Thực hiện mục tiêu, định hướng của Chính phủ tại Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 tại việt nam, Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020.
Nhận định Hệ thống Thanh toán liên ngân hàng (TTLNH) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau khi nâng cấp sẽ cung cấp dịch vụ thanh toán liên ngân hàng trên phạm vi cả nước, cung cấp thanh toán đa tệ, cho phép kết nối trực tiếp với các hệ thống thanh toán trái phiếu, chứng khoán, các hệ thống chuyển mạch tài chính, các hệ thống toán bán lẻ, các hệ thống bù trừ thẻ. Hệ thống TTLNH cung cấp hạ tầng để cung cấp các dịch thanh toán giữa ngân hàng với ngân hàng, thanh toán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa người dân với doanh nghiệp. Với chuẩn tin điện quốc tế ISO 20022, hệ thống có khả năng kết nối và chuyển tiếp các giao dịch thanh toán với các hệ thống thanh toán quốc tế và khu vực. Cung cấp nền tảng kỹ thuật, công nghệ theo chuẩn mực quốc tế, cung cấp đa dịch vụ và có độ ổn định cao. Hệ thống thanh toán góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, cung cấp các dịch vụ thanh toán thuận tiện, nhanh chóng và an toàn cho người dân và doanh nghiệp, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực quản lý thị trường tài chính của NHNN, NHNN giám sát chặt chẽ, phát hiện và ngăn chặn sớm các rủi ro tài chính; Cho phép NHNN kiểm soát được luồng tiền ra/vào Việt Nam (trong trường hợp cần thiết), các giao dịch bất thường, làm tốt hơn công tác phòng chống rửa tiền, quản lý ngoại hối; Hình thành kho dữ liệu phục vụ nhu cầu khai thác, thống kê, phân tích dữ liệu thanh toán quốc tế cho các đơn vị trực thuộc NHNN và các Bộ, Ngành khác.
Sau khi nghiên cứu học tập kinh nghiệm mô hình hoạt động các Hệ thống thanh toán của một số quốc gia khác trên thế giới, đánh giá thực trạng hệ thống thanh toán Việt Nam. Bài viết sẽ đưa ra đề xuất giải pháp, phương án cụ thể để NHNN nâng cấp, phát triển hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia.
I. Nâng cao năng lực của hệ thống thanh toán quốc gia
1. Thanh toán, chuyển tiền
1.1. Thanh toán giá trị cao (RTGS)
Trong thiết kế hệ thống thanh toán, hệ thống thanh toán tức thời - RTGS là hệ thống hàng đầu được sử dụng để quyết toán các lệnh thanh toán giá trị cao ở các quốc gia đã phát triển, RTGS được coi như hệ thống có thể giảm thiểu các rủi ro thanh toán tiềm năng hơn các hệ thống quyết toán ròng theo phiên (DNS). Đối với hệ thống RTGS, lệnh thanh toán được thực hiện với thủ tục trích nợ tài khoản người gửi lệnh và đồng thời ghi có tài khoản người thụ hưởng, rủi ro trong thanh toán được loại trừ nhưng đòi hỏi khả năng thanh khoản trên tài khoản của bên phát lệnh thanh toán phải luôn sẵn sàng. Mặc dù hệ thống RTGS có lợi thế về quản lý rủi ro như vậy, nhưng các Ngân hàng thanh toán sẽ phải trả thêm chi phí cho thanh khoản nhiều hơn so với hệ thống DNS vì nếu Ngân hàng gửi lệnh thanh toán không có đủ thanh khoản sẽ phải đợi các khoản thanh toán đến để sử dụng và có thể gây chậm trễ hoạt động thanh toán. Vấn đề này thường được Ngân hàng Trung ương bù đắp bằng cơ chế thấu chi trong ngày cho phép các thành viên tham gia với điều kiện ký quỹ tài sản đảm bảo để phòng ngừa rủi ro không trả được nợ của các thành viên. Mặc dù, RTGS giảm thiểu được rủi ro so với hệ thống Thanh toán DNS nhưng lại phải chịu chi phí thanh khoản lớn hơn, nhưng hệ thống RTGS vẫn được các quốc gia đánh giá cao và phát triển nó.
Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể tận dụng được cả lợi thế của hệ thống RTGS về quản lý rủi ro và lợi thế về chi phí thanh khoản của hệ thống DNS, đây là việc làm cần được quan tâm giải quyết và chắc chắn sẽ còn nhiều hướng đánh giá khác nhau nếu đặt vào từng khu vực, quốc gia khác nhau.
Trước hết, để giải quyết vấn đề trên, ta có thể xem xét kinh nghiệm xây dựng hệ thống thanh toán giá trị cao Mỹ, Anh và mô hình ATS.
NHTW Mỹ và Anh sở hữu, vận hành hệ thống thanh toán giá trị cao nhưng với đặc thù từng quốc gia xây dựng mô hình hệ thống thanh toán giá trị cao gồm các cấu phần khác nhau:
NHTW Mỹ vừa sử dụng hệ thống RTGS thanh toán tức thời với cơ chế cung cấp tín dụng trong ngày cho các thành viên kèm điều kiện ký quỹ nhưng đồng thời lại sở hữu và vận hành hệ thống thanh toán CHIPS cho phép thanh toán giá trị cao hoạt động với cơ chế bù trừ, quyết toán liên tục và tức thời trên cơ sở quyết toán bằng tiền ứng trước trên tài khoản của các thành viên CHIPS mở tại NHTW Mỹ. Các khoản ứng trước trên tài khoản của thành viên CHIPS tại NHTW Mỹ có thể thực hiện vào bất kỳ thời gian nào trong ngày làm việc của CHIPS và NHTW Mỹ, các giao dịch không đủ tiền quyết toán cuối phiên giao dịch tại thời gian quy định sẽ bị hủy. Với các cấu phần của hệ thống thanh toán giá trị cao như vậy, các thành viên có thể sử dụng hệ thống RTGS hay hệ thống DNS tùy thuộc vào tình hình thanh khoản và tình hình thực tế của hoạt động giao dịch kinh doanh.
Giải pháp của NHTW Mỹ là dành quyền chủ động, linh hoạt cho thành viên, sẽ giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng hơn do thành viên chủ động về khả năng thanh khoản, về tính cần kíp của lệnh thanh toán. Tuy nhiên, giải pháp này có hạn chế là do tính linh hoạt của thành viên nên sẽ khó khăn hơn cho quá trình quản lý, giám sát lệnh thanh toán.
NHTW Anh chỉ sử dụng hệ thống thanh toán giá trị cao là hệ thống thanh toán tức thời RTGS, không sử dụng cơ chế thấu chi trong ngày sẽ loại trừ được khả năng rủi ro trong thanh toán và tín dụng, các thành viên sẽ chỉ thanh toán được nếu có đủ nguồn lực tài chính nhưng trong hệ thống thanh toán giá trị cao của NHTW Anh sử dụng thêm cơ chế bù (offsetting) trong trường hợp một thành viên gửi lệnh thanh toán nhưng không đủ nguồn vốn để thanh toán, nếu có nhiều lệnh thanh toán trong hàng đợi có thể sử dụng cơ chế bù, tuy nhiên cơ chế này không hoạt động thường xuyên trong ngày làm việc. Đây chính là cơ chế hệ thống thanh toán RTGS kèm theo một hệ thống lai để tạo điều kiện tiết kiệm thanh khoản và đẩy nhanh tốc độ thanh toán.
Với giải pháp của NHTW Anh, các lệnh thanh toán đáp ứng các quy định cụ thể sẽ được tự động đẩy vào hệ thống không do thành viên lựa chọn, do vậy, trong điều kiện khi thành viên không đáp ứng được khả năng thanh toán sẽ làm chậm quá trình. Tuy nhiên, giải pháp này có ưu điểm là tạo thuận lợi cho quá trình quản lý, giám sát.
Mô hình ATS của các nước đang phát triển cho phép tích hợp RTGS và ACH trong một cỗ máy. Việc tích hợp RTGS và ACH trong cùng một hệ thống duy nhất ATS sẽ giúp đảm bảo thanh toán bù trừ và quyết toán liền mạch tất cả các nghĩa vụ thanh toán liên ngân hàng trong nước trong cùng một ngày theo nguyên tắc cuối cùng và không thể hủy ngang đối với cả thanh toán và quyết toán.
Với hệ thống RTGS Việt Nam, NHTW cho phép các thành viên thấu chi trong ngày với điều kiện ký quỹ đảm bảo để bù đắp rủi ro tín dụng và tạo điều kiện thanh khoản cho các thành viên giống như hệ thống Fedwire của Mỹ. Để hệ thống thanh toán giá trị cao thêm linh hoạt và hiệu quả tiết kiệm thanh khoản có thể tính đến việc xây dựng hệ thống DNS khác trong trường hợp cần thiết. Trên cơ sở xem xét những ưu điểm và hạn chế của hai hệ thống của Ngân hàng Trung ương Mỹ và Anh để có thể lựa chọn mô hình phù hợp hơn:
Nếu thiết kế thêm hệ thống thanh toán bù trừ, quyết toán giá trị cao như hệ thống của NHTW Mỹ, mặc dù các thành viên có thể chọn lựa phương thức thanh toán tức thời hay DNS và hiệu quả sử dụng thanh khoản cao hơn, cơ chế quản lý rủi ro sẽ nằm trong cơ chế thấu chi tài khoản thanh toán tổng của thành viên mở tại Ngân hàng Trung ương, các thành viên có thể kiểm soát tốc độ thanh toán qua việc chuyển tiền vào tài khoản thanh toán bù trừ giá trị cao nhưng nó sẽ có những điểm hạn chế, đó là các thành viên cần kiểm soát thường xuyên hàng đợi thanh toán để có thể quản lý tốt thanh khoản trên tài khoản bù trừ giá trị cao và yêu cầu sẽ phải có hệ thống phần mềm đáp ứng yêu cầu này, khó khăn hơn cho quá trình quản lý, giám sát lệnh thanh toán. Xây dựng hệ thống DNS riêng đồng nghĩa với việc phát sinh chi phí.
Nếu thiết kế theo kiểu hệ thống lai như Ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng Trung ương sẽ phải có cơ chế theo dõi các hàng đợi trên hệ thống thanh toán, hoặc phải thiết kế cơ chế theo giờ, theo tình huống khác nhau để cơ chế bù được sử dụng hoạt động thích hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, cũng như nội dung tại tài liệu hệ thống NHTW Anh cho thấy không phải cơ chế này lúc nào cũng hoạt động trong một ngày làm việc bình thường, và điểm hạn chế của cơ chế này là các thành viên cũng không chủ động được về tốc độ thanh toán vì nó còn phụ thuộc vào các lệnh thanh toán từ các thành viên khác gửi đến để có thể sử dụng cơ chế bù. Tuy nhiên, giải pháp này có ưu điểm là tạo thuận lợi cho quá trình quản lý, giám sát, không phải xây dựng thêm Hệ thống DNS riêng nên tiết kiệm chi phí hơn.
Theo đánh giá trên, có thể thấy, lựa chọn mô hình thanh toán giá trị cao nào cũng có những mặt ưu điểm và hạn chế của nó. Tuy nhiên, nếu kết hợp phát triển Hệ thống thanh toán LNH theo mô hình ATS và sử dụng cơ chế bù trừ các lệnh thanh toán giá trị cao trong hàng đợi như mô hình của Anh thì Hệ thống TTLNH Quốc gia của Việt Nam không cần có chức năng tiết kiệm thanh khoản riêng biệt như mô hình của Mỹ theo đó tiết kiệm được chi phí, nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý, giám sát tốt các lệnh thanh toán và đạt được mục đích tiết kiệm thanh khoản, rủi ro thấp đối với hệ thống.
1.2. Thanh toán giá trị thấp (ACH)
Chức năng này hoạt động tương tự như một Hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH). Tiểu hệ thống thanhh toán giá trị thấp của Hệ thống TTLNH hiện nay đang hoạt động tương tự như ACH, tuy nhiên thời gian hoạt động của chức năng này đang bị giới hạn hoạt động trong giờ hành chính. Do đó, cần nâng cấp chức năng này để đáp ứng yêu cầu hoạt động được 24/7, cải tiến khâu quyết toán (netting) để có khả năng thực hiện netting bất kể tại thời điểm nào trong ngày mà không làm gián đoạn sự hoạt động liên tục của hệ thống.
Kết quả xử lý của chức năng này là bảng giá trị bù trừ được gửi sang chức năng xử lý kết quả quyết toán từ các Hệ thống thanh toán bù trừ khác của Hệ thống xử lý sau giao dịch, thanh toán và quyết toán giao dịch để thực hiện hạch toán vào tài khoản của các thành viên.
1.3. Chức năng xử lý các giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ
Do Việt Nam là quốc gia có đồng tiền VNĐ chưa được tự do chuyển đổi, phải sử dụng ngoại tệ và chủ yếu là đồng Đô la Mỹ và một số ngoại tệ mạnh để thanh toán xuất nhập khẩu, theo như thực trạng hệ thống thanh toán ngoại tệ hiện nay chủ yếu các Tổ chức tín dụng thanh toán quốc tế sử dụng hệ thống thanh toán SWIFT là hệ thống phục vụ tin điện thanh toán ngoại tệ trong và ngoài nước. Ngoài ra Hệ thống VCB-Money của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển Việt Nam tự xây dựng cũng có thể phục vụ được nhu cầu thanh toán ngoại tệ thị trường trong nước. Tuy nhiên, để đảm bảo tính an toàn và cạnh tranh hệ thống thanh toán, đảm bảo an ninh tiền tệ trong trường hợp hệ thống SWIFT bị gián đoạn ảnh hưởng đến việc thanh toán xuất nhập khẩu, Hệ thống sẽ được bổ sung chức năng xử lý các giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ hỗ trợ hoạt động cả 02 phương thức sau:
Thanh toán ngoại tệ đơn giản: áp dụng đối với các lệnh thanh toán ngoại tệ đơn giản, sẽ thực hiện tại chức năng thanh toán giá trị cao hoặc chức năng thanh toán giá trị thấp tùy theo giá trị của lệnh thanh toán.
Thanh toán đối thanh toán (PVP): cần thiết kế module/chức năng riêng để xử lý các lệnh thanh toán này.
Chức năng xử lý các giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ hỗ trợ cả 02 phương thức thanh toán ngoại tệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên tham gia Hệ thống TTLNH trong việc xử lý linh hoạt các giao dịch thanh toán ngoại tệ của khách hàng.
Từ đánh giá và số liệu về độ lớn của thị trường cho thấy sự cần thiết để giảm thiểu các rủi ro trong thanh toán có thể gây lan truyền bất ổn tài chính. Việc thanh toán các giao dịch mua bán ngoại tệ cũng xảy ra các rủi ro về phía người mua, người bán, ngân hàng phục vụ người mua, ngân hàng phục vụ người bán, các Trung gian thanh toán và quyết toán giống như các rủi ro lý thuyết phân tích trong mô hình thanh toán giao dịch mua bán chứng khoán. Vì vậy, đề xuất xây dựng mô hình PVP thanh toán giao dịch mua bán ngoại tệ như sau:
Sau khi hoàn thiện hệ thống quyết toán đa tệ, sử dụng các tài khoản thanh toán VND, Ngoại tệ sử dụng tài khoản thanh toán của các thành viên mở tại Ngân hàng Trung ương để quyết toán các giao dịch mua, bán ngoại tệ. Cơ chế hỗ trợ thanh khoản VND như đối với các giao dịch thanh toán VND khác trên hệ thống. Riêng đối nhánh thanh toán Ngoại tệ, trước mắt chỉ đề xuất thanh toán dựa trên số dư thực có trên tài khoản thanh toán ngoại tệ của thành viên.
Trong dài hạn, với các giao dịch nghiệp vụ khác, có thể tùy tình hình phát triển của thị trường, sự cần thiết, có thể mở rộng các dịch vụ xử lý sau giao dịch, thanh toán và quyết toán để tránh lãng phí nguồn lực xây dựng hệ thống.
Mô hình thanh toán này có thể mở rộng thực hiện cho các nghiệp vụ phái sinh khác như: FX Forward, FX Swap, thực hiện quyền FX Option.
2. Xử lý sau giao dịch, thanh toán và quyết toán giao dịch
2.1. Chức năng quyết toán giao dịch mua, bán chứng khoán
Việc thanh toán mua bán chứng khoán nói chung và Trái phiếu chính phủ nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm và đặc biệt là Ngân hàng Trung ương các nước nhằm phòng ngừa những bất ổn khả năng thanh toán chứng khoán có thể lan truyền đến các hệ thống thanh toán và thị trường tài chính nói chung.
Giải quyết các vấn đề liên quan đến quyết toán chứng khoán, nhiều NHTW đã nghiên cứu các vấn đề về hệ thống quyết toán chứng khoán. Để phát triển hệ thống thanh toán chứng khoán ở Việt Nam, trước hết ta xem xét nghiên cứu thực tế các mô hình chuyển giao chứng khoán đối ứng thanh toán tiền, sau đó nghiên cứu thực tế triển khai mô hình thanh toán chứng khoán tại một số nước phát triển và rút ra kinh nghiệm và đề xuất mô hình đối với Việt Nam.
Theo báo cáo nghiên cứu về “Chuyển giao chứng khoán đối ứng thanh toán trong hệ thống quyết toán chứng khoán” (Delivery versus Payment - DVP) dựa trên nghiên cứu của Ủy ban về các hệ thống thanh và quyết toán của nhóm Ngân hàng Trung ương G10, nói chung, để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa việc chuyển giao chứng khoán và thanh toán tiền trong hệ thống thanh toán chứng khoán, các thủ tục thanh và quyết toán các giao dịch chứng khoán bao gồm nhiều bước, trong đó việc đối chiếu khớp đúng các điều khoản giao dịch, tính toán nghĩa vụ của các bên tham gia, quyết toán nghĩa vụ qua việc chốt thanh toán cuối cùng tiền và chuyển giao trái phiếu. Nghiên cứu trên đã xem xét hầu hết các hệ thống thanh toán chứng khoán được sử dụng của các nước G10, trên cơ sở đó, đã xác định ba cách tiếp cận cơ sở để đạt được DVP. Mặc dù các hệ thống được phân loại không phải hoàn toàn chính xác như vậy nhưng về mặt tổng thể có thể phân loại như sau:
Mô hình 1: Hệ thống quyết toán các chỉ dẫn chuyển giao cho cả chứng khoán và tiền cho từng giao dịch, với điều kiện chốt chuyển giao chứng khoán từ người bán đến người mua đồng thời khi chốt thanh toán tiền từ người mua tới người bán.
Mô hình 2: Hệ thống quyết toán các chỉ dẫn chuyển giao chứng khoán từng giao dịch với việc chuyển giao chứng khoán từ người bán đến người mua diễn ra trong quy trình xử lý, nhưng việc quyết toán tiền từ người mua đến người bán trên cơ sở quyết toán ròng vào cuối quy trình thanh toán.
Mô hình 3: Hệ thống quyết toán ròng các chỉ dẫn chuyển giao chứng khoán và tiền, việc chốt chuyển giao cả chứng khoán và tiền diễn ra vào cuối quy trình thanh toán.
Về mặt logic có thể tồn tại mô hình quyết toán tiền theo từng giao dịch và quyết toán chứng khoán ròng, nhưng thực tế không như vậy, vì việc người bán chứng khoán bao giờ cũng phải hoàn thành nghĩa vụ trước hay ít nhất không chậm hơn việc chuyển tiền thanh toán.
Phân tích về các mô hình quyết toán chứng khoán và thực tiễn nghiên cứu hệ thống quyết toán chứng khoán tại các quốc gia Mỹ và Anh rút ra rằng, Ngân hàng quyết toán tiền phải là ngân hàng thực sự có độ tin cậy tài chính cao để có thể hỗ trợ tín dụng thanh toán và giảm thiểu rủi ro thanh toán. Mặt khác, việc chọn một ngân hàng thương mại làm ngân hàng quyết toán tiền giao dịch cho nhiều tổ chức và ngân hàng thương mại có thể có xung đột lợi ích. Việc này nên được Ngân hàng Trung ương thực hiện.
Từ thực trạng của Việt Nam về hệ thống quyết toán giao dịch mua, bán chứng khoán còn những tồn tại. Các giao dịch mua, bán chứng khoán với doanh số lớn, đặc biệt giao dịch trái phiếu chính phủ, với phương thức thanh toán Việt Nam áp dụng hiện nay là phương thức bù trừ đa phương không phù hợp yêu cầu của hệ thống hiện đại, chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn, theo nghiên cứu hệ thống thanh toán tại Mỹ và Anh cũng như theo thông lệ quốc tế, thanh toán giao dịch TPCP, các chứng khoán doanh số lớn thường được thực hiện theo phương thức DVP1.
Hệ thống thanh toán chứng khoán còn thiếu những phương án lựa chọn dự phòng trong trường hợp xẩy ra các sự cố bất khả kháng hoặc thảm hoạ tự nhiên.
Mặt khác, do việc giám sát được luồng tiền thanh toán giao dịch chứng khoán nói chung và trái phiếu chính phủ nói riêng là cần thiết nhằm phục vụ cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, nhưng theo mô hình hiện nay Ngân hàng Trung ương khó thực hiện giám sát trực tiếp.
Đối với việc ổn định tài chính quốc gia, rủi ro hệ thống thanh toán chứng khoán có thể lan truyền gây bất ổn tài chính tiền tệ.
Để giải quyết các tồn tại trên của hệ thống cần phải đề xuất phát triển hệ thống quyết toán giao dịch mua bán chứng khoán mới, phù hợp với thực trạng Việt Nam và đảm bảo tính an toàn, hiệu quả, cụ thể như sau:
Đối với các giao dịch mua, bán Trái phiếu chính phủ hoặc chứng khoán công ty với doanh số giao dịch lớn:
Theo phần lý thuyết nêu trên về DVP, phù hợp với thực tế của Việt Nam về việc với doanh số các giao dịch mua, bán chứng khoán nói chung cũng như trái phiếu chính phủ giá trị cao, việc thanh toán không thành công các giao dịch có thể gây ra những rủi ro lớn, ảnh hưởng đến thị trường tài chính tiền tệ, gây bất ổn tài chính. Thực tế tại Mỹ và Anh cũng như nhiều quốc gia xây dựng hệ thống thanh toán trái phiếu chính phủ thường sử dụng mô hình DVP1 do Ngân hàng Trung ương muốn quản lý rủi ro tiềm năng, giám sát các luồng tiền thanh toán và hướng đến việc khuyến khích hoạt động và giảm áp lực thanh khoản trên thị trường trái phiếu, tránh những rủi ro hệ thống lan truyền gây bất ổn thị trường tài chính. Vì lý do đó, đề xuất Ngân hàng Nhà nước xây dựng mô hình hệ thống quyết toán chứng khoán, đặc biệt cho việc quyết toán mua, bán trái phiếu chính phủ theo mô hình DVP1, có thể mở rộng mô hình thanh toán mua, bán chứng khoán công ty với doanh số giao dịch lớn.
Theo mô hình thanh toán DVP1, yêu cầu việc thanh toán là theo từng giao dịch, quyết toán tiền và chứng khoán được thực hiện đồng thời, yêu cầu phải được thực hiện trên cùng một hệ thống sổ kế toán. Trong trường hợp, tài khoản thanh toán tiền do một thực thể khác quản lý, phải thiết lập hệ thống truyền thông kết nối giữa hệ thống vận hành chuyển chứng khoán và các thực thể khác để cung cấp cho hệ thống chuyển chứng khoán các thông tin tức thời về việc hoàn thành chuyển tiền. Trong mô hình này, việc quyết toán đồng thời trích nợ tài khoản chứng khoán của người bán, ghi có tài khoản chứng khoán của người mua, trích nợ tài khoản tiền của người mua và ghi có tài khoản tiền của người bán.
Để thực hiện hệ thống DVP1, theo thực tế Việt Nam hiện nay cần giải quyết mối quan hệ giữa hệ thống RTGS đang thuộc vận hành và quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống quyết toán chứng khoán đang đề xuất xây dựng và hệ thống VSD thuộc sở hữu vận hành của Trung tâm lưu ký chứng khoán do Ủy ban chứng khoán Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động. Để giải quyết vấn đề trên, đề xuất có thể chọn một trong hai phương án sau:
Phương án 1: Thực hiện cơ chế cho phép thành viên của VSD mở tài khoản thanh toán trái phiếu đứng tên VSD/Thành viên (chỉ các thành viên đang mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) để quyết toán giao dịch mua, bán chứng khoán tại Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể: ngay khi các bên giao dịch mua, bán chứng khoán xác nhận giao dịch, VSD kiểm tra tính sẵn sàng của chứng khoán bán và phong tỏa số chứng khoán bán, chuyển vào tài khoản thanh toán mua bán chứng khoán VSD/Thành viên mở tại Ngân hàng Nhà nước.
Phương án 2: Khi các bên giao dịch mua, bán chứng khoán xác nhận giao dịch, đồng thời VSD kiểm tra tính sẵn sàng của chứng khoán bán và chuyển vào tài khoản phong tỏa chứng khoán bán để thanh toán mở tại VSD. Trường hợp này, cần phải có hệ thống kết nối giữa VSD và hệ thống của NHNN để cho phép hệ thống của NHNN có thể truy xuất tức thời thông tin số dư tài khoản, đồng thời có thể phong tỏa số chứng khoán bán và việc thực hiện trích nợ tự động tài khoản người bán chứng khoán và ghi có tài khoản người mua chứng khoán phải được thực hiện. Các giao dịch được đưa vào hàng đợi quyết toán tiền và chứng khoán được thực hiện sau khi đã kiểm tra và xác nhận đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cả tiền và chứng khoán trên tài khoản.
Đối với các giao dịch mua, bán chứng khoán doanh số nhỏ hơn, để tiết kiệm thanh khoản cho hệ thống, có thể thực hiện thanh toán theo mô hình DVP2 như sau:
Theo cơ chế hiện tại VSD có thể thực hiện quyết toán chứng khoán theo từng giao dịch sau đó chuyển kết quả thanh toán tiền ròng sang quyết toán tại NHNN qua tài khoản của các Đại lý thanh toán là các Ngân hàng thương mại mở tại Ngân hàng Nhà nước. Về phía NHNN có thể xây dựng cơ chế truyền files quyết toán và xử lý files quyết toán hiệu quả để tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán. Cùng với đó, nghiên triển khai các hợp đồng, điều kiện pháp lý để ràng buộc các bên tham gia trong quyết toán chứng khoán qua hệ thống NHNN để đảm bảo quản lý rủi ro và thanh khoản đáp ứng tốt các nhu cầu của thị trường.
Về phía VSD, theo mô hình thanh toán này sẽ phải chịu rủi ro thanh toán, vì việc đã thực hiện chốt chuyển giao chứng khoán theo từng giao dịch và tính toán kết quả thanh toán ròng tiền chưa được hiện thực hóa và việc thanh toán tiền thực chỉ được thực hiện khi NHNN chốt quyết toán thanh toán tiền vào cuối quy trình, như vậy cũng cần phải xây dựng các cơ chế quản lý rủi ro: về điều kiện thành viên, hạn mức trần nợ ròng tiền trong quyết toán; ký quỹ tài sản đảm bảo cho hạn mức nợ ròng tiền, tính đến cả việc phong tỏa chứng khoán được giao dịch; xây dựng quỹ để phòng ngừa rủi ro thành viên phá sản từ nguồn thu nhập thanh toán chứng khoán và nguồn tiền đóng góp của các thành viên tham gia thanh toán chứng khoán; cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các thành viên khi có thành viên không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán tiền.
Về phía NHNN, thực hiện nghĩa vụ cam kết thanh toán tiền qua tài khoản của các Ngân hàng thương mại là đại lý thanh toán chứng khoán mở tại NHNN và NHNN cần thực hiện cơ chế cho phép thấu chi trên tài khoản thanh toán của Ngân hàng đại lý tại NHNN với điều kiện ký quỹ đảm bảo theo quy định. Đặc biệt khi VSD đã thiết lập trần hạn mức nợ ròng cho hệ thống quyết toán chứng khoán DVP2, khi đó VSD có thể yêu cầu các thành viên ký quỹ riêng theo một tỷ lệ thích hợp cho việc quyết toán chứng khoán tại NHNN dựa trên trần hạn mức nợ ròng do VSD đặt ra, trong trường hợp cần thiết NHNN có thể cho phép thấu chi dành riêng cho việc quyết toán chứng khoán.
Khi hệ thống quyết toán hoàn thiện và hoạt động với hiệu suất cao, việc tăng số phiên quyết toán các giao dịch mua, bán chứng khoán trong ngày cũng là một trong những việc có thể làm giảm thiểu rủi ro thanh toán và giảm áp lực thanh khoản hệ thống trong ngày.
2.2. Chức năng xử lý kết quả quyết toán bù trừ từ các Hệ thống thanh toán bù trừ khác
Chức năng này sẽ nhận kết quả bù từ kết quả của Chức năng thanh toán giá trị thấp của hệ thống TTLNH và kết quả bù trừ đa phương từ các hệ thống thanh toán bù trừ khác để xử lý. Trên cơ sở kết quả bù từ đa phương nhận được, chức năng này sẽ tiến hành xử lý ghi nợ và ghi có vào tài khoản các thành viên tương ứng dựa trên nguyên tắc đủ số dư trên tài khoản trích nợ của thành viên. Đến thời điểm dịch vụ giá trị cao (RTGS) ngừng hoạt động, thành viên phải trả không đủ số dư trên tài khoản để trích nợ thì sẽ phải thực hiện các giải pháp bổ sung đủ số dư trên tài khoản theo quy định của NHNN.
Các bảng kết quả bù trừ đa phương đến trước xử lý trước, đến sau xử lý sau (FIFO), trừ trường hợp thành viên gửi có yêu cầu đảo hàng đợi.
(Còn nữa)
(CNTT theo Tạp chí THNH)