Theo báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) về tình hình chi tiêu tài khóa toàn cầu, nợ toàn cầu đã tăng lên mức báo động, đòi hỏi các nước phải tranh thủ những điều kiện thuận lợi hiện nay để củng cố nguồn thu nhằm duy trì ổn định tài chính quốc gia.
Báo cáo nêu rõ, nợ toàn cầu đang tăng cao nhất trong lịch sử từ trước đến nay, đạt mức kỷ lục 164 nghìn tỷ USD vào năm 2016, tương đương 225% GDP, tăng khoảng 12% GDP so với đỉnh cao đạt được vào năm 2009, trong đó nợ nần tại Trung Quốc tăng khá nhanh (xem bảng dưới đây).
Tỷ lệ nợ công giai đoạn 2015-2023 (% so GDP)
|
Thực tế |
Dự báo |
|||||||
|
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
Tỷ lệ nợ gộp |
|||||||||
Thế giới |
80,0 |
83,1 |
82,4 |
82,1 |
81,9 |
81,6 |
81,3 |
81,0 |
80,6 |
Các nước phát triển |
104,4 |
106,9 |
105,4 |
103,9 |
103,1 |
102,4 |
101,7 |
101,2 |
100,4 |
Mỹ |
105,3 |
107,2 |
107,8 |
108,0 |
109,4 |
111,3 |
111,1 |
115,2 |
116,9 |
Khu vực euro |
89,9 |
88,9 |
86,6 |
84,2 |
81,7 |
79,3 |
76,8 |
74,3 |
71,7 |
CH Pháp |
95,8 |
96,6 |
97,0 |
96,3 |
96,2 |
95,1 |
93,6 |
91,6 |
89,0 |
CHLB Đức |
71,0 |
68,2 |
64,1 |
59,8 |
55,7 |
52,2 |
48,7 |
45,5 |
42,4 |
Italia |
131,5 |
132,0 |
131,5 |
129,7 |
127,5 |
124,9 |
122,1 |
119,3 |
116,6 |
Tây Ban Nha |
99,4 |
99,0 |
98,4 |
96,7 |
95,1 |
93,9 |
92,8 |
91,8 |
90,9 |
Nhật Bản |
231,3 |
235,6 |
236,4 |
236,0 |
234,2 |
232,3 |
231,4 |
230,7 |
229,6 |
VQ Anh |
88,2 |
88,2 |
87,0 |
86,3 |
85,9 |
85,2 |
84,5 |
83,6 |
82,5 |
Canada |
90,5 |
91,1 |
89,7 |
86,6 |
83,8 |
81,2 |
78,7 |
76,4 |
74,3 |
Các nước mới nổi * |
44,0 |
47,0 |
49,0 |
51,2 |
52,9 |
54,3 |
55,6 |
56,7 |
57,6 |
Không kể nước SX dầu ** |
46,0 |
48,6 |
50,6 |
52,6 |
54,3 |
55,7 |
57,0 |
58,2 |
59,2 |
Các nước châu Á |
44,8 |
47,2 |
50,1 |
52,3 |
54,5 |
56,6 |
58,5 |
60,1 |
61,6 |
Trung Quốc |
41,1 |
44,3 |
47,8 |
51,2 |
54,4 |
57,6 |
60,5 |
63,1 |
65,5 |
Ấn Độ |
69,6 |
68,9 |
70,2 |
68,9 |
67,3 |
65,8 |
64,3 |
62,9 |
61,4 |
Các nước châu Âu |
30,9 |
32,1 |
31,8 |
32,1 |
32,5 |
32,6 |
32,5 |
32,4 |
32,2 |
CHLB Nga |
15,9 |
15,7 |
17,4 |
18,7 |
19,5 |
19,9 |
20,0 |
20,1 |
20,4 |
Mỹ Latinh |
55,5 |
59,0 |
61,8 |
66,4 |
67,4 |
67,9 |
68,3 |
68,4 |
68,4 |
Brazil |
76,2 |
78,4 |
84,0 |
87,3 |
90,2 |
92,7 |
94,6 |
95,7 |
96,3 |
Mêhicô |
52,9 |
56,8 |
54,2 |
53,5 |
53,4 |
53,4 |
53,3 |
53,3 |
53,3 |
MENAP |
33,7 |
41,1 |
40,3 |
42,5 |
43,3 |
43,0 |
42,6 |
41,7 |
41,3 |
Arập Xê út |
5,8 |
13,1 |
17,3 |
20,0 |
23,8 |
26,0 |
27,1 |
27,6 |
29,4 |
CH Nam Phi |
49,3 |
51,6 |
52,7 |
54,9 |
55,7 |
56,4 |
57,0 |
57,6 |
58,1 |
Các nước thu nhập thấp |
38,0 |
40,8 |
44,3 |
45,5 |
44,9 |
44,1 |
53,5 |
42,8 |
41,9 |
Nigeria |
16,0 |
19,6 |
23,4 |
26,8 |
27,4 |
27,3 |
27,8 |
28,1 |
28,3 |
Các nước sản xuất dầu |
39,7 |
43,3 |
43,2 |
45,2 |
45,2 |
44,7 |
44,2 |
43,6 |
43,0 |
Tỷ lệ nợ ròng |
|||||||||
Thế giới |
66,6 |
69,2 |
68,5 |
67,9 |
67,7 |
67,4 |
67,2 |
67,0 |
66,5 |
Các nước phát triển |
75,7 |
77,3 |
76,3 |
75,0 |
74,5 |
74,1 |
73,7 |
73,5 |
73,0 |
Mỹ |
80,5 |
81,5 |
82,3 |
81,4 |
82,7 |
84,4 |
86,3 |
88,4 |
90,2 |
Khu vực euro |
73,9 |
73,2 |
71,0 |
68,9 |
66,9 |
64,9 |
62,9 |
60,7 |
58,6 |
CH Pháp |
86,5 |
87,5 |
87,7 |
87,0 |
86,9 |
85,8 |
84,3 |
82,3 |
79,7 |
CHLB Đức |
51,2 |
48,5 |
45,1 |
51,5 |
38,1 |
35,1 |
32,3 |
29,7 |
27,2 |
Italia |
119,5 |
120,2 |
119,9 |
118,5 |
116,5 |
114,1 |
111,6 |
109,0 |
106,5 |
Tây Ban Nha |
85,7 |
86,5 |
86,3 |
85,2 |
84,0 |
83,2 |
82,4 |
81,8 |
81,3 |
Nhật Bản |
147,6 |
152,8 |
153,0 |
152,6 |
150,8 |
148,9 |
148,1 |
147,4 |
146,3 |
VQ Anh |
79,6 |
79,1 |
78,2 |
77,4 |
77,0 |
76,2 |
75,6 |
74,7 |
73,6 |
Canada |
27,7 |
28,5 |
27,8 |
27,4 |
26,6 |
25,7 |
24,9 |
24,1 |
23,5 |
Các nước mới nổi * |
28,4 |
34,4 |
35,9 |
38,1 |
39,5 |
40,7 |
41,7 |
42,3 |
43,0 |
Các nước châu Âu |
28,7 |
31,4 |
30,6 |
31,1 |
31,2 |
31,1 |
31,0 |
30,9 |
31,4 |
Mỹ Latinh |
35,2 |
40,9 |
43,3 |
45,2 |
47,2 |
49,1 |
50,7 |
51,9 |
52,7 |
Các nước MENAP |
15,2 |
28,6 |
29,0 |
34,6 |
36,8 |
37,9 |
39,2 |
39,8 |
40,7 |
Nguồn: IMF tháng 4/2018
(*): Kể cả các nước thu nhập trung bình;
(**): Các nước sản xuất dầu MENAP (bao gồm: Trung Đông, Bắc Phi, Pakistan).
Trong tổng nợ toàn cầu, nợ công chiếm tỷ trọng áp đảo, nhưng khả năng cải thiện rất chậm chạp. Nợ công tăng cao phản ánh tình trạng suy thoái kinh tế do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và phản ứng chính sách, cũng như ảnh hưởng của xu hướng giảm giá cả hàng hóa vào năm 2014 và chi tiêu tăng cao tại nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là các nước mới nổi và thu nhập thấp. Tại các nước phát triển, tỷ lệ nợ công hiện nay không thay đổi đáng kể sau khi tăng lên trên 105% GDP vào năm 2012 - mức cao nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai - và dự báo chỉ giảm nhẹ trong giai đoạn trung hạn. Trong năm 2017, nợ công tại các nước mới nổi và thu nhập trung bình đã tăng lên tỷ lệ gần 50% GDP, và dự báo sẽ tiếp tục tăng. Tại các nước thu nhập thấp, tỷ lệ nợ công cũng tăng lên trên 40% GDP vào năm 2017, tăng 10% kể từ năm 2012, và rất khó giảm trong giai đoạn trung hạn. Mặc dù gánh nặng nợ công tại các nước thu nhập thấp đã giảm xuống dưới mức kỷ lục trong lịch sử, nhưng chủ yếu là do biện pháp xóa nợ và cơ cấu lại các khoản nợ.
Trong năm 2017, số nước phát triển có tỷ lệ nợ công trên 85% GDP đã tăng gấp ba lần kể từ năm 2000 lên trên 1/3 trong nhóm quốc gia này; 1/5 số nước mới nổi và thu nhập trung bình có tỷ lệ nợ công trên 70% GDP, tương tự tỷ lệ nợ công trong những năm sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997; 1/5 số nước thu nhập thấp có tỷ lệ nợ công trên 60% GDP, không thay đổi đáng kể so với năm 2012. Một số nước đang đối mặt với nguy cơ vỡ nợ hoặc phải cơ cấu lại nợ, bao gồm CH Côngô, Chad, Mozambique, Sudan.
Nếu tính cả những khoản nợ liên quan đến chi tiêu y tế và hưu trí, tỷ lệ nợ công còn cao hơn nhiều. Trong trường hợp này, tỷ lệ nợ công so GDP tại các nước phát triển tăng gấp hai lần lên 204% GDP, tăng lên 112% GDP tại các nước mới nổi và thu nhập trung bình, tăng 80% tại các nước thu nhập thấp.
Mặc dù điều kiện tài chính toàn cầu khá thuận lợi, nhưng nợ nần tăng cao đang làm tăng chi phí lãi vay, nhất là tại các nước thu nhập thấp. Trong năm 2017, chi phí lãi suất phải trả tại nhóm quốc gia này đã chiếm 18% trong tổng mức thuế thu được và chiếm 9% trong tổng chi ngân sách. Thậm chí, chi phí lãi suất chiếm tới 30% tổng mức thu thế trong năm 2017 tại một số nước như Ghana, Nigeria.
Các chuyên gia cho rằng, nợ công và thâm hụt tài khóa tăng cao đang trở thành vấn đề đáng lo ngại. Trong đó, những nước có tỷ lệ nợ cao rất dễ bị tổn thương trước những cú sốc bất ngờ, nhất là khi các nước phát triển bình thường hóa chính sách tiền tệ và thắt chặt điều kiện tài chính, khả năng tiếp cận các thị trường tài chính thế giới sẽ trở nên khó khăn. Nợ nần tăng cao cũng cản trở các nỗ lực quốc gia trong việc thực hiện các giải pháp tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong trường hợp khó khăn.
Vào thời điểm hiện nay, khi GDP toàn cầu tăng cao và khá bền vững, các nước cần nỗ lực củng cố nền tài khóa, cải thiện cán cân ngân sách quốc gia, và kiềm chế nợ công. Cụ thể là, các nước cần có giải pháp quyết liệt nhằm củng cố nền tài khóa, tận dụng cơ hội GDP tăng cao theo chu kỳ hiện nay, tăng cường năng lực tài khóa để đề phòng tình huống khó khăn, hạn chế rủi ro bắt nguồn từ xu hướng thắt chặt tài khóa toàn cầu. Về tổng thể, các nước nên duy trì cơ chế ổn định tài khóa tự động (thu thế và chi tiêu phải đồng bộ với thu nhập và việc làm), đồng thời cần triệt để cắt giảm thâm hụt tài khóa dựa trên mục tiêu đề ra trong giai đoạn trung hạn.
Các nhà hoạch định chính sách cần đưa ra quy mô và tốc độ điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế tại mỗi nước, không để gây thêm gánh nặng cho nền kinh tế. Tại những nước có GDP tăng gần mức tăng trưởng tiềm năng, việc thực hiện các biện pháp điều chỉnh tài khóa nhìn chung gặp nhiều thuận lợi. Tại những nước có nền tài khóa hạn chế, cần thực hiện các giải pháp kiềm chế rủi ro tài khóa, dựa trên chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trung hạn, các nước xuất khẩu hàng hóa cần tiếp tục điều chỉnh để chi tiêu phù hợp với triển vọng thu nhập trong giai đoạn trung hạn, các nước thu nhập thấp cần hình thành dư địa ngân sách để thực hiện các chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng thông qua các kế hoạch cổ vũ nguồn thu, hợp lý hóa các khoản chi tiêu, và cải thiện hiệu quả chi tiêu.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 4/2018