượt vũ môn” thành công, bảo đảm chất lượng, thông thoáng đầu ra, giảm thiểu rủi ro và phát triển bền vững.
Trước hết, phát triển nông nghiệp CNC đòi hỏi nghiên cứu và triển khai sát hợp thực tế địa phương và yêu cầu công nghệ các mô hình sản xuất mới, với các chuỗi liên kết khép kín từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, doanh nghiệp. Chỉ thông qua chuỗi, các sản phẩm mới được hình thành và bảo vệ theo quy trình, kiểm soát tốt về chất lượng, đảm bảo yêu cầu xuất xứ và chứng chỉ sản phẩm sạch, từ đó, bảo đảm chất lượng và tìm được đầu ra ổn định. Việc sản xuất theo chuỗi giúp các hộ nông dân vượt qua những hạn chế và rủi ro về vốn, công nghệ, có đầu ra nông sản, giảm bớt tình trạng tự phát và trồng - chặt, “giải cứu” do được mùa rớt giá; đồng thời, giúp cho doanh nghiệp có nguồn cung ổn định “đầu vào”, phát triển hiệu quả công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ổn định, loại bỏ được tình trạng thương lái can thiệp phá vỡ hợp đồng kế hoạch sản xuất. Hơn nữa, bảo đảm được chất lượng và văn minh thương mại, khắc phục tình trạng bán hàng kiểu đổ đống, không bao bì, nhãn mác, thương hiệu không áp phích, poster giới thiệu… cũng là những động lực mới, mở ra cơ hội mới, kỳ vọng mới cho trái cây, các nông sản chủ lực và cho toàn ngành nông nghiệp Việt Nam.
Chất lượng nông sản không chỉ được cải thiện bởi chuỗi liên kết, mà còn phải được bảo đảm ngay từ khâu chọn giống, thức ăn, sử dụng các yếu tố khác trong quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết trong suốt các công đoạn chuỗi. Do vậy, cần có đột phá trong đầu tư nâng cao năng lực một số viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ ở các vùng, nhằm hỗ trợ ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là giống, công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản, chế biến, công nghệ thông tin, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, hướng vào các sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, có chất lượng, có giá trị cao về kinh tế, đối tượng chính là rau, hoa, quả, chăn nuôi, thủy sản,... phù hợp chủ trương tái cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC không thể thiếu vốn đầu tư đa dạng từ nhiều nguồn, từ phía nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp, từ nguồn tín dụng ngân hàng cả trung và dài hạn.
Đầu tư tư nhân vào nông nghiệp, nông thôn thời gian qua còn hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng, cũng như nhu cầu phát triển của ngành. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tính đến cuối năm 2016, chỉ khoảng gần 4.500 doanh nghiệp (hiếm 1,01% trong tổng số DN trên cả nước), trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Số dự án FDI vào nông nghiệp hiện chỉ chiếm 2,9% tổng dự án và chiếm khoảng 1% vốn…
Đặc thù của các dự án nông nghiệp ứng dụng CNC là quy mô lớn, cần nhiều vốn, thời gian thực hiện kéo dài, thời gian thu hồi vốn lâu, vòng quay vốn chậm, lợi nhuận không cao và có nhiều rủi ro. Trong khi đó, bản thân các doanh nghiệp cũng hạn chế về năng lực thế chấp hoặc chứng minh tính khả thi, thu nhập ổn định của dự án cần vay vốn. Hơn nữa, cơ cấu vốn huy động của các ngân hàng có tỷ trọng vốn trung và dài hạn thường thấp; đồng thời, các ngân hàng còn bị ràng buộc về tỷ lệ dùng vốn huy động ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và các nguyên tắc an toàn tín dụng khác, nên họ không có nhiều khả năng giành vốn cho vay trung và dài hạn. Nếu không có cơ chế hỗ trợ đặc biệt nhằm tháo gỡ những khó khăn về vốn thì rất ít doanh nghiệp có khả năng đầu tư được, cho dù họ muốn và mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này. Vì vậy, cần tăng cường cho vay theo chuỗi liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp ứng dụng CNC, với mắt xích chính là doanh nghiệp và cho vay trọn đời dự án, hạn chế cho vay hợp phần, cho vay theo giai đoạn đứt đoạn. Đồng thời, ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC nên có sự hỗ trợ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc và miễn giảm một số nghĩa vụ tài chính khác.
Sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong 5 lĩnh vực được ưu tiên cho vay tín dụng được Chính phủ và NHNN tập trung chỉ đạo.
Theo NHNN, dư nợ cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đến cuối tháng 5/2017, đạt 1.148.070 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2016 (cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế 7,06%), chiếm tỷ trọng khoảng 19% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Bình quân trong 7 năm (2010 - 2016), tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn là 19,35%/năm. Tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 7/3/2017 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2017, Chính phủ giao NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại, chủ lực là các ngân hàng thương mại nhà nước, dành ít nhất 100.000 tỷ đồng từ nguồn vốn huy động của các ngân hàng để thực hiện chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp sạch với lãi suất phù hợp (thấp hơn lãi suất thị trường). Theo ghi nhận ban đầu, tổng dư nợ cho vay lĩnh vực này đến nay đạt gần 32.339 tỷ đồng, với 4.125 khách hàng còn dư nợ (3.957 khách hàng cá nhân, 168 doanh nghiệp), trong đó cho vay nông nghiệp ứng dụng CNC là 27.737 tỷ đồng, chiếm gần 86% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nông nghiệp sạch đạt 4.602 tỷ đồng, không phát sinh nợ xấu. Trong đó, một số ngân hàng có kết quả cho vay nông nghiệp ứng dụng CNC nổi bật như tại Ngân hàng TMCP Bắc Á đầu tư vào một số dự án lớn thuộc lĩnh vực chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa, chế biến gỗ, trồng rau và hoa trong nhà kính, bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao, rau củ quả chất lượng cao và lúa chất lượng cao như dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung tại xã Nghĩa Đàn, Nghệ An; Ngân hàng TMCP Ngoại thương đầu tư vào các dự án sản xuất trứng sạch, lợn giống và chăn nuôi lợn, thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra gói tín dụng 50.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi với lãi suất giảm từ 0,5 - 1,5%/năm so với lãi suất cho vay thông thường đối với các chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch.
Theo Điều 14 và 15 Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn có hiệu lực từ ngày 01/8/2015, có nhiều điểm đột phá về chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết và sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC. Cụ thể, các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết. Các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu mối (sau đây gọi chung là tổ chức đầu mối) ký hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết. Khi gặp rủi ro bất khả kháng, khoản nợ vay được tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, đồng thời cho vay mới trên cơ sở xem xét tính khả thi của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng nhằm giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất, thực hiện trả được nợ cũ và nợ mới cho tổ chức tín dụng; được khoanh nợ không tính lãi tối đa 03 (ba) năm đối với tổ chức đầu mối thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị và khoản nợ khoanh được giữ nguyên nhóm nợ như đã phân loại trước khi thực hiện khoanh nợ. Số tiền lãi tổ chức tín dụng đã khoanh được ngân sách nhà nước cấp tương ứng; Ngoài ra, khách hàng khi tham gia mua bảo hiểm đối với đối tượng sản xuất nông nghiệp hình thành từ nguồn vốn vay, được tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng; Khách hàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận lãi suất cho vay, thời hạn cho vay và thời hạn duy trì hạn mức tín dụng căn cứ vào quy định của NHNN, chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.
Theo NHNN, đến nay, các NHTM đã đăng ký số tiền hơn 100.000 tỷ đồng để cho vay các dự án nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả với lãi suất ưu đãi ở mức phù hợp. Tuy nhiên, các tài sản là nhà kính, nhà lưới, nhà điều hành, xưởng sản xuất được coi là công trình xây dựng, nhưng pháp luật đất đai chưa quy định chứng nhận quyền sở hữu đối với các loại tài sản này. Do đó, để sử dụng khối tài sản này với tư cách là tài sản bảo đảm để tiếp cận vốn vay, cả người đi vay và bên cho vay đều gặp khó khăn.
Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản, tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận doanh nghiệp, dự án nông nghiệp ứng dụng CNC và hỗ trợ xây dựng hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC; tập trung chỉ đạo, phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng CNC cho các đối tượng vật nuôi, cây trồng chủ lực, có năng suất, chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nghiên cứu, nhập khẩu và chuyển giao các CNC trong nông nghiệp được ưu tiên đầu tư phát triển. Thực hiện các ưu đãi thuế, tín dụng; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và cán bộ; phát triển các trung tâm và các dịch vụ hỗ trợ chuyển giao và quản lý CNC trong nông nghiệp; khuyến khích đột phá về tích tụ ruộng đất thông qua “dồn điền đổi thửa” và góp, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nâng mức hạn điền…; xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng CNC.