Không đưa nợ DNNN
vào nợ công
Ngày 23/11, Quốc hội biểu quyết thông qua dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi), với tỷ lệ 85,74% đại biểu Quốc hội tán thành
Đức Nghiêm
Thống nhất đầu mối quản lý Nhà nước về nợ công
Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2018 gồm 9 chương, 63 điều, quy định về quản lý nợ công, bao gồm hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp vụ quản lý nợ công. Nợ công quy định tại luật này là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, phạm vi điều chỉnh của luật quy định về quản lý nợ công còn bao gồm hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp vụ quản lý nợ công. So với Dự thảo Luật trình ra Quốc hội trước đây thì ban soạn thảo đã bỏ nội dung “nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vào phạm vi nợ công”.
Theo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) do ông Nguyễn Đức Hải - Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội trình bày có giải thích lý do bỏ nội dung trên rằng, các khoản nợ tự vay, tự trả của DNNN là các khoản vay thuộc quyền tự chủ của doanh nghiệp. Trường hợp DNNN không đủ khả năng trả nợ thì thực hiện thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật, bảo đảm bình đẳng như các loại hình doanh nghiệp khác.
Đa số ý kiến tán thành quy định Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính như Dự thảo Luật, theo đó, Bộ Tài chính chủ trì đàm phán, ký kết các thỏa thuận vay nợ. Theo ông Nguyễn Đức Hải, Dự thảo Luật đã được chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng quy định rõ đầu mối quản lý nợ công: Thứ nhất, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công. Thứ hai, Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công. Trong đó quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính: “chủ trì tổ chức thực hiện đàm phán, ký kết thỏa thuận vay thương mại, hiệp định khung, hiệp định cụ thể về vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Nhà nước và Chính phủ”. Thứ ba, giao Chính phủ phân công cụ thể nhiệm vụ, cơ chế phối hợp của các bộ, ngành liên quan trong quản lý Nhà nước về nợ công.
Theo ông Nguyễn Đức Hải, quy định trong Dự thảo Luật là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, đúng tinh thần, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên nguyên tắc một tổ chức có thể làm nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Đồng thời giao Chính phủ quy định nhiệm vụ phối hợp của các bộ, ngành liên quan trong quản lý nợ công nhằm xác lập căn cứ pháp lý minh bạch, cụ thể trong xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính; nhiệm vụ, quyền hạn phối hợp của các cơ quan liên quan, tương tự như quy định về trách nhiệm quản lý Nhà nước của cơ quan đầu mối trong nhiều đạo luật hiện hành như Luật Du lịch, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Phí và lệ phí…
Chỉ tiêu nào liên quan đến an toàn nợ công?
Về chỉ tiêu an toàn nợ công, tại Điều 21 quy định là hệ thống chỉ tiêu quy định mức trần và ngưỡng cảnh báo về nợ công do Quốc hội quyết định. Các chỉ tiêu an toàn nợ công bao gồm: Nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội; Nợ của Chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội; Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không bao gồm cho vay lại) so với tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm; Nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội; Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Trong các phiên thảo luận Dự thảo Luật này có ý kiến đề nghị cân nhắc bỏ chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia vì hai chỉ tiêu này bao gồm cả khoản nợ nước ngoài được vay theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức khác; đề nghị bổ sung chỉ tiêu nợ Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước và nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước; nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia trên tổng dự trữ ngoại hối quốc gia; nợ công bình quân trên đầu người. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ bao gồm cả các khoản nợ nước ngoài được vay theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp, không thuộc phạm vi nợ công. Tuy nhiên, đây là 2 chỉ tiêu quan trọng, thể hiện mức độ an toàn nợ nước ngoài của cả nền kinh tế. Và theo thông lệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều sử dụng 2 nhóm chỉ tiêu là quy mô nợ (nợ Chính phủ/GDP, nợ công/GDP…) và chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ (nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/thu NSNN hoặc nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia/tổng kim ngạch xuất khẩu) nhằm phản ánh quy mô nợ và khả năng trả nợ của quốc gia. Chính vì vậy, theo ông Nguyễn Đức Hải, hệ thống các chỉ tiêu này một mặt vừa đảm bảo tính ổn định trong dài hạn, đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát an toàn nợ công, mặt khác đảm bảo tính đồng nhất theo thông lệ để so sánh với các quốc gia trên thế giới.