Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Tạp chí Ngân hàng

Ảnh hưởng của cạnh tranh lên sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng ở Việt Nam (số 16)

15/11/2017 15:56:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Ảnh hưởng của cạnh tranh lên sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng ở Việt Nam

Trần Thị Kim Oanh1

Vũ Minh Hà, Đinh Thị Thu Hà, Hoàng Thị Phương Anh2

 

Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng của 31 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam từ năm 2000-2016, nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của cạnh tranh ngân hàng lên sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng. Kết quả của chúng tôi thấy rằng ngân hàng với mức độ cạnh tranh (đại diện bởi chỉ số Lerner) cao hơn, thì có cung tín dụng nhạy cảm hơn với những cú sốc của chính sách tiền tệ. Do đó, kết quả ước lượng của chúng tôi cung cấp một bằng chứng cho thấy một sự gia tăng trong mức độ cạnh tranh của ngân hàng sẽ làm cho sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay hiệu quả hơn.

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, ngành Ngân hàng Việt Nam đã trải qua những thay đổi quan trọng trong điều kiện cạnh tranh. Các yếu tố đó đã góp phần thay đổi quan trọng trong cấu trúc thị trường, bao gồm hội nhập quốc tế về tài chính, cổ phần hóa và một làn sóng sáp nhập và mua lại, cùng với việc gia tăng sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài và cải cách tài chính để hỗ trợ cho các ngân hàng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009.

Vào năm 2005, Việt Nam có 39 NHTM, sau khi một số NHTM mới gia nhập ngành trong giai đoạn 2007-2008, số lượng NHTM tăng lên 43 vào năm 2008. Sau hoạt động M&A, số lượng NHTM Việt Nam giảm đần, đến cuối 2016 chỉ còn 35 ngân hàng.

Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài đã mang lại nhiều tác động tích cực trong tiến trình phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam như gia tăng tính cạnh tranh lẫn nhau, thúc đẩy các ngân hàng trong nước cải tiến công nghệ, quy trình, sản phẩm… cho phù hợp với điều kiện mới. Số lượng ngân hàng nước ngoài đang có xu hướng tăng lên, tuy nhiên, chưa vượt quá 25% tổng số ngân hàng toàn ngành và tỷ trọng tài sản của ngân hàng nước ngoài so với toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa vượt quá 5%, cho thấy chỉ nắm giữ tài sản với tỷ lệ rất nhỏ. Như vậy, các NHTM trong nước đang đóng vai trò nòng cốt trong cuộc cạnh tranh thị phần, hay cạnh tranh tại các NHTM Việt Nam chủ yếu là cạnh tranh giữa các NHTM trong nước.

Trong bối cảnh hiện tại, một trong những vấn đề chính cần quan tâm là khả năng của các trung gian tài chính để tài trợ cho tăng trưởng và cung cấp những cơ hội mới cho sự phát triển ổn định và bền vững. Cấu trúc thị trường và đặc biệt là cạnh tranh của các ngân hàng có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu này. Thật vậy, sự cạnh tranh có thể trực tiếp làm thay đổi sự phát triển của các nguồn cung cấp tín dụng, nhưng cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến nó thông qua những tác động truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay của ngân hàng. Do đó, mức độ cạnh tranh ngân hàng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tiền tệ bằng cách tiếp tay hoặc cản trở việc truyền dẫn các quyết định của chính sách tiền tệ.

Nhiều nghiên cứu đã cố gắng xác định những tác động của chính sách tiền tệ đến việc cung cấp tín dụng của các ngân hàng. Một chính sách tiền tệ thắt chặt có thể buộc một số ngân hàng cắt giảm cung tiền cho vay của họ. Tuy nhiên, việc cắt giảm này sẽ khác nhau giữa các ngân hàng. Một ngân hàng khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn khác sẽ cắt giảm cung tín dụng nhiều hơn các ngân hàng dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn khác. Họ nhận thấy rằng các ngân hàng có quy mô nhỏ phản ứng mạnh hơn với các cú sốc của chính sách tiền tệ. Ngoài quy mô (Xem Kashyap và Stein, 2000; Altunbas và ctg, 2002;.. Altunbas và ctg, 2009), một số nghiên cứu còn cho thấy vốn (Kishan và Opiela, 2000; Van den Heuvel, 2002; Gambacorta, 2005; Altunbas và ctg, 2009) và khả năng thanh khoản cũng có thể ảnh hưởng đến phản ứng cho vay của ngân hàng khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ (Kashyap và Stein, 2000;. Ehrmann và ctg, 2003;. Altunbas và ctg, 2009). Ngoài những yếu tố trên, tác động của chính sách tiền tệ đến cung cho vay của ngân hàng còn tùy thuộc vào cấu trúc thị trường và sự cạnh tranh của ngân hàng. Nhiều quan điểm cho rằng, khi không có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng, tức một ngân hàng có sức mạnh thị trường cao hơn thì có thể dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn như chứng chỉ tiền gửi và các khoản vay liên ngân hàng. Do đó, một ngân hàng càng có sức mạnh thị trường càng lớn thì sẽ giúp giảm bớt các cú sốc bằng cách giảm tạm thời lợi nhuận của mình. Từ quan điểm trên, một số nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng sự cạnh tranh của ngân hàng đến việc truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng (Xem Adams và Amel, 2005; Gunji và ctg, 2009; Olivero và ctg, 2011;Fungáčová và Weill, 2014; Leory, 2014; Leroy và Lucotte, 2015). Tuy việc nghiên cứu ảnh hưởng của cạnh trạnh giữa các ngân hàng đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ mang nhiều ý nghĩa thực tiễn to lớn, nhưng hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này đều được tiến hành trên các thị trường như Mỹ, khu vực Châu Âu, khu vực Châu Á và Mỹ La Tinh. Gần đây, có Nguyễn Thị Thùy Linh và ctv (2015) nghiên cứu cho khu vực Đông Nam Á. Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở Việt Nam đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức nào về vấn đề này. Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay hoặc các đặc điểm của ngân hàng là chính (Xem Chu Khánh Lân, 2012; Nguyễn Phúc Cảnh, 2014). Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ phân tích ảnh hưởng của cạnh tranh giữa các ngân hàng đến việc cung cấp tín dụng và phản ứng với những cú sốc của chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000-2016. Bằng việc sử dụng dữ liệu của từng ngân hàng riêng lẻ, nghiên cứu của chúng tôi sẽ cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này cho một thị trường mới nổi, hệ thống ngân hàng còn chịu sự giám sát quản lý chặt chẽ của nhà nước như Việt Nam.

 

2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy rằng sự cạnh tranh của ngân hàng có thể ảnh hưởng đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay của ngân hàng theo ba hướng như sau: (1) nếu sức cạnh tranh của các ngân hàng được nâng cao do sự mở rộng quy mô thị trường của các ngân hàng lớn, sự gia tăng này sẽ làm suy yếu mức độ truyền dẫn thông qua kênh cho vay của chính sách tiền tệ. Các ngân hàng lớn thường có nhiều cách tiếp cận các nguồn tín dụng phi truyền thống khác, điều này giúp họ có thể đối phó với mức độ suy giảm các khoản dự phòng do chính sách tiền tệ thắt chặt gây ra. Theo đó, khi quy mô thị trường của các ngân hàng lớn được mở rộng, sự tác động của suy giảm trong cung tiền đến hoạt động cho vay và các hoạt động kinh tế sẽ thấp hơn (Xem Aftalion và White (1978); VanHoose (1983, 1985)); (2) sức cạnh tranh được nâng cao có thể làm suy yếu sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ lên kênh cho vay của ngân hàng nếu sự nâng cao trong khả năng cạnh tranh này được kết hợp với sự suy giảm trong vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các ngân hàng về mức độ tín nhiệm của những người đi vay. Sự bất cân xứng về mặt thông tin này kết hợp với sự độc quyền thông tin về khách hàng của các ngân hàng sẽ khiến cho chi phí đi vay của khách hàng tăng cao khi chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, chi phí này sẽ khiến cho người đi vay bị “mắc kẹt”. Chính vì thế, khi chính sách tiền tệ thắt chặt, các ngân hàng nhỏ dễ bị tác động động bởi sự thắt chặt này sẽ thu hẹp các khoản cho vay của mình. Nếu người đi vay không thể chuyển đổi qua các ngân hàng khác, mức tăng cầu tiền do các ngân hàng nhỏ không thể đáp ứng này cũng không thể được đáp ứng bởi các ngân hàng lớn. Như vậy, phản ứng của tổng cung tín dụng đến các điều kiện của chính sách tiền tệ nên được gia tăng với mức độ các chi phí chuyển đổi giữa các ngân hàng này. Khi sự gia tăng trong mức độ cạnh tranh của ngân hàng được nâng lên, ảnh hưởng của cú shock do chính sách tiền tệ gây ra cũng được giảm thiểu (Xem Adams và Amel (2005); (3) sự cạnh tranh của các ngân hàng có thể tác động đến hiệu quả của chính sách tiền tệ thông qua sự ảnh hưởng lên mức độ nhạy cảm của lãi suất cho vay của ngân hàng lên cú shock của chính sách tiền tệ. Do đó, khi mức độ cạnh tranh tăng lên sẽ làm cho sự tác động của chính sách tiền tệ tăng lên, hàm ý rằng sự thay đổi trong lãi suất cho vay của các khoản ký gửi gây ra bởi cú sốc đến các khoản dự phòng sẽ truyền dẫn trực tiếp đến lãi suất cho vay của ngân hàng (Xem Olivero và ctg, 2009).

Olivero và ctg(2011) kiểm chứng sự thay đổi trong mức độ cạnh tranh của các ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay của ngân hàng tại 20 nước Mỹ Latin và Châu Á trong giai đoạn 1996-2006. Các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng sẽ làm giảm hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng. Kết quả này đặc biệt phù hợp với các ngân hàng có quy mô nhỏ, mức thanh khoản thấp và có giá trị vốn hoá nhỏ. Tại các nước Mỹ Latin, sự gia tăng trong mức độ cạnh tranh của ngân hàng làm giảm hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong khu vực. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh của ngân hàng không cho thấy sự tác động ngược chiều đối với hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay. Các tác giả đề xuất một sự giám sát hơn nữa đối với sự phát triển của mức độ cạnh tranh của ngân hàng và cấu trúc trong hệ thống ngân hàng tại các thị trường mới nổi, đặc biệt khi quá trình hội nhập và quốc tế hoá của hệ thống ngân hàng, cũng như sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài, và quá trình cải tổ hệ thống ngày càng được nâng cao.

Leroy và Lucotte (2015) kiểm chứng mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh của ngân hàng và kênh lãi suất của các quốc gia trong khu vực Châu Âu giai đoạn 2003-2010. Các tác giả đo lường mức độ cạnh tranh thông qua chỉ số Lerner và nhận thấy mức độ cạnh tranh của ngân hàng sẽ: (1) làm giảm lãi suất cho vay; (2) tăng cường mức độ truyền dẫn của lãi suất dài hạn; (3) đẩy nhanh tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng dài hạn trong thời gian ngắn. Do đó, tăng cường mức độ cạnh tranh của ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến kênh lãi suất. Các tác giả cho rằng, các ngân hàng hoạt động trong một thị trường cạnh tranh, vì sợ mất thị phần của mình sẽ cung cấp các khoản tín dụng với mức lãi suất thấp hơn và điều chỉnh lãi suất huy động nhanh hơn để phản ứng với sự thay đổi trong lãi suất của chính sách tiền tệ so với các ngân hàng hoạt động trong thị trường tập trung. Mức độ cạnh tranh và tập quyền trong lĩnh vực ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến lãi suất ký gửi.

Guntner (2011) kiểm chứng tác động của hệ thống ngân hàng lên sự truyền dẫn cú shock của chính sách tiền tệ và nhận thấy: sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM cho thấy lãi suất cho vay sẽ có tương quan chặt chẽ đối với lãi suất của chính sách. Kết quả từ mô hình của tác giả cho thấy mức độ cạnh tranh độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng có sự ảnh hưởng lớn đến mức độ truyền dẫn của sự thay đổi trong lãi suất chính sách. Đặc biệt, mức độ cạnh tranh càng cao sẽ càng khuếch đại mức độ hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến lãi suất cho vay của ngân hàng là không hoàn toàn, ít nhất là trong ngắn hạn. Cả lãi suất cho vay và lãi suất ký gửi đều điều chỉnh một cách chậm chạp theo lãi suất thị trường (Cottarelli và Kourelis, 1994, Berlin và Mester, 1999, de Bondt, 2005).

Mặc cho ý kiến đồng thuận rằng mức độ gắn kết giữa các quốc gia và các sản phẩm của ngân hàng khác nhau, các lý giải về mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh của ngân hàng và truyền dẫn của chính sách tiền tệ vẫn gây nhiều tranh cãi. Nghiên cứu đầu tiên đóng góp về mặt lý thuyết của Klein (1971), sau đó hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm đã ra đời để tìm hiểu mối quan hệ này. Hannan và Berger (1991) nhận thấy lãi suất ký gửi điều chỉnh chậm chạp hơn tại các thị trường tập trung, đặc biệt khi lãi suất thị trường đang tăng cao.

Van Leuvensteijn và ctg (2013) phân tích ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh của thị trường lên lãi suất ngân hàng trong khu vực Châu Âu giai đoạn 1994-2004. Các tác giả cho thấy mức độ cạnh tranh càng cao cho thấy sự khác biệt giữa các ngân hàng và lãi suất thị trường của các khoản vay càng thấp. Hơn nữa, mức độ phản ứng của lãi suất cho vay đối với sự thay đổi lãi suất thị trường có quan hệ cùng chiều với mức độ cạnh tranh. Kết quả này trùng hợp với kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước với các phương pháp đo lường mức độ cạnh tranh khác nhau như Cottarelli và Kourelis (1994), Claudio và Wilhelm (1995), và de Bondt (2005). Mức độ cạnh tranh gay gắt từ những ngân hàng khác hoặc từ thị trường vốn có thể đẩy nhanh quá trình điều chỉnh của lãi suất tiền gửi lên sự thay đổi của thị trường tiền tệ.

 

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên dữ liệu bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập hàng năm của 31 ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000-2016. Nguồn dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu của bankscope. Các ngân hàng trong mẫu của chúng tôi bao gồm các NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng có vốn của nhà nước.

Chính sách tiền tệ là như nhau giữa các ngân hàng. Theo Bernanke và Blinder (1988), chúng tôi đo lường chính sách tiền tệ thông qua những thay đổi trong tỷ lệ lãi suất ngắn hạn, do đó, một hoạt động thắt chặt (nới lỏng) tiền tệ sẽ được phản ánh trong một gia tăng (giảm sút) trong lãi suất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng lãi suất liên ngân hàng qua đêm hoặc lãi suất tái cấp vốn làm biến đại diện cho chính sách tiền tệ theo nhiều nghiên cứu trước đây (xem Ehrmann và ctg , 2003; Gambacorta, 2005; Olivero và ctg2011; Fungáčová và Weill, 2014). Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng thêm biến GDP. Những dữ liệu này được lấy từ cơ sở dữ liệu của Thomson Reuters.

3.2. Đo lường cạnh tranh ngân hàng

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều đo lường cạnh tranh ngân hàng thông qua hai phương pháp: phương pháp truyền thống và phương pháp IO (industrial organization methods).

Phương pháp truyền thống dựa trên mô hình SCP (structure conduct performance), được sử dụng rộng rãi cho đến đầu những năm 1990. Giả thuyết SCP là các ngân hàng trong thị trường ngân hàng tập trung cao sẽ ít cạnh tranh hơn, dẫn đến lợi nhuận ngân hàng cao hơn. Như vậy, cạnh tranh ngân hàng có thể được đại diện bởi việc đo lường cấu trúc tập trung của thị trường như chỉ số Herfindahl (HHI) hay thị phần của n ngân hàng lớn trong hệ thống ngân hàng (chỉ số CR). Tuy nhiên, Bikker và ctg, (2012) cho rằng sự tập trung của thị trường là một thước đo cạnh tranh kém hiệu quả.

Nhằm mục đích đo lường cạnh tranh ngân hàng một cách trực tiếp hơn là sử dụng các đại diện như cấu trúc thị trường và thị phần. Được sử dụng rộng rãi nhất là các thước đo phi cấu trúc bao gồm chỉ số Lerner, đo lường Rosse-Panzar (Chỉ số H) và gần đây nhất là chỉ số Boone.

Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng chỉ số Lerner để do lường cạnh tranh của ngân hàng tương tự như nhiều nghiên cứu trước đây (xem Claessens và Laeven, 2004; Lapteacru, 2014 giải thích tại sao một số các nghiên cứu gần đây lại sử dụng chỉ số Lerner; Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy, 2015 trong nghiên cứu về Việt Nam cũng đã cho rằng chỉ số Lerner là công cụ đánh giá mức độ cạnh tranh ngân hàng ở Việt Nam hiệu quả hơn so với các chỉ số khác).

Chỉ số Lerner được ước tính như sau:

 

Khi cạnh tranh hoàn hảo tồn tại thì giá bán bằng chi phí biên, do vậy, chỉ số này sẽ có giá trị bằng 0. Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì chỉ số Lerner sẽ lớn hơn 0, vì vậy, chỉ số Lerner sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Chỉ số này càng gần 1 thì mức độ độc quyền của doanh nghiệp càng cao. Trong đó: P: giá trung bình đầu ra của ngân hàng (tổng doanh thu/tổng tài sản).

MC là chi phí biên. Do MC không thể tính toán một cách trực tiếp được, nên đầu tiên, chúng tôi sẽ ước tính hàm chi phí Translog với một biến đầu ra (tổng chi phí) và ba mức giá đầu vào (giá lao động, giá vốn vật chất và giá của việc vay mượn). Hàm chi phí như sau:

(1)

 

Trong đó: TC đại diện cho tổng chi phí được tính bằng tổng của chi phí nhân sự, chi phí ngoài lãi, chi phí lãi phải trả. w1 là giá lao động (là tỷ số giữa chi phí nhân sự trên tổng tài sản), w2 là giá vốn vật chất (là tỷ số giữa chi phí ngoài lãi trên tài sản cố định), w3 là giá của vay mượn (là tỷ số giữa chi phí lãi phải trả trên tổng tiền gửi).

Chúng tôi sẽ ước tính hàm chi phí trong mô hình (1) bằng cách sử dụng dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định (Fixed effects), trong đó chúng tôi cũng chạy bao gồm các biến giả thời gian, biến giả doanh nghiệp để kiểm soát tính không đồng nhất của mẫu.

Ước lượng các hệ số của hàm chi phí trong mô hình (1), sau đó sử dụng các hệ số này để tính chi phí biên MC như sau (Xem Claessens và Laeven, 2004; Fungáčová và Weill, 2014;Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy, 2015; Nguyễn Thị Thùy Linh và ctv; 2015; Leory, 2014; Leroy và Lucotte, 2015)

      (2)

3.3. Mô hình nghiên cứu

Để xem xét ảnh hưởng của cạnh tranh đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng, mô hình thực nghiệm của chúng tôi được ước lượng dựa theo nghiên cứu Ehrmann và cộng sự (2003),mô hình hồi quy cơ bản như sau:

(3)

Với i là các ngân hàng ; t là thời gian (năm); j là độ trễ; Lit đại diện cho tổng số tiền cho vay của ngân hàng i đến các ngành phi ngân hàng trong thời gian t được tính bằng cách lấy logarit của số tiền cho vay thuần); MP là chính sách tiền tệ được đo lường trên 2 chỉ tiêu lãi suất liên ngân hàng và lãi suất tái cấp vốn và %GDP là tốc độ tăng trưởng GDP thực. Các đặc điểm của ngân hàng được đại diện bởi biến Xi. Hơn nữa, mô hình còn bao gồm những yếu tố cố định của ngân hàng .

Trong mô hình thực nghiệm, mối quan hệ giữa các đặc điểm của ngân hàng và chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng sẽ được phản ánh trong các hệ số hồi quy. Ba thước đo đặc điểm của ngân hàng thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây là quy mô, vốn và khả năng thanh khoản (xem Ehrmann và ctg, 2003; Gambacorta, 2005; Olivero và ctg, 2011; Fungáčovávà Weill, 2014;Nguyễn Thị Thùy Linh và ctg, 2015). Quy mô ngân hàng (Size) được đo lường bằng log của tổng tài sản. Khả năng thanh khoản (Liquid) được tính bằng cách lấy tài sản có khả năng thanh khoản chia cho tổng tài sản. Vốn được tính bằng cách lấy vốn sở hữu của ngân hàng chia cho tổng tài sản (xem Ehrmann và ctg, 2003; Nguyễn Thị Thùy Linh và ctg, 2015). Quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn hóa và tính thanh khoản là những yếu tố mà có thể ảnh hưởng đến sự tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài của ngân hàng. Mức độ cao trong khả năng thanh khoản cũng giúp cho các doanh nghiệp có thể dựa vào nguồn vốn của mình thay vì phải dựa vào các nguồn vốn bên ngoài thị trường nhất là khi có sự hiện diện của chính sách thắt chặt tiền tệ.

Mô hình bảng động trong phương trình (3) nếu dùng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) để hồi quy, trong điều kiện thừa nhận hay không thừa nhận mối tương quan giữa biến độc lập với yếu tố sai số thì kết quả ước lượng vẫn bị chệch và không vững vì trong mô hình (3), có chứa biến trễ của biến phụ thuộc, điều này sẽ dẫn đến hiện tượng nội sinh trong mô hình (Baltagi, 2008). Để khắc phục hiện tượng nội sinh tồn tại trong mô hình này, Arellano và Bond (1991) đề nghị sử dụng mô hình D-GMM (Difference Generalized Method of Moments), tức chuyển mô hình hồi quy sang mô hình sai phân bậc nhất và sử dụng độ trễ của biến cung tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng làm biến công cụ. Tuy nhiên, theo Fungáčová và Weill (2014), vì sử dụng dữ liệu theo năm thay vì quý, nên họ cho rằng hoàn toàn có thể thuyết phục người khác rằng cho vay trong quý trước đó có thể ảnh hưởng đến cho vay hiện tại, nhưng điều này sẽ là khó khăn hơn để có thể tạo ra một cơ sở về mặt kinh tế để giải thích cho lý do tại sao cho vay vào cuối năm trước có thể ảnh hưởng đến cho vay hiện tại. Do đó, họ cho rằng giá trị trễ của tăng trưởng tín dụng thì không quan trọng và chúng ta thiếu một lý do kinh tế có sức thuyết phục để thêm biến độ trễ này vào mô hình như là một biến hồi quy độc lập, vì vậy, họ nghi ngờ lợi ích của việc sử dụng phương pháp D-GMM hay S-GMM (system GMM). Do đó, dựa theo nghiên cứu của Fungáčovávà Weill(2014), chúng tôi sẽ ước tính phương trình (3) mà không có biến phụ thuộc như sau:

(4)

 

Trong đó: Các biến đặc trưng của ngân hàng Xit (vốn, quy mô, khả năng thanh khoản và sức mạnh thị trường) được lấy trễ một kỳ để hạn chế hiện tượng nội sinh (theo Fungáčová và Weill(2014)). Phương trình (4) sẽ được ước lượng bằng hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng
cố định chuẩn.

 

4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Xem xét ảnh hưởng của cạnh tranh đến sự truyền dẫn chính sách tiền tệ

Bảng 1 trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm của chúng tôi về ảnh hưởng của cạnh trạnh đến việc truyền dẫn chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, để chứng minh tác động cụ thể của cạnh tranh và ảnh hưởng của nó đến với các biến khác, đầu tiên chúng tôi xem xét các tác động của kênh tín dụng ngân hàng thông qua việc xem xét tương tác giữa ba biến ngân hàng cụ thể thường được sử dụng (quy mô, tính thanh khoản, vốn) với biến chính sách tiền tệ như Ehrmann và ctg. (2003) trong cột đầu tiên. Trong cột thứ hai, chúng tôi thêm các chỉ số Lerner và biến tương tác với chính sách tiền tệ. Trong cột thứ ba, chúng tôi xem xét tác động chung của kênh cho vay ngân hàng và cạnh tranh. (Bảng 1)

Bảng 1: Tác động của cạnh tranh đến việc truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng của ngân hàng

 Biến

Kênh cho vay ngân hàng

Bao gồm chỉ số lerner

Kênh cho vay ngân hàng và chỉ số Lerner

 

(1)

(2)

(3)

Cap

0.285*

(0.067)

0.411*

(0.062)

0.432*

(0.053)

Liquid

1.294***

(0.0000)

1.202***

(0.0000)

1.219***

(0.0000)

Size

0.982***

(0.000)

0.979***

(0.000)

0.980***

(0.000)

ΔMP 

-0.0255***

0.000

-0.0230***

0.000

-0.0251***

0.000

ΔGDP 

0.00000279***

(0.006)

0.00000256***

(0.007)

0.00000268** *

(0.006)

ΔMPxcap

0.0216

(0.519)

 

 

0.0323

(0.277)

ΔMPxliquid

0.0141

(0.494)

 

 

0.00875

(0.672)

ΔMPxsize

0.000764

(0.11)

 

 

0.0000682

(0.88)

LERNER

 

 

0.0138***

(0.001)

0.0128***

(0.000)

ΔMPxlerner

 

 

0.0122***

(0.001)

0.0105***

(0.000)

cons

0.389**

(0.024)

0.337*

(0.057)

0.357* *

(0.043)

R-square

0.679

0.606

0.714

Observations

372

372

372

Trong ngoặc là giá trị p-value và *, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%. .Nguồn: tác giả tự tính toán

 

Kết quả nghiên cứu trong cả ba cột tìm thấy bằng chứng cho thấy tác động không tích cực của sự thay đổi chính sách tiền tệ đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng ở Việt Nam. Như vậy, một chính sách tiền tệ mở rộng (thu hẹp), đặc trưng bởi một sự sụt giảm (gia tăng) các mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, có một tác động tích cực (tiêu cực) đến việc cung cấp tín dụng. Kết quả nghiên cứu này thì phù hợp với nghiên cứu của Bernanke và Blinder (1992), Kashyap và Stein (2000), Ehrmann và ctg. (2003), Ashcraft (2006), Altunbas và ctg. (2009), Gambacorta và Marques-Ibanez (2011), Leroy (2014) và Fungáčová và Weill (2014).

Thứ hai, khi xem xét tương tác giữa chính sách tiền tệ với các đặc điểm của ngân hàng như vốn, tính thanh khoản và quy mô, kết quả nghiên cứu thực nghiệm thì không có ý nghĩa về mặt thống kê, điều này có nghĩa là các đặc điểm cụ thể của ngân hàng không ảnh hưởng đến cách thức mà các khoản cho vay của ngân hàng phản ứng với những thay đổi trong chính sách tiền tệ. Kết quả này trùng hợp với nghiên cứu của Fungáčová và Weill (2014) cho các quốc gia trong khu vực Euro, Gambacorta và Marques-Ibanez (2011) cho các ngân hàng ở 15 quốc gia (các nước khu vực đồng Euro, Đan Mạch, Thụy Điển, Anh, Mỹ).

Trong nghiên cứu này, cạnh tranh cũng có thể ảnh hưởng đến cơ chế truyền dẫn. Kết quả trong các cột (2) - (3) của Bảng 1 cho thấy các hệ số của biến tương tác giữa chỉ số Lerner và cú sốc chính sách tiền tệ là tích cực và có ý nghĩa thống kê. Kết quả này đúng cả trong trường hợp bao gồm và không bao gồm các biến tương tác giữa các đặc tính của ngân hàng với chính sách tiền tệ, do đó, chúng tôi có được bằng chứng cho sự tồn tại của một kênh cho vay ngân hàng ở Việt Nam thông qua cạnh tranh ngân hàng. Fungáčová và Weill (2014), Brissimis và cgt. (2014), Leroy (2014), Leroy và Lucotte (2015) cũng tìm thấy bằng chứng về sự có mặt này của các ngân hàng trong khu vực Euro. Điều này chỉ ra rằng các ngân hàng có sức mạnh thị trường cao hơn thì ít nhạy cảm với những thay đổi trong chính sách tiền tệ, do nó có thể dễ dàng tiếp cận các nguồn tài trợ khác. Ngược lại, các ngân hàng có sức mạnh thị trường thấp dễ bị tổn thương do những biến động của chính sách tiền tệ và kinh tế vĩ mô. Kết quả cho thấy rằng việc gia tăng sức mạnh thị trường phần nào cản trở cho việc truyền dẫn chính sách tiền tệ. Nói cách khác, sự gia tăng mức độ cạnh tranh của ngân hàng tạo điều kiện tốt cho việc truyền dẫn chính sách tiền tệ. Như vậy, mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có nghĩa là những thay đổi trong chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến khả năng tài chính, vì vậy, những thay đổi này sẽ được truyền trực tiếp hơn đến việc cung cấp tín dụng.

Ngoài tác động của chính sách tiền tệ, các biến ngân hàng cụ thể có thể trực tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng. Đầu tiên, chúng tôi thấy rằng quy mô, vốn hóa và khả năng thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng ở Việt Nam. Chúng tôi thấy rằng các ngân hàng có vốn hóa lớn, thanh khoản cao và quy mô lớn sẽ đạt được mức tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn. Một mức độ cao về vốn hoặc thanh khoản cho phép các ngân hàng dễ dàng đáp ứng cơ hội cho vay mà không gặp khó khăn theo luật định. Có nhiều yếu tố tạo ra sự tin cậy và uy tín của ngân hàng, cho phép họ có thêm các nguồn tài chính mới một cách nhanh chóng và dễ dàng. Thông thường, chỉ có vốn hóa và khả năng thanh khoản sẽ tạo ra mức độ tin cậy của ngân hàng. Tuy nhiên, do việc bất cân xứng thông tin và tình trạng thông tin bị bóp méo, điều này làm cho quy mô trở thành một yếu tố quan trọng tạo ra sự tin cậy của ngân hàng.

Về biến quan tâm của chúng tôi, thì kết quả nghiên cứu như chúng tôi mong đợi, cạnh tranh của các ngân hàng, ước tính bằng chỉ số Lerner, có tương quan dương với tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Điều này cho thấy rằng khi chỉ số Lerner càng cao, nghĩa là, sức mạnh thị trường càng gia tăng (hướng dần về tình trạng độc quyền) sẽ thúc đẩy khả năng của các ngân hàng trong việc mở rộng cung tín dụng của họ. Có nhiều lý do khác nhau để giải thích cho việc này. Thứ nhất, việc cạnh tranh thấp làm giảm đáng kể chi phí của các nguồn lực khác, đặc biệt là những khoản tiền gửi. Như vậy, chi phí trung bình của các nguồn lực là thấp hơn, và môi trường đầu tư của ngân hàng sẽ được mở rộng. Các ngân hàng có thể chiếm được cơ hội để mở rộng thị phần của mình bằng cách phân bổ các khoản vay với mức lợi nhuận thấp (low-margin), mà điều này thì không thể thực hiện được khi một ngân hàng có sức mạnh thị trường ít hơn. Các ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn cũng có nhiều vốn hơn và có quy mô đáng kể, điều này cho phép họ có những tác động tích cực như đã được trình bày ở trên. Cuối cùng, sức mạnh thị trường đại diện cho sự hiệu quả của ngân hàng. Như vậy, các ngân hàng có sức mạnh thị trường tự nhiên sẽ gia tăng nguồn cung tín dụng của họ nhanh hơn bằng cách loại bỏ các ngân hàng kém hiệu quả hơn so với đối thủ.

Chúng tôi tiếp tục quan sát những thay đổi trong hoạt động kinh tế, được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, kết quả cho thấy mối tương quan tích cực đến tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng kinh tế sẽ làm tăng các dự án khả thi và cải thiện các cơ hội đầu tư cho các công ty, từ đó, dẫn đến sự gia tăng tín dụng. (theo Repullo và Suarez, 2013; Fungáčová và ctg., 2014; Leroy, 2014).

4.2. Xem xét tác động của khủng hoảng và cạnh tranh đến sự truyền dẫn chính sách tiền tệ (Bảng 2)

Bảng 2: Tác động của khủng hoảng và cạnh tranh đến sự truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng của ngân hàng

 Biến

 

Tác động của khủng hoảng

Tác động của khủng hoảng và cạnh tranh

(1)

(2)

Cap

0.423*

(0.065)

0.619**

(0.032)

Liquid

1.221***

(0.000)

1.234***

(0.000)

Size

0.979***

(0.000)

0.981***

(0.005)

ΔMP 

-0.0241**

(0.015)

-0.0239***

(0.000)

ΔMPxCrisis 

-0.0908*

(0.075)

-0.0192*

(0.085)

ΔGDP 

0.00000252***

(0.008)

0.00000268***

(0.006)

Lerner

0.0130***

(0.000)

0.0189***

(0.000)

ΔMPxlerner 

0.0105***

(0.000)

0.0131***

(0.000)

ΔMPxcap

0.0396

(0.169)

0.0399

(0.158)

ΔMPxliquid

0.00713

(0.722)

0.00678

(0.724)

ΔMPxsize

9.28E-05

(0.844)

-2.1E-06

(0.996)

Lernerxcrisis

 

 

-0.0272**

(0.003)

LernerxCrisisxΔMP

 

 

-0.0279**

(0.006)

cons

 

0.344*

(0.05)

0.326*

(0.062)

R-square

0.592

0.692

Observations

372

372

Trong ngoặc là giá trị p-value và *, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%. .Nguồn: tác giả tự tính toán

Một phát hiện chung của nhiều nghiên cứu này là các kênh tín dụng có thể sẽ phản ứng khác nhau với việc tăng hay giảm lãi suất (Gambacorta, 2003). Gambacorta và Marques-Ibanez (2011) cho rằng việc cung cấp tín dụng và hiệu quả chung của chính sách tiền tệ có thể bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng do tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng và các công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống được thực hiện trong giai đoạn này (ba công cụ phi truyền thống mà NHTW một số nước trên thế giới đã và đang sử dụng trong thời gian vừa qua, bao gồm công cụ nới lỏng định lượng, công cụ nới lỏng điều kiện tín dụng và công cụ định hướng chính sách). Thật vậy, cùng với sự sụt giảm mạnh lãi suất, NHTW thực hiện các chính sách tiền tệ phi truyền thống để phục hồi cho vay, và thông qua cho vay tác động đến nền kinh tế (Borio và Disyatat, 2010). Tuy nhiên, theo Leory (2014) việc thêm biến giả khủng hoảng trong giai đoạn từ 2008-2011 được xem như là một biện pháp ghi nhận những ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ phi truyền thống. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng biến tương tác giữa biến chính sách tiền tệ với biến giả khủng hoảng có tác động tiêu cực đến việc cung cấp tín dụng, điều này cho thấy rằng chính sách tiền tệ đã trở nên hiệu quả hơn trong thời kỳ khủng hoảng. Kết quả này thì phù hợp với Việt Nam khi vào đầu năm 2009, Chính phủ đã đưa ra gói kích cầu bao gồm các nhóm giải pháp cơ bản: (1) Với doanh nghiệp: giảm/giãn thuế TNDN, hỗ trợ lãi suất ở mức 4%; (2) Với dân cư: trợ cấp người nghèo, giãn/miễn thuế TNCN, giảm VAT, đào tạo lao động; (3) Về phía Chính phủ: tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng chi tiêu công, đẩy mạnh xúc tiến thương mại để tăng xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ còn nới lỏng tín dụng bằng cách hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp sản xuất thông qua hệ thống NHTM. Bằng cách này, chúng ta đã kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp các doanh nghiệp có được nguồn vốn giá rẻ nên giảm được giá thành sản phẩm, duy trì ổn định sản xuất, kích thích được nhu cầu trong nước. Điều này cho thấy sự hiệu quả của chính sách tiền tệ phi truyền thống trong giai đoạn này. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Leory (2014) cho các ngân hàng ở Châu Âu và Nguyễn Phúc Cảnh (2016) cho các ngân hàng ở Việt Nam.

 

5. KẾT LUẬN

Nhiều nghiên cứu cho đến nay thường bỏ qua vai trò của cạnh tranh trên kênh cho vay ngân hàng. Tuy nhiên, cũng giống như quy mô, tỷ lệ vốn hóa hoặc khả năng thanh khoản, sự cạnh tranh cũng có thể ảnh hưởng đến sự truyền dẫn chính sách tiền tệ, đặc biệt, là các kênh cho vay ngân hàng. Giả thuyết của chúng tôi là một ngân hàng có sức mạnh thị trường cao hơn, tức sự cạnh tranh thấp hơn sẽ có khả năng lớn hơn để tự phòng ngừa chống lại một cú sốc tiền tệ do họ có điều kiện tiếp cận nhiều hơn và tốt hơn trong thị trường tài chính. Bởi vì một ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn sẽ có nhiều sự lựa chọn thay thế nợ vay với các nguồn kinh phí khác, các tác động của thay đổi chính sách tiền tệ vào cung tín dụng sẽ ít quan trọng và chính sách tiền tệ sẽ được coi là ít hiệu quả hơn.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét tác động của cạnh tranh ngân hàng đến việc truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000-2016. Chúng tôi thấy rằng mức độ cạnh tranh ngân hàng cao hơn, cho thấy sức mạnh thị trường ít hơn, sẽ đem lại sự hiệu quả hơn cho việc truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay ngân hàng. Chúng tôi giải thích kết quả này có nghĩa là mức độ cạnh tranh cao hơn làm cho ngân hàng giảm tiếp cận với các nguồn tài trợ thay thế và do đó, làm cho các ngân hàng sẽ phản ứng tốt hơn với chính sách tiền tệ.

Ngoài hiệu quả gián tiếp thông qua chính sách tiền tệ, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một ảnh hưởng trực tiếp từ sự cạnh tranh của ngân hàng đến việc cung cấp tín dụng. Trong thực tế, sức mạnh thị trường làm tăng cung tín dụng. Kết quả này có thể xuất phát từ sự tự do hơn trong hành động, hoặc đây có thể là một kết quả của sự hiệu quả cao hơn. Một ngân hàng hoạt động trong một thị trường tập trung cao sẽ ít nhạy cảm với các cú sốc của chính sách tiền tệ. Điều này cũng cho thấy rằng sức mạnh thị trường sẽ làm giảm hiệu quả chính sách tiền tệ trong một thị trường có mức độ tập trung cao.

Phát hiện của chúng tôi dẫn đến hai kết luận. Từ góc độ chính sách, mức độ cạnh tranh ngân hàng có tác động quan trọng đến việc truyền dẫn chính sách tiền tệ. Việc truyền dẫn là kém hiệu quả hơn khi một hệ thống ngân hàng ít cạnh tranh hơn, Việt Nam nên theo dõi chặt chẽ cơ cấu hệ thống ngân hàng không chỉ vì lý do ổn định tài chính, mà còn cho việc truyền dẫn chính sách tiền tệ về những mục tiêu quan trọng của NHTW trong các năm tới. Điều này ủng hộ quan điểm rằng sự cạnh tranh ngân hàng lớn hơn và hiệu quả của các chính sách tiền tệ không những không mâu thuẫn với nhau, mà còn là một một mục tiêu bổ sung của NHTW. Từ góc độ kinh tế, hội nhập nhiều hơn giữa các nước khu vực cũng như trên thế giới sẽ góp phần gia tăng mức độ cạnh tranh của ngân hàng. Khi khác biệt giữa các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ vẫn còn tồn tại, thì các chính sách tiền tệ sẽ có tác động không đối xứng, do đó, việc thay đổi chính sách tiền tệ có thể có hiệu ứng thực tế không đồng nhất giữa các ngân hàng gây nên sự kém hiệu quả của chính sách tiền tệ. Điều này rút ra bài học là sự hội nhập ngân hàng không thể xem xét một cách riêng biệt, mà phải được xử lý trong bối cảnh hội nhập tài chính rộng lớn của khu vực cũng như thế giới với Việt Nam. Kết quả là, những nỗ lực để tăng cường sự hội tụ trong cạnh tranh ngân hàng nên được coi là cơ bản để cải thiện hơn nữa các hiệu quả của chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Một cách thận trọng hơn, nghiên cứu của chúng tôi cũng nhấn mạnh hiệu quả của các chính sách tiền tệ phi truyền thống được thực hiện bởi NHTW trên cơ sở các kênh cho vay ngân hàng được tăng cường trong giai đoạn khủng hoảng (2008-2011).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Adams, R., Amel, D., (2005). The Effects of Local Banking Market Structure on the Bank-Lending Channel of Monetary Policy. Working Paper 2005-16. Board ofGovernors of the Federal Reserve System.

Altunbaş. Y.. Fazylov. O..& Molyneux. P. (2002). Evidence on the bank lending channel in Europe. Journal of Banking & Finance. 26(11). 2093-2110.

Altunbas. Y.. Gambacorta. L..& Marques-Ibanez. D. (2010). Bank risk and monetary policy. Journal of Financial Stability. 6(3). 121-129.

Anil. K. K..& Jeremy. C. S. (1997). The role of banks in monetary policy: a survey with implications for the European Monetary Union. Economic Perspectives(Sep). 2-18.

Aftalion, F., White, J.L., (1978). A study of a monetary system with a pegged discount rate under different market structures. Journal of Banking and Finance 2, 351-354.

Arellano. M..& Bond. S. (1991). Some Tests of Specification for Panel Data: Monte Carlo Evidence and an Application to Employment Equations. The Review of Economic Studies. 58(2). 277-297. doi: 10.2307/2297968

Ashcraft. A. B. (2006). New Evidence on the Lending Channel. Journal of Money. Credit and Banking. 38(3). 751-775.

Baltagi. B. H. (2008). Econometric analysis of panel data. Chichester. UK; Hoboken. NJ: John Wiley & Sons.

Berlin. M..& Mester. L. J. (1999). Deposits and Relationship Lending. Review of Financial Studies. 12(3). 579-607. doi: 10.1093/revfin/12.3.0579

Bernanke. B. S..& Blinder. A. S. (1988). Credit. Money. and Aggregate Demand. National Bureau of Economic Research Working Paper Series. No. 2534.

Bernanke. B. S..& Blinder. A. S. (1992). The Federal Funds Rate and the Channels of Monetary Transmission. The American Economic Review. 82(4). 901-921.

Bernanke. B. S..& Gertler. M. (1995). Inside the Black Box: The Credit Channel of Monetary Policy Transmission. National Bureau of Economic Research Working Paper Series. No. 5146.

Bikker. J. A.. Shaffer. S..& Spierdijk. L. (2011). Assessing Competition with the Panzar-Rosse Model: The Role of Scale. Costs. and Equilibrium. Review of Economics and Statistics. 94(4). 1025-1044.

Brissimis. S. N..& Delis. M. D. (2009). Identification of a loan supply function: A cross-country test for the existence of a bank lending channel. Journal of International Financial Markets. Institutions and Money. 19(2). 321-335.

Cecchetti. S. G. (1999). Legal structure. financial structure. and the monetary policy transmission mechanism: National bureau of economic research.

Claessens, S., & Laeven, L. (2004). What drives bank competition? Some international evidence. Journal of Money, Credit, and Banking, 36(3), 563-583.

Claudio. E. V. B..& Wilhelm. F. (1995). The response of short-term bank lending rates to policy rates: a cross-country perspective: Bank for International Settlements.

Cottarelli. C..& Kourelis. A. (1994). Financial Structure. Bank Lending Rates. and the Transmission Mechanism of Monetary Policy. Staff Papers. 41(4). 587-623.

Chu Khánh Lân (2013). Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, số 5 tháng 3/2013, 17-2323

De Bondt. G. J. (2005). Interest Rate Pass-Through: Empirical Results for the Euro Area. German Economic Review. 6(1). 37-78.

Ehrmann. M.. Gambacorta. L.. Martinez-Pagés. J.. Sevestre. P..& Worms. A. (2003). The effects of monetary policy in the euro area. Oxford Review of Economic Policy. 19(1). 58-72.

Ehrmann. M.. Gambacorta. L.. Martínez-Pagés. J.. Sevestre. P..& Worms. A. (2001). Financial systems and the role of banks in monetary policy transmission in the euro area.

Friedman. M..& Schwartz. A. J. (1963). A monetary history of the United States. 1867-1960. Princeton: Princeton University Press.

Fungá-ová. Z.. Solanko. L..& Weill. L. (2014). Does competition influence the bank lending channel in the euro area? Journal of Banking & Finance. 49. 356-366.

Gambacorta. L. (2005). Inside the bank lending channel. European Economic Review. 49(7). 1737-1759.

Gambacorta. L..& Marques-Ibanez. D. (2011). The bank lending channel: lessons from the crisis. Economic Policy. 26(66). 135-182.

Guntner. J. H. F. (2011). Competition among banks and the pass-through of monetary policy. Economic Modelling. 28(4). 1891-1901.

Gunji, H., Miura, K., Yuan, Y., 2009. Bank competition and monetary policy. Japan and the World Economy 21 (1), 105-115.

Hannan. T. H..& Berger. A. N. (1991). The Rigidity of Prices: Evidence from the Banking Industry. The American Economic Review. 81(4). 938-945.

Jiménez. G..& Ongena. S. (2012). Credit Supply and Monetary Policy: Identifying the Bank Balance-Sheet Channel with Loan Applications. The American Economic Review. 102(5). 2301-2326.

Kashyap. A. K..& Stein. J. C. (1995). The impact of monetary policy on bank balance sheets. Carnegie-Rochester Conference Series on Public Policy. 42. 151-195. doi:

Kashyap. A. K..& Stein. J. C. (2000). What do a million observations on banks say about the transmission of monetary policy? American Economic Review. 407-428.

Kashyap. A. K.. Stein. J. C..& Wilcox. D. W. (1992). Monetary policy and credit conditions: Evidence from the composition of external finance: National bureau of economic research.

Kishan. R. P..& Opiela. T. P. (2000). Bank Size. Bank Capital. and the Bank Lending Channel. Journal of Money. Credit and Banking. 32(1). 121-141.

Klein. M. A. (1971). A Theory of the Banking Firm. Journal of Money. Credit and Banking. 3(2). 205-218.

Leroy, A. (2014). Competition and the bank lending channel in Eurozone. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, Elsevier, 31(C), 296-314.

Leroy. A..& Lucotte. Y. (2015). Heterogeneous monetary transmission process in the Eurozone: Does banking competition matter? International Economics. 141. 115-134.

Loutskina. E..& Strahan. P. E. (2009). Securitization and the Declining Impact of Bank Finance on Loan Supply: Evidence from Mortgage Originations. The Journal of Finance. 64(2). 861-889.

Matousek. R..& Sarantis. N. (2009). The bank lending channel and monetary transmission in Central and Eastern European countries. Journal of Comparative Economics. 37(2). 321-334.

Mian. A..& Khwaja. A. I. (2006). Tracing the impact of bank liquidity shocks: Evidence from an emerging market: National Bureau of Economic Research.

Nguyễn Phúc Cảnh (2014). Truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh giá tài sản tài chính: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển và hội nhập, 19(29) - Tháng 11-12/2014, trang 11-18.

Nguyễn Thị Thùy Linh; Trần Hoàng Ngân; Trần Thị Hồng (2015). Quyền lực thị trường của ngân hàng và khả năng truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng: Bằng chứng tại một số nước ASEAN. Tạp chí phát triển kinh tế. 26(9). 26-43.

Olivero. M. P.. Li. Y..& Jeon. B. N. (2011). Competition in banking and the lending channel: Evidence from bank-level data in Asia and Latin America. Journal of Banking & Finance. 35(3). 560-571.

Olivero, M.P., Li, Y., Jeon, B.N. (2009). Consolidation in Banking and the LendingChannel of Monetary Transmission: Evidence from Asia and Latin America.Working Paper, LeBow College of Business, Drexel University

Peek. J..& Rosengren. E. S. (2013). The role of banks in the transmission of monetary policy. from http://www.bos.frb.org/economic/ppdp/2013/ppdp1305.htm

Phan Thị Thơm; Thân Thị Thu Thủy (2015). Cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam:So sánh giữa tiếp cận truyền thống và tiếp cận mới. Tạp chí phát triển kinh tế. 26(7). 28-46.

Repullo. R..& Suarez. J. (2012). The Procyclical Effects of Bank Capital Regulation. Review of Financial Studies.

Romer. C. D.. Romer. D. H.. Goldfeld. S. M..& Friedman. B. M. (1990). New Evidence on the Monetary Transmission Mechanism. Brookings Papers on Economic Activity. 1990(1). 149-213.

Stein. J. C. (1995). An Adverse Selection Model of Bank Asset and Liability Management with Implications for the Transmission of Monetary Policy. National Bureau of Economic Research Working Paper Series. No. 5217.

Van den Heuvel. S. J. (2002). Does bank capital matter for monetary transmission? Economic Policy Review. 8(1). 259-265.

Van Leuvensteijn. M.. S-rensen. C. K.. Bikker. J. A..& van Rixtel. A. A. R. J. M. (2013). Impact of bank competition on the interest rate pass-through in the euro area. Applied Economics. 45(11). 1359-1380. doi: 10.1080/00036846.2011.617697.

VanHoose, D., (1983). Monetary policy under alternative bank market structures.

Journal of Banking and Finance 7, 383-404.

VanHoose, D., (1985). Bank market structure and monetary control. Journal of Money, Credit and Banking 17, 298-311.

 

1 Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Tp.HCM

2 Trường Đại học Kinh tế Tp>HCM


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Tạp chí Ngân hàng
CÁC TIN KHÁC
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
23/04/2025
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
18/04/2025
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
10/04/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
31/03/2025
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
28/03/2025
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/03/2025
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
28/03/2025
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
18/03/2025
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
18/03/2025
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
18/03/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready