Trong báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) về triển vọng kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các chuyên gia nhận định, GDP tại châu Á tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới, nhưng lạm phát lại tăng thấp so với hầu hết các nước và khu vực khác trên thế giới.
Cụ thể là, sau khi tăng 3,8% trong năm 2017 và là mức tăng cao nhất kể từ năm 2011, kinh tế toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng 3,9% trong hai năm 2018-2019, chủ yếu nhờ động lượng tăng trưởng bền vững tại hầu hết các quốc gia và chương trình tài khóa mở rộng tại Mỹ. Trên toàn cầu, lạm phát cơ bản được dự báo tiếp tục tăng cao, mặc dù lạm phát lõi còn khá trầm lắng. Trái lại, kinh tế châu Á năm 2018-2019 tiếp tục tăng cao (5,6%), nhưng lạm phát cơ bản được dự báo sẽ không tăng, thậm chí các chuyên gia IMF phải điều chỉnh giảm tại một số nước. Tại nhiều nước châu Á, lạm phát lõi vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Trong ba năm 2017-2019, lạm phát tại các nước phát triển châu Á chỉ tăng 1,0%; 1,4%; và 1,5%; trong khi lạm phát trung bình tại các nước phát triển trên toàn cầu là 1,7%; 2,0%; và 1,9%. Tương tự, lạm phát tại các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) châu Á trong giai đoạn 2017-2019 là 2,4%; 3,3%; và 3,3%; thấp hơn nhiều so với mức lạm phát trung bình tại các EMDE toàn cầu (4,0%; 4,6%; và 4,3%).
Chỉ số lạm phát tại châu Á (% so với năm trước)
|
Kết quả và dự báo |
Thay đổi* |
|||||
|
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2017 |
2018 |
2019 |
Châu Á |
2,3 |
2,1 |
2,9 |
2,9 |
-0,2 |
0,1 |
0,0 |
Các nền kinh tế phát triển |
0,5 |
1,0 |
1,4 |
1,5 |
0,0 |
0,2 |
-0,1 |
Australia |
1,3 |
2,0 |
2,2 |
2,4 |
0,0 |
0,1 |
-0,1 |
New Zealand |
0,6 |
1,9 |
1,7 |
2,1 |
-0,4 |
-0,3 |
0,0 |
Nhật Bản |
-0,1 |
0,5 |
1,1 |
1,1 |
0,1 |
0,6 |
0,0 |
Hồng Kông |
2,4 |
1,5 |
2,2 |
2,1 |
-0,5 |
0,0 |
-0,3 |
Hàn Quốc |
1,0 |
1,9 |
1,7 |
1,9 |
0,0 |
-0,2 |
0,0 |
Đài Loan |
1,4 |
0,6 |
1,3 |
1,3 |
-0,4 |
-0,1 |
-0,2 |
Singapore |
-0,5 |
0,6 |
1,2 |
1,0 |
-0,3 |
-0,1 |
-0,6 |
Các EMDE ** |
2,8 |
2,4 |
3,3 |
3,3 |
-0,2 |
0,1 |
0,0 |
Bangladesh |
5,7 |
5,7 |
6,0 |
6,0 |
0,0 |
0,2 |
0,5 |
Brunei Darussalam |
-0,7 |
-0,1 |
0,1 |
0,3 |
0,0 |
0,1 |
0,2 |
Camphuchia |
3,0 |
2,9 |
3,3 |
3,2 |
-0,8 |
-0,2 |
0,0 |
Trung Quốc |
2,0 |
1,6 |
2,5 |
2,6 |
-0,2 |
0,1 |
0,1 |
Ấn Độ |
4,5 |
3,6 |
5,0 |
5,0 |
-0,2 |
0,1 |
0,1 |
Indonesia |
3,5 |
3,8 |
3,5 |
3,4 |
-0,2 |
-0,4 |
-0,4 |
Lào |
1,6 |
0,8 |
2,3 |
3,1 |
-1,5 |
-0,4 |
0,0 |
Malaysia |
2,1 |
3,8 |
3,3 |
2,4 |
0,0 |
0,3 |
-0,6 |
Myanmar |
6,8 |
5,1 |
5,5 |
5,8 |
-1,4 |
-0,7 |
-0,7 |
Mông Cổ |
0,6 |
4,6 |
6,4 |
6,8 |
0,3 |
0,3 |
1,0 |
Nepal |
9,9 |
4,5 |
6,0 |
5,8 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Philippines |
1,8 |
3,2 |
4,2 |
3,8 |
0,1 |
1,2 |
0,8 |
Sri Lanka |
4,0 |
6,5 |
4,8 |
4,8 |
0,5 |
-0,2 |
-0,2 |
Thái Land |
0,2 |
0,7 |
1,4 |
0,7 |
0,1 |
0,4 |
-0,9 |
Việt Nam |
2,7 |
3,5 |
3,8 |
4,0 |
-0,8 |
-0,2 |
0,0 |
Các quốc đảo và nước nhỏ |
4,0 |
3,8 |
2,8 |
2,7 |
-0,4 |
-1,4 |
-1,4 |
Các nước ASEAN |
2,4 |
3,0 |
3,2 |
2,9 |
-0,2 |
0,0 |
-0,3 |
ASEAN 5 *** |
2,2 |
2,9 |
3,0 |
2,7 |
-0,1 |
0,1 |
-0,4 |
Nguồn: IMF tháng 5/2018
(*): Tăng giảm so với dự báo tháng10/2017;
(**): Không kể các quốc đảo và nước nhỏ;
(***): Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Land.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng lạm phát thấp là do những tác động tạm thời, đặc biệt là lạm phát nhập khẩu. Kết quả ước lượng dựa trên đường Phillips cho thấy, giá cả hàng hóa nhập khẩu ở mức thấp đóng góp tới 50% vào mục tiêu lạm phát tại các nước phát triển và phần lớn các nước mới nổi tại châu Á trong những năm gần đây. Hơn nữa, diễn biến kinh tế tại Trung Quốc có tác động đáng kể đến xu hướng lạm phát toàn cầu và khu vực. Nói tổng quát, kết quả phân tích về các yếu tố tạm thời và xu hướng lạm phát cho thấy, các cú sốc tạm thời gây tác động rất lớn đến xu hướng lạm phát tăng thấp tại châu Á trong thời gian qua.
Tại châu Á, lạm phát thực tế có xu hướng giảm dần, trong khi lạm phát kỳ vọng tương đối ổn định, nhất là tại các nước phát triển và những nước áp dụng khung lạm phát mục tiêu. Trong những năm gần đây, lạm phát thực tế không diễn ra như kỳ vọng, đây là diễn biến khác thường so với trước đây. Vì thế, những cú sốc về lạm phát sẽ gây rủi ro rất lớn, thậm chí dẫn đến lạm phát cao trong thời gian kéo dài.
Trong tương lai, lạm phát tại châu Á được dự báo sẽ tăng dần, khi giá cả hàng hóa và những yếu tố tạm thời sẽ gây tác động đảo ngược. Trong đó, lạm phát tăng cao tại các nước và khu vực khác trên thế giới cũng như xu hướng mất giá bản tệ trong khu vực có thể khiến rủi ro lạm phát tăng cao. Nếu những rủi ro này trở thành hiện thực, thời kỳ lạm phát cao có thể kéo dài, chi phí chống lạm phát có thể tăng rất cao.
Kết quả phân tích cho thấy, lạm phát thấp do giá hàng hóa nhập khẩu tăng chậm cũng có mối liên hệ với xu hướng trì trệ trong ngành chế tạo tại Trung Quốc, Nhật Bản, và Hoa Kỳ. So với dự báo tháng 10/2017, các chuyên gia IMF đã điều chỉnh nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2018-2019 tại Trung Quốc, và điều này sẽ gây áp lực tăng lạm phát tại châu Á. Ngoài ra, các nền kinh tế châu Á rất dễ bị tổn thương trước diễn biến của chu kỳ giá cả hàng hóa và xu hướng cạnh tranh toàn cầu, và lạm phát thấp trong thời gian qua chủ yếu là do xu hướng giảm thấp của giá cả các mặt hàng nhập khẩu. Nếu lạm phát tại Mỹ và giá cả hàng hóa tăng cao, lạm phát tại châu Á sẽ tăng rõ rệt, các nước châu Á sẽ phải cắt giảm nhu cầu chi tiêu trong nước nhằm kiềm chế và đưa lạm phát giảm về tỷ lệ mục tiêu đề ra.
Các chuyên gia IMF khuyến nghị, các ngân hàng trung ương (NHTW) tại châu Á cần tỉnh táo và kịp thời phản ứng trước những tín hiệu về áp lực lạm phát, trong đó có nhiều yếu tố mang tính toàn cầu. Một khi lạm phát tăng đột ngột, thời kỳ lạm phát cao có thể kéo dài, và chi phí xử lý lạm phát sẻ rất lớn, nhất là trong trường hợp lạm phát không còn nhạy cảm với tình trạng thất nghiệp. Các NHTW cần củng cố khung khổ chính sách tiền tệ và tăng cường dự địa chính sách, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, qua đó sẽ nâng cao vai trò của công tác dự báo trong việc dẫn dắt lạm phát và tăng dần mức độ phù hợp giữa các kỳ vọng lạm phát và mục tiêu lạm phát đề ra. Để hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu, tỷ giá được coi là công cụ điều chỉnh linh hoạt nhất. Điều này đòi hỏi các NHTW phải tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá, qua đó sẽ tránh được tác động của lạm phát nhập khẩu đến thị trường trong nước. Trong những năm tới, chương trình cải cách thuế sẽ làm chi tiêu, lạm phát tại Mỹ được dự báo sẽ tăng cao do GDP tại Mỹ sẽ tăng trên tốc độ tăng trưởng tiềm năng. Trong bối cảnh đó, các nước châu Á cần tăng cường tính độc lập về chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế áp lực lạm phát bắt nguồn từ Mỹ.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 5/2018