Ngày 13/11/2018, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố dữ liệu thống kê về tình hình nợ nước ngoài và dòng vốn vào 121 quốc gia thu nhập thấp và trung bình.
Dữ liệu thống kê bao gồm: (i) Cơ cấu vay nợ: Nợ công và nợ do chính phủ bảo lãnh, nợ của khu vực tư nhân; nợ tư nhân không có bảo lãnh; (ii) Về bên cho vay: Cho vay chính thức song phương và đa phương, tín dụng tư nhân; (iii) Các khoản tín dụng và điều kiện cho vay. Ngoài ra, bộ dữ liệu còn cung cấp thông tin về các chỉ số nợ, được xác định theo các biến số kinh tế vĩ mô, bao gồm tổng thu nhập quốc gia (GNI) và thu nhập từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ.
Dữ liệu cho thấy, các dòng vốn ròng (nợ và cổ phần) vào các nước thu nhập thấp và trung bình đã lên tới 1,1 nghìn tỷ USD, tăng 61% so với năm 2016, mức cao nhất trong ba năm qua, chủ yếu là nợ vay. Mức nợ ròng này chiếm 4% GNI, tăng khá cao từ tỷ trọng 2,7% trong năm 2016, nhưng thấp xa tỷ trọng 6,9% trong năm 2010. Đà phục hồi về các dòng vốn ròng được dẫn dắt bởi dòng vốn vào ròng (nợ ròng: các khoản vay đã giải ngân trừ đi tiền gốc đã thanh toán) với tốc độ tăng khá nhanh lên 607 tỷ USD, gấp trên ba lần từ 181 tỷ USD trong năm 2016, lần đầu tiên vượt dòng tiền ròng để đầu tư mua cổ phiếu kể từ năm 2013. Đóng góp vào kết quả tăng này là xu hướng gia tăng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Với giá trị 511 tỷ USD trong năm 2017, dòng vốn mua cổ phần không thay đổi đáng kể so với năm trước, nhưng tỷ trọng giảm xuống 46% trong tổng mức nợ ròng từ tỷ trọng 74% trong năm 2016. Nguyên nhân là do danh mục đầu tư cổ phiếu tăng cao đã bù đắp xu hướng suy giảm hai năm liên tiếp của dòng vốn FDI. Trong năm 2017, dòng vốn FDI giảm 3% xuống 454 tỷ USD từ 470 tỷ USD trong năm 2016, chủ yếu là do dòng vốn FDI vào Trung Quốc giảm 14%. Trái lại, danh mục dòng vốn vào để mua cổ phiếu tăng 29% so với năm trước lên 57 tỷ USD, góp phần bù đắp sự suy giảm dòng vốn FDI và duy trì ổn định dòng vốn mua cổ phần. Trong đó, Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về xu hướng tăng nợ nần và dòng vốn mua cổ phiếu, chiếm 55% tổng nợ ròng và 34% đầu tư ròng để mua cổ phiếu trong nhóm các nước đang phát triển trong năm 2017. Nếu không tính Trung Quốc, dòng vốn FDI vào các nước thu nhập thấp và trung bình chỉ tăng trung bình 2,0%, riêng dòng vốn FDI vào các nước nghèo tăng 13% trong năm 2017. So với năm trước, danh mục dòng vốn đầu tư ròng để mua cổ phiếu trong năm 2017 tăng 29% lên 57 tỷ USD, chủ yếu vào Trung Quốc, Mêhicô và CH Nam Phi.
Trong năm 2017, tổng dư nợ nước ngoài tại các nước thu nhập thấp và trung bình tăng 10% lên 7,1 nghìn tỷ USD, trong khi năm 2016 chỉ tăng 4%. Kết quả tăng này bắt nguồn từ dòng nợ ròng 607 tỷ USD và các động thái điều chỉnh tỷ giá so với USD, mặc dù những ngoại tệ khác chiếm khoảng 50% nợ nước ngoài tại nhóm quốc gia này. Trong khi nợ dài hạn chỉ tăng 7%, nợ ngắn hạn tăng cao nhất với mức tăng 19% (297 tỷ USD trong năm 2017), sau khi dòng vốn ra 532 tỷ USD trong hai năm 2015-2016, đưa tổng dư nợ ngắn hạn ròng trong năm 2017 tăng nhẹ lên 26% (trong tổng nợ nước ngoài) so với năm trước. Trong số này, nợ nước ngoài tại Trung Quốc chiếm gần ¼ trong tổng dư nợ nước ngoài tại nhóm các nước thu nhập thấp và trung bình. Nếu không tính Trung Quốc, dư nợ nước ngoài kỳ hạn ngắn tại các nước thu nhập thấp và trung bình tăng kỷ lục 9% so với năm 2016.
Về cơ bản, nợ dài hạn không thay đổi nhiều so với năm 2016, mặc dù có sự khác biệt giữa nợ khu vực công và nợ tư nhân, riêng nợ công tăng nhẹ lên 53% từ tỷ trọng 50% trong năm 2016. Tương tự, giữa các quốc gia và khu vực cũng có sự khác biệt đáng kể về tình trạng nợ nước ngoài. Cao nhất là tổng dư nợ tại các nước khu vực cận Sahara với mức tăng trung bình 15,5%; thấp nhất là dư nợ nước ngoài tại Châu Âu và các nước Mỹ Latinh - Caribê với mức tăng 2,5% trong năm 2017.
So với năm 2014, nợ dài hạn trong năm 2017 tăng 58% lên 309 tỷ USD, chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu mới và dòng vốn của người không cư trú đã mua trái phiếu do chính phủ phát hành trong nước. Trong năm 2017, lượng trái phiếu mới phát hành đã lập kỷ lục 355 tỷ USD, đẩy tổng nợ ròng lên 262 tỷ USD (chiếm 85% nợ dài hạn ròng), tăng gần ba lần so với năm 2016. Tỷ trọng còn lại 15% là nợ theo các hiệp định song phương và nợ đa phương.
Trong khi gánh nặng nợ nước ngoài vẫn khiêm tốn và ít thay đổi so với năm 2016, nhưng 31% số nước thu nhập thấp và trung bình có tỷ lệ nợ nước ngoài trên 60% GNI vào cuối năm 2017 (tăng gấp hai lần về số lượng quốc gia so với năm 2008, bao gồm 11 nước có tỷ trọng nợ so GNI trên 100%), và 45% số nước thu nhập thấp và trung bình có tỷ lệ nợ nước ngoài vượt quá 150% GNI (năm 2008 chiếm 24% số quốc gia), và 29 quốc gia có mức nợ trên 200% GNI. Theo chỉ số trung bình, nợ chứng khoán quốc tế tăng 10% trong năm 2017, một số nước có mức tăng rất cao. Trong năm 2017, tỷ trọng nợ so GNI và thu nhập xuất khẩu tại các nước thu nhập thấp và trung bình lần lượt tăng 25% và 102% (giảm 3% từ tỷ lệ 105% trong năm 2016), một số nước có mức tăng quá cao.
Trong năm 2017, các tổ chức công tại các nước nghèo tiếp tục gia tăng vay nợ nước ngoài, bất chấp những lo ngại về tính bền vững của các khoản nợ. Tuy nhiên, tổng các khoản cho vay theo cam kết của Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) dành cho các nước nghèo chỉ vào khoảng 43 tỷ USD; trong đó, gần 25% là cho vay từ khu vực tư nhân thông qua phát hành trái phiếu trên các thị trường vốn quốc tế và các khoản tín dụng liên kết giữa các ngân hàng thương mại. Các khoản cho vay chính thức được phân bổ đều giữa tín dụng song phương và đa phương, chủ yếu là tín dụng ưu đãi.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: WB tháng 11/2018