Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Tạp chí Ngân hàng

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ quỹ đầu tư quốc gia (số 16)

15/11/2017 15:54:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ quỹ đầu tư quốc gia

TS. Đinh Bảo Ngọc1

 

Việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu tổng quát cũng như các nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược Tài chính đến năm 2020 sẽ góp phần quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng được xác định trong Chiến lược Tài chính là thu hút vốn đầu tư nước ngoài bởi Việt Nam hiện đang cần một lượng vốn đầu tư rất lớn để xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Thực tế cho thấy rằng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã gia tăng. Tuy nhiên, nguồn vốn này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Thu hút vốn đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp quan trọng vì các quỹ nước ngoài thường là những quỹ có tiềm lực mạnh về tài chính. Song, cho đến nay, vẫn chưa có nhiều nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư.

Trong những năm gần đây, các Quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Fund - SWF) trên thế giới được hình thành và phát triển nhanh chóng cả về số lượng, quy mô và mức độ chuyên sâu trong các hoạt động đầu tư tại ngay chính các quốc gia sở tại cũng như các quốc gia khác trên thế giới. Hiện nay, một số doanh nghiệp tại Việt Nam cũng đã nhận được nguồn vốn đầu tư từ Quỹ đầu tư quốc gia, tuy nhiên, nguồn vốn này vẫn còn rất hạn chế trong khi tiềm lực và khả năng đầu tư của các SWF trên thế giới là khá lớn.

 

1. Giới thiệu

Quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Fund - SWF) là những quỹ đầu tư thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, đầu tư vào tài sản tài chính và chính sách đầu tư của SWF hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho rằng, các SWF đem lại khá nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển và ổn định nền kinh tế.

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, Quỹ đầu tư quốc gia được phân thành 5 loại dựa vào mục tiêu hoạt động chính:

- Quỹ bình ổn (Stabilization funds): Mục đích chủ yếu của quỹ nhằm bình ốn thị trường, giảm thiểu ảnh hưởng từ sự biến động giá của hàng hóa (nhất là của giá dầu) đến nguồn lực tài chính và nền kinh tế quốc gia. Quỹ được hình thành từ các nguồn thặng dư tài sản quốc gia như nguồn thu từ bán tài nguyên thiên nhiên (thông thường là dầu mỏ, khí đốt). Nguồn lực tài chính của các quỹ này sẽ được tích lũy nhiều từ các năm có nguồn thặng dư tài chính lớn và được sử dụng để bình ổn nền kinh tế trong những năm xảy ra thâm hụt.

- Quỹ tiết kiệm (Savings funds): Quỹ tập trung vào việc tích lũy nguồn tài chính cho các thế hệ sau. Đối với các quốc gia giàu về tài nguyên thiên nhiên, các quỹ tiết kiệm chuyển đổi các nguồn tài sản từ tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được thành các tài sản trong các danh mục đầu tư da dạng trên thị trường quốc tế nhằm để tích lũy nguồn của cải vật chất cho các thế hệ tương lai cũng như phục vụ một số mục tiêu dài hạn khác.

- Các tập đoàn đầu tư dự trữ tài chính (Reserve investment corporations) là những quỹ được lập ra như một pháp nhân độc lập, phục vụ mục đích giảm thiểu các chi phí nắm giữ các tài sản sở hữu bởi chính phủ hoặc theo đuổi các chính sách đầu tư có khả năng sinh lợi cao.

- Quỹ phát triển (Development funds): Quỹ phân bổ nguồn lực tài chính ưu tiên cho các dự án kinh tế - xã hội vĩ mô như cơ sở hạ tầng hoặc ưu tiên chính sách phát triển lĩnh vực công nghiệp cụ thể nhằm khuyến khích tăng trưởng nền sản xuất của quốc gia.

- Quỹ dự trữ hưu trí (Pension reserve funds): Quỹ cho phép hỗ trợ quỹ hưu trí trong trường hợp phát sinh những khoản thiếu hụt không thường xuyên và nằm ngoài dự kiến liên quan đến khoản mục lương hưu nằm trong bảng cân đối tài chính quốc gia.

Quỹ đầu tư quốc gia có lịch sử ra đời từ nhiều thập kỷ. Các SWF đầu tiên ra đời là các SWF của các nước thuộc Tiểu Vương quốc Ả - rập thống nhất (SWF của Kuwait thành lập năm 1953, Abu Dhabi thành lập năm 1976…) do nhu cầu đầu tư nguồn thặng dư từ xuất khẩu nguyên liệu, nhất là từ dầu mỏ và khí đốt. Các SWF của Singapore như Temasek (1974) và GIC (1981) sử dụng nguồn thu từ thặng dư mậu dịch của quốc gia để thực hiện những chiến lược đầu tư.

Về giá trị tài sản quản lý, Quỹ đầu tư quốc gia chiếm vị trí còn khá khiêm tốn so với các định chế đầu tư trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, tài sản của các SWF không ngừng tăng lên. Trong thời kỳ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng 2008, nguồn thu khá lớn từ thặng dư mậu dịch ở các nước châu Á hoặc từ dầu mỏ của các nước Trung Đông đã giúp các chính phủ đạt những khoản dự trữ khổng lồ. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tính đến năm 2007 dự trữ vượt mức (excess reserves) của các nước đang phát triển và các nước xuất khẩu dầu mỏ đạt trên 3.000 tỷ USD. Với khoản dự trữ dư thừa này, các chính phủ bắt đầu tập trung hơn cho hoạt động đầu tư nên tổng tài sản của các SWF tăng vọt 100%, từ 1.500 tỷ USD năm 2005 lên 3.000 tỷ USD vào năm 2007. Đồng thời, các SWF cũng thay đổi chiến lược đầu tư từ trái phiếu sang cổ phiếu của những công ty then chốt ở nước ngoài.

Theo dữ liệu của Hiệp hội Quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Funds Institute), vào năm 2008, tài sản mà các SWF nắm giữ lớn hơn gấp đôi toàn bộ tài sản của các quỹ đầu tư phòng hộ (hedge funds) (ước tính 1700 tỷ USD). Tài sản mà các công ty bảo hiểm nắm giữ ước tính đạt 18000 tỷ USD và tài sản của ngân hàng là hơn 70000 tỷ USD. Sovereign Wealth Funds Institute ước tính tổng tài sản của SWF đạt 3980 tỷ USD vào tháng 3/2010, 4660 tỷ USD vào tháng 6/2011 và 7327 tỷ USD vào 6/2017.

Dưới đây là danh sách các Quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới hiện nay: (Bảng 1)

Bảng 1: Các SWF lớn trên thế giới

Quốc gia

Quỹ đầu tư quốc gia

Tổng tài sản (tỷ $)

Năm thành lập

Nguồn hình thành quỹ

Na Uy

Government Pension Fund - Golobal

922.11

1990

Dầu mỏ

Abu Dhabi

Abu Dhabi Investment Authority

828

1976

Dầu mỏ

Trung Quốc

China Investment Corporation

813.8

2007

Phi hàng hóa

Kuwait

Kuwait Investment Authority

524

1953

Dầu mỏ

Ả Rập Saudi

SAMA Foreign Holdings

514

N/A

Dầu mỏ

Hồng Kông – Trung Quốc

Hong Kong Monetary Authority Investment Portfolio

456.6

1993

Phi hàng hóa

Trung Quốc

SAFE Investment Company

441

1997

Phi hàng hóa

Singapore

Government of Singapore Investment Corporation

350

1981

Phi hàng hóa

Qatar

Qatar Investment Authority

320

2005

Dầu mỏ & Khí đốt

Trung Quốc

National Social Security Fund

295

2000

Phi hàng hóa

Nguồn: Sovereign Wealth Fund Institute (6/2017)

2. Vai trò của Quỹ đầu tư quốc gia

Tồn tại từ nhiều thập kỉ qua (như trường hợp của Quỹ đầu tư Kuwait Investment Authority được thành lập từ năm 1953); tuy nhiên, chỉ đến khoảng
15 - 20 năm trở lại đây, khi quy mô toàn cầu về tổng tài sản nắm giữ tăng mạnh, các quỹ đầu tư quốc gia mới nhận được nhiều sự quan tâm từ các quốc gia và những chuyên gia tài chính do những lợi ích tài chính to lớn đối với kinh tế vĩ mô. Thực tế, nhiều quỹ đầu tư quốc gia lớn, như Abu Dhabi Investment Authority (ADIA), Singapore’s Government Investment Corporation (GIC) và Temasek Holdings, đã thực hiện thành công nhiều khoản mục đầu tư trên toàn thế giới trong nhiều năm và thường theo sau những sự kiện kinh tế - chính trị quan trọng trên thế giới. Ví dụ, sau giai đoạn tăng giá đột biến của dầu mỏ thời kỳ 1970 - 1980, các quốc gia được lợi nhiều từ khủng hoảng dầu mỏ bắt đầu gây dựng nên những Quỹ đầu tư quốc gia thế hệ thứ nhất từ nguồn thu dầu mỏ. Tương tự, cuộc khủng hoàng tài chính châu Á những năm cuối thập niên 90 thế kỉ trước cũng là dấu mốc quan trọng trong việc thành lập các Quỹ đầu tư quốc gia. Sau khủng hoảng, nhiều nền kinh tế mới nổi trong khu vực trở nên thận trọng hơn khi tăng cường dự trữ nhiều tài sản có tính thanh khoản hơn so với trước đây và chuyển dần từ vị trí con nợ của các quốc gia phát triển trở thành những chủ nợ mới. Chính từ thời điểm đó, các Quỹ đầu tư quốc gia thực sự trở thành những công cụ mới hoạt động rất hiệu quả của các chính phủ. Hơn nữa, một số SWF đã góp phần vào việc bình ổn thị trường tài chính trong nước cũng như thị trường toàn cầu nói chung trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính 2008. (Bảng 2)

Các quỹ đầu tư quốc gia đã nhanh chóng giúp phục hồi những thiệt hại tài chính trong những năm sau khủng hoảng bằng việc đóng vai trò nhà đầu tư dài hạn để ổn định thị trường và lèo lái thị trường ra khỏi khủng hoảng (IMF, 2011 và Papaioannou, 2013).

 

Bảng 2: Đầu tư của các SWF vào các ngân hàng (3-2007 đến 4-2008)

SWF

Ngân hàng

% sở hữu

Giá trị đầu tư (triệu $)

GIC

UBS

9,8

9750

Citigroup

3,7

6880

Temasek Holdings

Merrill Lynch

9,4

4400

Barclays Bank

1,8

2005

CIC

Morgan Stanley

9,9

5000

ADIA

Citigroup

4,9

7500

KIA

Citigroup

1,6

3000

Merrill Lynch

3.0

2000

QIA

Credit Suisse

1,0

603

Barclays Bank

NA

NA

Nguồn: SWF Institute (4/2008)

Đối với các doanh nghiệp nhận vốn đầu tư, SWF đóng vai trò cũng rất quan trọng. Theo lý thuyết tín hiệu, những thông tin từ các khoản đầu tư lớn nếu được công bố sẽ ảnh hưởng đáng kể đến doanh nghiệp. Không những thế, những lý thuyết hiện có cũng khẳng định rằng tồn tại hai chiều hướng tác động khác nhau của các các cổ đông lớn đến giá trị doanh nghiệp và những tác động sẽ khác nhau tùy vào mức độ sở hữu. Shleifer và Vishny (1986) đề cập đến mối quan hệ giữa quy mô của nhà đầu tư (ở đây là các SWF) và quá trình điều hành doanh nghiệp mục tiêu. Nghiên cứu khẳng định trong khi các nhà đầu tư nhỏ lẻ thường thiếu quan tâm đến công tác giám sát, đôn đốc quá trình quản trị doanh nghiệp mà họ góp vốn, sự hiện diện của những cổ đông lớn như các quỹ đầu tư quốc gia làm tăng khả năng giám sát và đưa ra các giải pháp cho hoạt động doanh nghiệp, từ đó giúp gia tăng giá trị thông qua việc tạo điều kiện tìm kiếm lợi nhuận trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa, SWF còn là công cụ của các chính phủ trong việc theo đuổi các mục đích xã hội phi lợi nhuận. Ví dụ, các doanh nghiệp nhận nguồn tài trợ lớn từ SWF đôi khi phải cân nhắc các quyết định về tuyển dụng đối tượng lao động, sử dụng công nghệ sản xuất sao cho phù hợp với các mục tiêu xã hội của chính phủ; hoặc, kể cả khi không chủ động can thiệp vào các quyết định của doanh nghiệp, việc lựa chọn tài trợ và đầu tư cho các loại hình doanh nghiệp cụ thể (như các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế mũi nhọn) cũng là một cách để SWF phải tuân theo các mục tiêu phi tài chính và mang tính chất phục vụ xã hội. Kết quả là, những tín hiệu từ thông tin đầu tư của SWF có thể đem lại những hiệu ứng đối với doanh nghiệp và thị trường khác với những thông tin của những sự kiện đầu tư từ khối tư nhân. Hoạt động quản lý và giám sát của SWF đôi lúc không đem lại những lợi ích tài chính cho doanh nghiệp bằng các hoạt động giám sát của những nhà đầu tư tư nhân lớn khác.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho thấy rằng việc đầu tư của SWF vào các doanh nghiệp sẽ mang lại một tác động tích cực lên giá trị của doanh nghiệp này. Nghiên cứu của Chhaochharia và Laeven (2008), Deventer, Han và Malatesta (2009) chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ suất lợi tức của một doanh nghiệp và việc nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp này của SWF. Khi những SWF đầu tư vào những doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp này được cải thiện và giá trị của doanh nghiệp gia tăng. Fotak, Bortolotti và Megginson (2008) cũng đã tìm thấy tác động của sự đầu tư của SWF vào các doanh nghiệp là tích cực và có ý nghĩa thống kê. Những nghiên cứu này cũng đã đưa ra bằng chứng các SWF nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp càng nhiều, mức độ minh bạch của các quỹ này càng cao thì tác động tích cực từ việc đầu tư của SWF lên giá trị của doanh nghiệp càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng trong dài hạn, SWF lại làm sụt giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, có thể, do việc tạo ra những khoản chi phí đại diện lớn.

Nuno (2009) cung cấp những bằng chứng chỉ ra những công ty có tỷ lệ góp vốn của SWFs lớn thường có giá trị thị trường cao hơn và kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn. Rõ ràng, SWFs trong vai trò là những nhà đầu tư dài hạn, đã góp phần vào việc nâng cao giá trị cổ phiếu mà các cổ đông đang nắm giữ. Trong khi đó, nghiên cứu về mối liên hệ giữa các hành vi đầu tư của các SWF và tính ổn định của thị trường chứng khoán của In, Park & Lee (2013) cho thấy những sự kiện đầu tư từ SWFs làm bất ổn thị trường chứng khoán và làm giảm giá trị doanh nghiệp. Vấn đề này có thể được giải thích là do thực trạng bất cân xứng thông tin giữa những nhà đầu tư địa phương và quốc tế hoặc từ phản ứng của thị trường đối với các cam kết của SWF. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2009, các khoản đầu tư của các SWF này lại mang đến tác động ổn định thị trường tài chính.

 

3. Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư của các SWF tại Việt Nam

Khi đã nhận thức được tác động tích cực của dòng vốn đầu tư từ các quỹ đầu tư quốc gia đến giá trị doanh nghiệp, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chủ động hơn trong việc khai thác nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ các quỹ này. Tiềm lực tài chính lớn mạnh của các SWF sẽ là giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp. Hiện tại, ở Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp nhận vốn đầu tư của các SWF trên thế giới còn khá ít, cụ thể: (Bảng 3)

Bảng 3: Đầu tư của các SWF vào các doanh nghiệp Việt Nam

Thời điểm đầu tư

Quỹ đầu tư quốc gia

Doanh nghiệp mục tiêu

Quy mô đầu tư

Tỷ lệ cổ phần

2008

Temasek Holdings

KDC

N/A

N/A

2008

Temasek Holdings

HAG

N/A

N/A

2009

Temasek Holdings

DPM

N/A

N/A

2010

Temasek Holdings

MDB

45 triệu cổ phiếu

N/A

2013

Temasek Holdings

HVG

N/A

N/A

11/13/2007

Temasek Holdings

VNS

1,7 triệu cổ phiếu

N/A

4/18/2008

Temasek Holdings

BCI

N/A

N/A

8/31/2010

Temasek Holdings

HAG

57,6 triệu $ trái phiếu

N/A

2013

Temasek Holdings

FPT

12,3 triệu cổ phiếu

3.60%

2013

GIC

FPT

N/A

3%

3/14/2014

GIC

PAN

1,9 triệu cổ phiếu

4.71%

6/24/2014

Temasek Holdings

VNM

366 tỷ đồng

N/A

6/25/2014

Temasek Holdings

PAN

8 triệu cổ phiếu

N/A

N/A

Temasek Holdings

MPC

N/A

N/A

29/8/2016

GIC

Vietcombank

305,8 triệu cổ phiếu

7,73%

 

Có thể thấy, trong thời gian qua, các SWF trên thế giới đầu tư vào các doanh nghiệp ở Việt Nam còn chưa nhiều (chỉ khoảng 15 sự kiện đầu tư) và chỉ mới có 2 quỹ đầu tư quốc gia của Singapore (Temasek và GIC) thực hiện đầu tư. Hơn nữa, thông tin về các sự kiện đầu tư này (về thời điểm, quy mô đầu tư, tỷ lệ cổ phần nắm giữ…) chưa được công bố rộng rãi đến công chúng. Điều này chứng tỏ, các doanh nghiệp và môi trường đầu tư tại Việt Nam chưa thực sự thu hút tốt đầu tư của các SWF trên thế giới trong khi phân bố đầu tư của các SWF được thực hiện ở châu Á là cao nhất (36%) (theo Deutsche Bank Research).

Để có thể tăng cường thu hút được nguồn vốn đầu tư từ các SWF lớn trên thế giới, một số giải pháp và chiến lược hoạt động mà doanh nghiệp Việt Nam cần hướng đến:

- Chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động

Có thể thấy các SWF thường đầu tư vào những doanh nghiệp mang tính chiến lược và có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường. Do đó, để thu hút đầu tư từ SWF, doanh nghiệp trước hết phải chứng minh được hiệu quả hoạt động của mình thông qua các chỉ tiêu tài chính (ROA, ROE, Tobin’ Q, EPS…) cũng như những ưu thế và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

- Lập kế hoạch kinh doanh cụ thể và khả thi trong dài hạn

Các Quỹ đầu tư quốc gia thường theo đuổi chiến lược đầu tư dài hạn nên để có thể thu hút vốn đầu tư từ các quỹ này, doanh nghiệp cần xác định rõ tầm nhìn và chiến lược phát triển trong dài hạn của mình. Việc công bố cụ thể về mục tiêu và định hướng hoạt động của doanh nghiệp là điều cần thiết, giúp cho các quỹ đầu tư dễ dàng lựa chọn doanh nghiệp phù hợp và yên tâm hơn trong quyết định đầu tư của mình. Để có thể đưa ra chiến lược đầu tư trong dài hạn phù hợp, doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích tình hình thực tế của doanh nghiệp, khả năng phát triển của sản phẩm, phân tích thị trường, môi trường kinh doanh…

- Chú trọng xây dựng bộ máy quản lý chuyên nghiệp và hiệu quả

Nhiều Quỹ đầu tư quốc gia đánh giá đội ngũ quản trị của công ty như một tiêu chí để ra quyết định đầu tư. Tính chuyên nghiệp trong hoạt động và quản trị của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ và phong cách lãnh đạo của đội ngũ quản trị. Những người quản lý doanh nghiệp hiệu quả phải là người có chuyên môn giỏi, có tầm nhìn chiến lược, làm việc trên tinh thần hợp tác và có thể đưa doanh nghiệp phát triển theo đúng định hướng và mục tiêu. Muốn vậy, đội ngũ lãnh đạo phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần triển khai áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong quản trị và điều hành doanh nghiệp. Hiện nay, có thể nhận thấy một số khác biệt cơ bản giữa Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) và Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) như: Cách thức trình bày báo cáo tài chính; Công cụ tài chính; Suy giảm giá trị tài sản; Các vấn đề liên quan tới báo cáo tài chính hợp nhất; Doanh thu; Tài sản cố định, bất động sản, tài sản dài hạn nắm giữ để bán…

- Thực hiện tốt việc minh bạch thông tin của doanh nghiệp

Minh bạch thông tin liên quan đến doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư của doanh nghiệp. Các Quỹ đầu tư quốc gia luôn quan tâm đến sự minh bạch và trung thực trong các báo cáo tài chính, tính chính xác của thông tin công bố của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần tuân thủ các chế độ báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn chất lượng, tôn trọng chuẩn mực và đạo đức kinh doanh, cũng như thận trọng trong việc công bố các thông tin liên quan đến doanh nghiệp.

- Lựa chọn Quỹ đầu tư quốc gia minh bạch

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mức độ minh bạch thông tin của các Quỹ đầu tư quốc gia ảnh hưởng đến mức độ biến động giá của các cổ phiếu doanh nghiệp mà các SWF đầu tư. Do vậy, doanh nghiệp nên hướng đến việc lựa chọn các SWF có mức độ minh bạch thông tin cao. Hiện tại, 2 SWF của Singapore đầu tư vào Việt Nam được đánh giá là SWF có mức độ minh bạch thông tin khá cao (chỉ số Linaburg - Maduell của GIC và Temasek lần lượt là 6 và 10).

 

4. Một số khuyến nghị

Để có thể thu hút được dòng vốn của các quỹ đầu tư quốc gia trên thế giới vào thị trường Việt Nam, bên cạnh nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức, bộ, ngành liên quan cũng cần có những chính sách và biện pháp hỗ trợ. Tính hiệu quả và sự phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng đến phản ứng của thị trường đối với thông tin đầu tư của các SWF vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Hiện nay, mặc dù các bộ phận của thị trường tài chính Việt Nam cơ bản được hình thành, các sản phẩm, công cụ tài chính từng bước được đa dạng hóa và chất lượng dịch vụ tài chính không ngừng được nâng cao, công tác quản lý nhà nước đối với thị trường tài chính được thể chế hóa từng bước và ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cũng còn một số hạn chế như: cơ sở pháp lý, hệ thống chính sách liên quan đến hoạt động của thị trường tài chính chưa đồng bộ và hoàn chỉnh; hiệu quả thông tin của thị trường tài chính còn thấp, thông tin được công bố còn nhiều sai lệch, thiếu minh bạch, việc thực hiện theo các chuẩn mực quốc tế chưa đầy đủ và toàn diện; hệ thống quản trị các dòng vốn chưa thực sự hiệu quả, khả năng điều tiết, thu hút nguồn vốn trực tiếp, gián tiếp nước ngoài còn hạn chế…

Do đó, một số đề xuất cần được sớm thực hiện nhằm phát triển thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm:

- Hoàn thiện khung pháp lý đối với các quy định về đầu tư chứng khoán

Luật Chứng khoán, tuy đã được ban hành và áp dụng, nhưng vẫn còn có những điểm bất cập so với thực tiễn. Nhiều văn bản luật định liên quan đến thị trường chứng khoán vẫn chưa thể hiện được nhiệm vụ hỗ trợ nhà đầu tư và phát triển thị trường; nhiều quy định, điều luật được ban hành vẫn còn mang tính chất ứng phó tạm thời theo nhu cầu trước mắt, chứ chưa mang tính chiến lược dài hạn. Do vậy, việc hoàn thiện Luật Chứng khoán, điều tiết hoạt động của thị trường chứng khoán theo hướng toàn diện, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn thị trường là vô cùng quan trọng. Chỉ khi hệ thống khung pháp lý được hoàn thiện, thị trường tài chính mới có thể ổn định để phát triển bền vững và thu hút những nhà đầu tư quốc tế, trong đó có các Quỹ đầu tư quốc gia quy mô lớn và uy tín.

- Tăng cung hàng hóa cho thị trường tài chính

TTCK Việt Nam hiện mới chỉ có các chứng khoán cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ) và còn thiếu các công cụ tài chính phòng ngừa rủi ro. Chính phủ cần thúc đẩy hơn nữa việc cổ phần hóa các doanh nghiệp, phát triển thị trường công cụ phái sinh nhằm tăng cung hàng hóa cho thị trường tài chính.

- Quản lý và cung cấp các thông tin cho nhà đầu tư

Những biện pháp can thiệp kịp thời vào các vấn đề đang tồn tại trên thị trường chứng khoán cần được tiến hành như: điều tra, tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra những hình thức xử lý đối với các trường hợp sai phạm trong công bố thông tin, xây dựng các trung tâm cơ sở dữ liệu chuyên nghiệp cung cấp số liệu về tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động của các công ty, các ngành kinh tế… tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển vững chắc.

- Cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư

Nhà nước có thể thực hiện các ưu đãi và khuyến khích về mặt tài chính đối với các quỹ đầu tư quốc gia trên thế giới bằng cách thực hiện các ưu đãi về thuế (mức thuế thấp, kéo dài thời gian miễn giảm thuế…), các ưu đãi tín dụng, thủ tục hành chính… Những ưu đãi này không chỉ là cách thức tạo sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán mà còn là công cụ giúp nhà đầu tư quốc tế (các SWF) đầu tư theo định hướng phát triển của chính phủ.

- Quảng bá thông tin về đầu tư tại Việt Nam

Thực tế cho thấy công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được chú trọng. Chiến lược đầu tư của các SWF tập trung khá nhiều vào các nước châu Á. Vì vậy, cần đầu tư và mở rộng các phương thức truyền thông, học hỏi kinh nghiệm quảng bá hình ảnh của các nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực nhằm thu hút nhà đầu tư trên thế giới trong đó có các Quỹ đầu tư quốc gia.

 

Tài liệu tham khảo:

Barclay, M.J. & Holderness, C.G. (1989), ‘Private Benefits from Control of Public Corporations’, Journal of Financial Economics, 25 (2), 371-395.

Bergstrom, C. & Rydqvist, K. (1990), ‘Owevership of Equity in Dual-class Firms’, Journal of Banking and Finance, 14 (2-3), 255-269.

Chhaochharia, V. & Laeven, L. (2008), ‘Sovereign Wealth Funds: Their Investment Strategies and Performance’, Working paper, International Monetary Fund, 48p.

Dewenter, K. L, Han, X. & Malesta, P. H. (2009), ‘Firm Value and Sovereign Wealth Fund Investments’, Working Paper, University of Washington, 59p.

Fotak, V., Bortolotti, B. & Megginson, W. (2008), ‘The Financial Impact of Sovereign Wealth Funds Investments in Listed Companies’, Working Paper, University of Oklahoma, 47p.

In, F., Park, R. & Lee, B., (2013), ‘Do Sovereign Wealth Funds Stabilize Stock Markets?’, Working Paper, Monash University, 47p.

International Monetary Fund (2011), ‘Global Financial Stability Report, Chapter 2 “Long-term Investors and Their Asset Allocation: Where Are They Now?’, (Washington: International Monetary Fund, September).

Jensen, M. C. & Meckling, W., (1976), ‘Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure’, Journal of Financial Economics, 3 (4), 305-360.

Kotter, J. & Lel, U. (2008), ‘Friends or foes? The stock price impact of Sovereign Wealth Fund investments and the price of keeping secrets’, International Finance Discussion Papers, no 940, Washington: Board of Governors of the Federal Reserve System.

Nuno, F. (2009), ‘Sovereign Wealth Funds: Investment choices and implications around the world’, Working paper, European Corporate Governance Institute.

Papaioannou, M., Joonkyu P., Jukka P. & Han van der H. (2013), ‘Procyclical Behavior of Institutional Investors During the Recent Financial Crisis: Causes, Impacts, and Challenges’, IMF Working Paper 13/193 (Washington: International Monetary Fund).

Shleifer, A. & Vishny, R.W. (1986), ‘Large Shareholders and Corporate Control’, Journal of Political Economy, 16 (1-3), 461-488.

Sojli, E. & Tham, W. W. (2010), ‘The Impact of Foreign Government Investments on Corporate Performance: Evidence from the U.S’, Finance Meeting EUROFIDAI-AFFI, Paris.

 

1 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Tạp chí Ngân hàng
CÁC TIN KHÁC
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
23/04/2025
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
18/04/2025
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
10/04/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
31/03/2025
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
28/03/2025
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/03/2025
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
28/03/2025
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
18/03/2025
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
18/03/2025
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
18/03/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready