APEC 2017 – Cơ hội và động lực hợp tác phát triển
TS. Nguyễn Minh Phong1
ThS. Nguyễn Trần Minh Trí2
Là thành viên APEC từ 14/11/1998, Việt Nam đã và đang đóng góp hàng chục sáng kiến cho các lĩnh vực hợp tác khác nhau của APEC. Với tư cách nước chủ nhà APEC 2017, Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến và được các quốc gia thành viên đồng tình, trong đó có sáng kiến về tăng trưởng bao trùm (kinh tế, tài chính và xã hội) và xây dựng một cơ chế thảo luận về tầm nhìn APEC sau 2020. Hiện Việt Nam đang nỗ lực triển khai các hoạt động trong khuôn khổ kế hoạch APEC 2017 theo chủ đề “tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung” và nhận được từ đó những cơ hội và động lực tích cực cho hợp tác phát triển:
APEC 2017 - cơ hội thúc đẩy các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại
Với sự có mặt tại Việt Nam của các lãnh đạo quốc gia thành viên (trong Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, lãnh đạo cao nhất của Mỹ, Trung Quốc, Nga đều thăm chính thức Việt Nam), khoảng 1.200 lãnh đạo doanh nghiệp và hàng chục ngàn phóng viên báo chí, hãng truyền thông hàng đầu thế giới, APEC 2017 thực sự là sự hội tụ đỉnh cao và cơ hội vàng cho các hoạt động quảng bá, cung cấp thông tin thị trường, môi trường và chính sách kinh doanh, củng cố hình ảnh một nước Việt Nam năng động, cởi mở, mến khách và an ninh cao, với các chính sách thông thoáng về thương mại, đầu tư ngày càng phù hợp với chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi thúc đẩy doanh nghiệp Việt kết nối và phát triển chuỗi liên kết với các doanh nghiệp, đối tác ở trong và ngoài APEC, tăng thêm lòng tin và khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp APEC kinh doanh, đầu tư vào Việt Nam... giúp đa dạng hóa và phối hợp hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế cho quá trình hội nhập và phát triển
bền vững.
Trong chuỗi khoảng 300 các sự kiện diễn ra trong khuôn khổ APEC 2017, các hoạt động liên quan tới doanh nghiệp chiếm tới 50%. Điều này cho thấy tầm quan trọng và cơ hội lớn của APEC 2017 cho cộng đồng doanh nghiệp.
Cùng với các cuộc đối thoại bên lề về thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp Việt Nam và lãnh đạo các nền kinh tế APEC, Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam (VBS) là diễn đàn hợp tác quốc tế lớn nhất sẽ được tổ chức thường niên tại Việt Nam, bắt đầu từ năm nay, với chủ đề “Việt Nam - đối tác kinh doanh tin cậy”. Hội nghị sẽ thảo luận về 6 chủ đề, gồm Nông nghiệp bền vững và thông minh; Tài chính cho phát triển; Y tế và Giáo dục; Cơ sở hạ tầng; Đặc khu kinh tế; Khởi nghiệp và đổi mới - sáng tạo, kết hợp với triển lãm xúc tiến thương mại, đầu tư, có sự tham gia của đại diện 63 tỉnh (thành phố) cả nước. Những việc này sẽ giúp nhân đôi giá trị cho hoạt động của các doanh nghiệp tại diễn đàn APEC, cũng như giá trị của Việt Nam khi đăng cai APEC năm nay.
Cơ hội và động lực phát triển từ APEC đến từ xu hướng tăng cường hợp tác nội khối ngày càng toàn diện, trên cơ sở các nguyên tắc đồng thuận và linh hoạt phù hợp trong hoạt động của APEC
APEC là tập hợp lực lượng của 21 nền kinh tế khá đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hóa, về chế độ chính trị - xã hội và cũng chênh lệch về trình độ phát triển. Từ chỗ ban đầu hoạt động như là một nhóm đối thoại không chính thức, APEC đã dần dần trở thành một thực thể khu vực, tăng cường hợp tác nội khối trên cơ sở các nguyên tắc hợp tác đối thoại cởi mở, đồng thuận, bình đẳng, tự nguyện và cùng có lợi, giành ưu đãi chậm hơn 10 năm và hỗ trợ rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế, phản ánh mục đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong khu vực và trên thế giới.
Quán triệt các nguyên tắc đó, Việt Nam luôn đồng hành cùng các nước thành viên chủ động, tích cực khai thác các động lực liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ tăng trưởng, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu Bogo vào năm 2020 và định hình tương lai hợp tác sau năm 2020, tập trung vào những mục tiêu tăng trưởng bền vững, bao trùm, sáng tạo; thúc đẩy cải cách cơ cấu, tăng cường kết nối, phát triển các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ; phát triển con người và nâng cao năng lực thể chế, đặt người dân và doanh nghiệp ở trung tâm của sự phát triển; hướng tới việc hình thành Khu vực thương mại tự do toàn châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP) thực sự gắn kết cả về con người, hạ tầng cơ sở, công nghệ và thông tin, tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư tại các nền kinh tế APEC.
Thành lập từ năm 1989, hoạt động hợp tác nội khối APEC ngày càng tăng về quy mô, đa dạng về hình thức và lan rộng về phạm vi, trong những khuôn khổ thể chế ngày càng chặt chẽ hơn, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng cả trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại, đầu tư, ngân sách, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, du lịch, xúc tiến thuơng mại, vận tải và thông tin viễn thông, nghề cá và năng lượng, cũng như trong khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, tài nguyên biển và chống biến đổi khí hậu, chống khủng bố, cũng như trong quản lý cải cách cơ cấu, quy chế và tiêu chuẩn hóa, dịch chuyển thuận lợi và tự do con người, dịch vụ, đầu tư và nhiều lĩnh vực khác. Thương mại nội khối năm 2014 đạt 18,4 nghìn tỷ USD, tăng gấp 4 lần năm 1994; Thuế quan MFN trung bình trong khu vực APEC giảm từ 11% (năm 1996) xuống còn 5,5% vào năm 2014. Số lượng dòng hàng hưởng thuế suất 0% chiếm 45,4%. Số ngày thông quan hàng hóa đã giảm mạnh và lĩnh vực logistics được cải thiện. Trong giai đoạn 1996 - 2015, số lượng các FTA/RTA đi vào thực thi trong APEC tăng từ 22 lên 152, với 61 hiệp định được ký kết giữa các thành viên APEC. Ngoài ra, từ năm 2014, có 19/21 thành viên APEC đã chấp nhận Thẻ doanh nhân APEC (ABTC), theo đó các quan chức, doanh nghiệp các nước thành viên được cấp thị thực tự do đi lại từ 60 - 90 ngày.
Đặc biệt, Diễn đàn thường niên về Tài chính Toàn diện APEC liên tiếp trong 7 năm qua là một kênh hợp tác, đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm hữu ích giữa các nền kinh tế thành viên APEC với các bên đối tác trong bối cảnh tài chính toàn diện ngày càng có vai trò quan trọng góp phần xóa nghèo và phát triển bền vững. Chủ đề Diễn đàn năm 2017 là về định hướng tài chính toàn diện phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn; đây là một trong 4 nội dung hợp tác ưu tiên trong khuôn khổ Tiến trình hợp tác Bộ trưởng Tài chính APEC 2017, với sự tham gia của đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc NHNN; đại diện Văn phòng Chính phủ và các Bộ Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động và Thương binh - Xã hội, Thông tin và Truyền thông, Ngoại giao, Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, các cấp quản lý và chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tài chính toàn diện phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn; các chuyên gia, diễn giả đến từ các tổ chức quốc tế, Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính các quốc gia trên thế giới. Nội dung thảo luận của Diễn đàn năm nay bao gồm: (1) Việc xác định đúng đắn phạm trù tài chính toàn diện; thực trạng triển khai các ứng dụng kỹ thuật số trong lĩnh vực này; (2) Vai trò của tín dụng và các dịch vụ/sản phẩm tài chính trong hỗ trợ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn; (3) Triển vọng và các chính sách thúc đẩy các công nghệ mới trong dịch vụ tài chính; (4) Giáo dục tài chính góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của người dân trong tiết kiệm và đầu tư; (5) Tạo dựng môi trường phù hợp cho các sản phẩm và dịch vụ tài chính vi mô; (6) Phát triển bảo hiểm vi mô; (7) Chuỗi cung ứng tài chính trực tuyến: Thách thức và Yêu cầu chính sách; và (8) Phát triển định dạng số như một nhu cầu thiết yếu của phát triển. Các nội dung thảo luận, trao đổi tại Diễn đàn là đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam và các nước đang ở giai đoạn đầu tiếp cận tài chính toàn diện. Đây cũng chính là những nội dung do NHNN Việt Nam đề xuất hợp tác cho cả năm APEC 2017 ngay từ Hội nghị Thứ trưởng Bộ Tài chính và Phó Thống đốc NHTW các nền kinh tế APEC tổ chức vào tháng 2/2017 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Cũng trong khuôn khổ các sự kiện hợp tác tài chính - ngân hàng trong năm APEC 2017, NHNN đã phối hợp Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội nghị lần thứ 4 về Cải cách Cơ sở Hạ tầng Tài chính (FIDN) ngày 12/7/2017. Tiếp đó, ngày 20 và 21/10/2017, lãnh đạo các Bộ Tài chính và Ngân hàng Trung ương APEC đã nhất trí với 4 chủ đề sáng kiến trong tiến trình hợp tác tài chính APEC 2017 do Việt Nam đề xuất, gồm đầu tư dài hạn cho cơ sở hạ tầng; chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận; tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai; tài chính bao trùm.
Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC 2017 đã đánh dấu chặng đường hợp tác đầy sôi động và hiệu quả của Diễn đàn APEC. Tuyên bố chung của các Bộ trưởng Tài chính 21 nền kinh tế thành viên APEC về xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận được thông qua ngày 21/10/2017, tại TP. Hội An (Quảng Nam), đã khẳng định tầm quan trọng của các vấn đề xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS) đến các nền kinh tế thành viên APEC và sự cần thiết tăng cường hợp tác trong khu vực nhằm chia sẻ kinh nghiệm, cách tiếp cận và các thông lệ tốt nhất trong việc xây dựng chính sách, pháp luật và quản lý thuế, nhằm giải quyết những thách thức về BEPS trong khu vực, đồng thời nâng cao tính chắc chắn, minh bạch và công bằng của hệ thống thuế; hoan nghênh những nỗ lực của các nền kinh tế APEC trong việc xây dựng chương trình hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm về triển khai thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu BEPS và các hành động BEPS có liên quan khác, trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác thực hiện dự án BEPS trong khu vực APEC, được khởi xướng trong năm Chủ tịch của Việt Nam 2017; Đồng thời, cam kết sẽ tiếp tục những nỗ lực này trong năm Chủ tịch của Pa-pua Niu Ghi-nê 2018.
Nhìn chung, các cuộc họp ở cấp nhóm làm việc, họp quan chức cấp cao, và các cuộc họp cấp bộ trưởng trong khuôn khổ APEC 2017 đều diễn ra khá thuận lợi. Các bên đã thống nhất được nhiều vấn đề cơ bản, chủ yếu tập trung vào: Cải thiện tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, cải thiện khả năng tăng trưởng bao trùm và bền vững, cải thiện khả năng đổi mới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và cả câu chuyện về việc đảm bảo an ninh lương thực… Tất cả các sáng kiến đều sẽ được trình lên các nguyên thủ APEC để cho ý kiến chỉ đạo cuối cùng.
Cơ hội và động lực mạnh mẽ từ APEC được quy định bởi sự hội tụ trong cộng đồng các đối tác toàn diện và chiến lược quan trọng nhất của Việt Nam
APEC là nguồn động lực, cơ hội kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam phát triển, bởi APEC hiện chiếm 40% dân số, gần 60% GDP và 49% giao dịch thương mại toàn cầu; đặc biệt, chiếm 78% FDI, 75% kim ngạch thương mại, 79% du khách quốc tế và 80% du học sinh Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Trong APEC có tất cả các đối tác hàng đầu, từ nước là nguồn cung cấp ODA lớn nhất (Nhật Bản); nguồn cung cấp FDI lớn nhất (Hàn Quốc); thị trường xuất khẩu và xuất siêu lớn nhất (Hoa Kỳ) và cả thị trường nhập khẩu, nhập siêu lớn nhất của Việt Nam (Trung Quốc và Hàn Quốc).
Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 185 nước và quan hệ kinh tế - thương mại với trên 220 nước, vùng lãnh thổ; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực; trong đó có trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế; 65 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Ngoài WTO, Việt Nam đã ký 11 FTA, kết thúc đàm phán FTA với EU và đang đàm phán 6 FTA khác; qua đó, thiết lập quan hệ thị trường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế, trong đó có 15 quốc gia trong Nhóm G-20. Đặc biệt, 18/21 thành viên APEC hiện đã có các FTA với Việt Nam; Hơn nữa, có tới 13 thành viên APEC đang là đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện, trong tổng số 16 đối tác chiến lược và 11 đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã miễn visa du lịch cho 22 nước và 48 nước đã miễn visa du lịch cho Việt Nam.
Cơ hội và động lực từ APEC được hội tụ và lan tỏa từ quá trình đổi mới đồng bộ và phát triển các thể chế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh trong khuôn khổ cam kết hội nhập nói chung và trong APEC nói riêng của Việt Nam
Quá trình tham gia APEC cũng là quá trình Việt Nam ngày càng hoàn thiện các thể chế theo hướng cắt giảm các điều kiện và chi phí kinh doanh, hạn chế can thiệp hành chính trực tiếp của nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từng bước củng cố vị thế quốc tế và môi trường đối ngoại hòa bình, mở ra nhiều cơ hội hợp tác, kinh doanh và thị trường. Nói cách khác, đáp ứng các yêu cầu hội nhập, chủ động đổi mới toàn diện, vượt qua các thách thức bên ngoài và vượt qua chính mình theo định hướng phát triển bền vững vừa là mục tiêu, vừa là động lực và giải pháp để Việt Nam khẳng định mình và đồng hành thành công cùng APEC nói riêng, thế giới nói chung. Trên thực tế, Việt Nam đã ghi nhận được nhiều thành quả bước đầu tích cực, đặc biệt là tính chất tự do hóa kinh doanh và sự cạnh tranh bình đẳng thị trường đã được cải thiện mạnh mẽ.
Theo Báo cáo về Điều kiện Kinh doanh 2017 của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM) công bố, hiện cả nước có 7 ngành nghề, 5 dịch vụ và 19 hàng hóa cấm kinh doanh; 12 ngành nghề chỉ DNNN được kinh doanh; 1 dịch vụ, 7 hàng hóa hạn chế kinh doanh. Bên cạnh đó, có 243 ngành nghề, 69 dịch vụ, 23 hàng hóa kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Nghị định 94/2017/NĐ-CP, ban hành 10/08/2017, có hiệu lực 01/10/2017, hoạt động thương mại độc quyền Nhà nước chỉ còn giữ ở 20 lĩnh vực. Với 50 nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh được ban hành năm 2016, đã có 4.527 trên tổng số 4.723 thủ tục hành chính (gần 96%) đã được đơn giản hóa. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hiện vẫn còn tổng số 5.719 điều kiện kinh doanh (thường được gọi là giấy phép con); nhiều nhất là Bộ Công thương với 1.220 điều kiện kinh doanh cho 27 ngành nghề (ngày 20/9/2017, Bộ này đã ban hành Quyết định số 3610a/QĐ-BCT sẽ cắt giảm, đơn giản hóa 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh trong số này). Cơ chế một cửa quốc gia Việt Nam đã kết nối kỹ thuật thành công với 4 nước trong khu vực ASEAN. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017 - 2018 đã đưa Việt Nam lên hạng 55, tăng 5 bậc so với năm trước và 20 bậc so với cách đây 5 năm. Chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2017 của Việt Nam tăng 12 bậc và tăng 29 bậc so với năm 2013. Đồng thời, Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2017 cũng được Liên Hợp quốc xếp hạng tăng 20 bậc, lên mức 68/157 quốc gia, vùng lãnh thổ…
Sự phân nhiệm cụ thể và rõ ràng, sự phối hợp giữa các cơ quan cũng được tăng cường nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, với Nghị quyết 19-2017/NQ-CP
ngày 06/2/2017 đã chỉ rõ hơn 200 nhiệm vụ của bộ, ngành. Mỗi nhiệm vụ đều được Chính phủ giao cho đầu mối các bộ, ngành. Tương tự ở các địa phương thì Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đều giao đầu mối cho các sở, ban, ngành.
Đặc biệt, ngày 3/10/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 98/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Hội nghị TW 5 khóa XII; Theo đó, cả nước tiếp tục, rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ ít nhất từ 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh, các rào cản, quy định khác không cần thiết, bất hợp lý, nhằm giảm chi phí doanh nghiệp và mở rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng; tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng dự thảo Nghị định kiểm soát và nâng cao chất lượng điều kiện đầu tư kinh doanh, trình Chính phủ trong tháng 12/2017.
Thông điệp mạnh mẽ đã được Thủ tướng nhấn mạnh: Năm 2017 là năm giảm chi phí cho doanh nghiệp. Việt Nam đã, đang và cần tiếp tục nỗ lực đột phá thể chế, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động vì người dân, doanh nghiệp; đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tập trung tháo gỡ các rào cản về giấy phép con, lợi ích nhóm, chấm dứt tình trạng thờ ơ, nhũng nhiễu doanh nghiệp, phấn đấu tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân 6,5 - 7%/năm trong 2017 - 2020; đạt mục tiêu về môi trường kinh doanh đạt trung bình của nhóm nước ASEAN 4, mà Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 đặt ra.
Tham gia vào APEC, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế, cơ cấu kinh tế sẽ có sự chuyển dịch sâu sắc hơn theo hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, trước hết với các nước thành viên tham gia FTA với Việt Nam. Các nhóm hàng chủ lực xuất khẩu của Việt Nam sẽ đa dạng hơn. Các ngành du lịch, nông nghiệp, thủy, hải sản sẽ tiếp tục tăng trưởng thuận lợi. Nhóm ngành dệt may, giày dép và gạo có khả năng cạnh tranh nhờ giảm hàng rào thuế quan và mua được nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sản xuất. Quá trình tái cơ cấu các DNNN và các ngân hàng thương mại sẽ đẩy mạnh hơn. Các hoạt động M&A cũng được thúc đẩy cả bề rộng và bề sâu, nhất là trong lĩnh vực bất động sản; sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng; ngân hàng và cả dệt may, chế tạo cơ khí… Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nhất là xuất khẩu.
Cùng với mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính, cùng với những rủi ro và chi phí cao hơn về các hàng rào kỹ thuật và yêu cầu cao hơn về năng lực tài chính, cơ chế quản trị nội bộ. Nợ xấu và hàng tồn kho những sản phẩm kém cạnh tranh hoặc thiếu đổi mới công nghệ, thiếu thân thiện với môi trường và với con người… sẽ còn là gánh nặng với không ít doanh nghiệp kém năng động. Quy tắc xuất xứ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chặt chẽ sẽ là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam đang phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài, đồng thời, khiến gia tăng các chi phí, giảm cơ hội cải thiện thu nhập và khả năng cải thiện quy trình sản xuất vốn lạc hậu của nhiều ngành sản xuất trong nước. Các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường và lao động sẽ tăng chi phí sản xuất của các
doanh nghiệp.
Tham gia vào APEC, Việt Nam cũng đứng trước nhiều áp lực phải đẩy nhanh các hoạt động cải cách đồng bộ nhằm đáp ứng các chuẩn mực nền kinh tế thị trường, trong đó có yêu cầu về chuyển đổi đồng tiền, các quyền thỏa thuận mức lương lao động, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, quyền kiểm soát nhà nước đối với các tư liệu sản xuất và sự phân bổ các nguồn lực; nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ cấu sản phẩm và trình độ công nghệ lạc hậu; các doanh nghiệp nhà nước trì trệ, chậm đổi mới mô hình tổ chức và trang thiết bị, công nghệ và cả năng lực quản trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; trọng dụng người hiền tài và đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, phát huy dân chủ; phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao tỉ lệ nội địa hóa nguồn cung cấp nguyên liệu; kiểm soát tốt an toàn tài chính vĩ mô, nợ công, nợ xấu, sở hữu chéo và điều tiết dòng tín dụng; giữ vững, củng cố và khai thác động lực lòng tin cho quá trình cải cách và phát triển đất nước và doanh nghiệp; đa dạng hóa và giảm dần sự phát triển phụ thuộc vào vốn và vào tăng trưởng từ nguồn lao động giá rẻ, tăng trưởng nhờ qua đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đặc biệt, tham gia hội nhập cùng APEC và thế giới còn đòi hỏi toàn thể hệ thống chính trị, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong đổi mới tư duy, xây dựng chuẩn giá trị quốc gia và chủ thuyết phát triển thích hợp với thực tiễn; khích lệ tinh thần khởi nghiệp, bản lĩnh và quyết tâm đổi mới và phát triển; tăng cường bảo vệ lợi ích quốc gia, kiểm soát và không để lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ chi phối chính sách và quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đời sống chính trị đất nước...
1 Phó Vụ trưởng – Phó Ban Tuyên truyền lý luận – Báo Nhân dân
2 Viện Kinh tế và Chính trị thế giới – Viện HLKHXHVN