TỔNG HỢP KIẾN NGHỊ CỬ TRI TẠI KỲ HỌP THỨ 7, QH14
LIÊN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1. Thời gian qua, chi phí đầu tư trong sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu, điện,… đều tăng nhưng giá cả cây trồng chủ lực như cà phê, tiêu,… liên tục xuống thấp, có nhiều nơi cây tiêu chết hàng loạt dẫn đến người dân mất thu nhập, không có khả năng trả nợ vay ngân hàng. Nhằm giảm bớt khó khăn cho người vay, giúp họ duy trì và khôi phục sản xuất, kiến nghị NHNN có cơ chế, xem xét, chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, cho khoanh nợ, đáo hạn trả nợ cho người vay được thuận lợi hơn. (Cử tri tỉnh Đăk Lăk)
Trả lời:
Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn của NHNN số 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015 và 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018, đã quy định nhiều chính sách hỗ trợ xử lý nợ khi khách hàng (trong đó có hộ dân sản xuất nông nghiệp như trồng tiêu, cà phê…) gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh, xem xét miễn, giảm lãi vay, khoanh nợ,...
Thời gian qua, trước tình hình khó khăn của người dân trồng hồ tiêu tại một số tỉnh Tây Nguyên, NHNN đã làm việc với UBND tỉnh có thiệt hại lớn nhất tại khu vực Tây Nguyên1 về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người trồng tiêu, đồng thời NHNN cũng đã có văn bản2 chỉ đạo các TCTD thống kê dư nợ cho vay, dư nợ thiệt hại, phân tích làm rõ nguyên nhân bị thiệt hại và triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn theo quy định của pháp luật như cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, xem xét cho vay mới nhằm giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất,…
Đến cuối tháng 5/2019 dư nợ thiệt hại do hồ tiêu chết tại khu vực Tây Nguyên là 2.636 tỷ đồng, chiếm 21,8% tổng dư nợ cho vay hồ tiêu tại khu vực Tây Nguyên. Thực hiện chỉ đạo của NHNN, đến nay các TCTD xem xét, áp dụng các biện pháp hỗ trợ khách hàng vay vốn trồng hồ tiêu tại khu vực Tây Nguyên thông qua các biện pháp như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ 383,6 tỷ đồng; miễn, giảm lãi vay đối với 237 tỷ đồng dư nợ; cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh 531 tỷ đồng; khoanh nợ tại NHCSXH 122 triệu đồng. Riêng tại tỉnh Đăk Lăk, dư nợ thiệt hại do cây hồ tiêu chết là 356 tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng dư nợ cho vay hồ tiêu của tỉnh; các TCTD đã thực hiện hỗ trợ người dân trồng hồ tiêu tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk thông qua các biện pháp như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ 23 tỷ đồng, cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh 6,8 tỷ đồng.
2. Đề nghị có chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù ngành nông nghiệp. (Cử tri tỉnh Đăk Nông)
Trả lời:
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành Ngân hàng luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong các lĩnh vực ưu tiên đầu tư vốn tín dụng và đã triển khai nhiều giải pháp, chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù ngành, lĩnh vực này. Cụ thể:
- Trình Chính phủ ban hành chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và thường xuyên sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với nhu cầu vốn, đặc thù của lĩnh vực nông nghiệp (Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010, sau đó là được thay thế bởi Nghị định 55/2015/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP) với nhiều giải pháp, chính sách về cho vay không có tài sản bảo đảm, chính sách khuyến khích liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, chính sách xử lý rủi ro đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng, chính sách giảm lãi suất đối với khách hàng mua bảo hiểm trong nông nghiệp…
- Quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn từ 1%-2% lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, đồng thời triển khai nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ các TCTD mở rộng tín dụng nông nghiệp, nông thôn, như: thực hiện chính sách hỗ trợ về nguồn vốn cho các TCTD có tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn từ 40% trở lên (tái cấp vốn, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc).
- Chỉ đạo các TCTD3 chủ động cân đối nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và triển khai nhiều chương trình tín dụng đặc thù góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân đầu tư phát triển một số mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam như lúa gạo, thủy sản, cà phê...: cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP của Chính phủ; cho vay hỗ trợ ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu phục vụ khai thác hải sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg; triển khai các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH...
Việc đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các giải pháp, chính sách trên đã tạo điều kiện để đầu tư tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt kết quả tích cực. Đến cuối tháng 5/2019, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn toàn quốc đạt trên 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 4,74% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng khoảng 25% dư nợ tín dụng nền kinh tế; trong đó dư nợ nông nghiệp, nông thôn tại tỉnh Đăk Nông đạt 22.519 tỷ đồng (chiếm 85,02% dư nợ của tỉnh Đăk Nông).
3. Cử tri đề nghị Nhà nước quan tâm chỉ đạo ngành Ngân hàng có chính sách giãn nợ và tiếp tục cho các hộ chăn nuôi lợn vay vốn để tái đàn sau dập dịch và chuyển đổi mô hình chăn nuôi. (Cử tri tỉnh Hà Nam).
Trả lời:
Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn của NHNN số 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015 và 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018, đã quy định các chính sách hỗ trợ xử lý rủi ro trong trường hợp khách hàng (gồm các hộ dân chăn nuôi lợn) gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ) và giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh, xem xét miễn, giảm lãi vay, khoanh nợ, …
Thời gian qua, trước ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi tới người chăn nuôi lợn, NHNN đã kịp thời có các văn bản số 1692/NHNN-TD ngày 14/3/2019, số 1901/NHNN-TD ngày 21/3/2019, 4666/NHNN-TD ngày 19/6/2019 chỉ đạo các TCTD, NHNN chi nhánh 63 tỉnh, thành phố nắm sát diễn biến dịch trên địa bàn, chủ động rà soát, tổng hợp thiệt hại của khách hàng để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng theo thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, tiếp tục cho vay mới khôi phục sản xuất,…, đặc biệt là đối với các cơ sở nuôi giữ, cung cấp con giống phát triển sản xuất sau khi dịch bệnh được khống chế theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 18/6/2019 của Chính phủ; tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố các biện pháp xử lý rủi ro (khoanh nợ) theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018.
Đến cuối tháng 6/2019, dư nợ cho vay ngành chăn nuôi lợn toàn quốc đạt khoảng 53.360 tỷ đồng4; dư nợ bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi là 1.697 tỷ đồng (trong đó chủ yếu là dư nợ cho vay nuôi lợn bị thiệt hại). Thực hiện chỉ đạo của NHNN, đến nay các TCTD đã hỗ trợ người chăn nuôi lợn tại các tỉnh/thành phố đang có dịch tổng số tiền 760,65 tỷ đồng thông qua các biện pháp: cơ cấu lại thời hạn trả nợ 144,5 tỷ đồng; miễn, giảm lãi vay đối với 71,9 tỷ đồng dư nợ; cho vay mới phục hồi sản xuất kinh doanh 488,3 tỷ đồng; biện pháp khác (ưu tiên thu gốc trước, lãi sau…) 56 tỷ đồng. Riêng tại tỉnh Hà Nam, hiện nay dư nợ cho vay ngành chăn nuôi đạt 2.292 tỷ đồng, dư nợ bị thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi là 66,59 tỷ đồng; các TCTD trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hỗ trợ ngành chăn nuôi lợn thông qua các biện pháp: cơ cấu lại thời hạn trả nợ 33,23 tỷ đồng, miễn giảm lãi vay 9,64 tỷ đồng, cho vay mới khôi phục sản xuất 127,56 tỷ đồng.
Như vậy có thể thấy, NHNN đã chủ động có các văn bản chỉ đạo hệ thống ngân hàng triển khai kịp thời nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế.
4. Đề nghị xem xét hỗ trợ lãi suất vay cho chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp vì người dân rất khó khăn khi phải gánh chịu hậu quả các đợt dịch bệnh của gia súc, gia cầm, hiện nay đang là dịch tả lợn Châu Phi. (Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc).
Trả lời:
Đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp, nông thôn, NHNN đã có chính sách quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng Việt Nam đồng thấp hơn từ 1%-2% lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, hiện nay là 6,5%/năm.
Bên cạnh đó, để phù hợp với đặc thù rủi ro của lĩnh vực nông nghiệp (dễ bị ảnh hưởng bởi các đợt thiên tai, dịch bệnh liên tiếp), Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP; đồng thời, NHNN cũng đã ban hành Thông tư 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015, Thông tư 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018 hướng dẫn thực hiện Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Nghị định 116/2018/NĐ-CP, trong đó quy định về các chính sách hỗ trợ xử lý rủi ro khi khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng, như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh, xem xét miễn, giảm lãi vay, khoanh nợ,….
Riêng đối với người dân vay vốn bị ảnh hưởng do dịch tả lợn Châu Phi vừa qua, NHNN đã có các văn bản số 1692/NHNN-TD ngày 14/3/2019, số 1901/NHNN-TD ngày 21/3/2019 và số 4666/NHNN-TD ngày 19/6/2019 chỉ đạo các TCTD, NHNN chi nhánh 63 tỉnh, thành phố nắm sát diễn biến dịch trên địa bàn, chủ động rà soát, tổng hợp thiệt hại của khách hàng để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng theo thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, tiếp tục cho vay mới khôi phục sản xuất,…; tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố các biện pháp xử lý rủi ro (khoanh nợ) theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018.
Đến cuối tháng 5/2019 dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn toàn quốc đạt trên 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 4,74% so với cuối năm 2018; trong đó dư nợ cho vay ngành chăn nuôi đạt 244.715 tỷ đồng. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 17.630 tỷ đồng, cho vay chăn nuôi lợn đạt 1.822 tỷ đồng; đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi, hiện nay dư nợ bị thiệt hại trên địa bàn tỉnh sơ bộ khoảng 36,5 tỷ đồng, chiếm 2% dư nợ cho vay chăn nuôi lợn; Các TCTD đã thực hiện miễn giảm lãi vay 3,4 tỷ đồng và đang tiếp tục rà soát dư nợ thiệt hại của người chăn nuôi lợn để áp dụng các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi theo chỉ đạo của NHNN.
5. Cử tri kiến nghị NHNN xem xét, hướng dẫn cách xử lý nợ vay trong khoảng thời gian từ khi tàu gặp nạn trên biển cho đến khi các cơ quan chức năng xác định hướng xử lý đối với tàu cá có vay vốn đóng mới, nâng cấp theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP gặp thiên tai sự cố trên biển, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho địa phương. (Cử tri tỉnh Kiên Giang)
Trả lời:
Hiện nay, để hỗ trợ ngư dân vay vốn đóng mới, nâng cấp tàu cá khai thác hải sản xa bờ, Chính phủ đã cho phép thực hiện cơ chế xử lý rủi ro đối với khoản cho vay đóng mới, nâng cấp tàu do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng (khoản 2 Điều 4 Nghị định số 67/2014/NĐ-CP) như sau:
- Trường hợp tàu vẫn có thể sửa chữa để hoạt động, ngân hàng thương mại thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng trong thời gian sửa chữa tàu, chủ tàu tiếp tục được hưởng hỗ trợ lãi suất. Công ty bảo hiểm thanh toán toàn bộ chi phí sửa tàu.
- Trường hợp tàu không thể sử dụng khai thác được, ngân hàng thương mại xử lý nợ theo thứ tự:
+ Tài sản đã mua bảo hiểm thì xử lý theo hợp đồng bảo hiểm.
+ Sử dụng khoản dự phòng ngân hàng đã trích lập để bù đắp chi phí.
+ Trường hợp đã xử lý như trên nhưng vẫn chưa thu hồi đủ nợ gốc, ngân hàng thương mại báo cáo NHNN để trình Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xử lý từng trường hợp cụ thể.
Khi tàu gặp nạn cần sự vào cuộc khẩn trương của các cơ quan chức năng như: ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, bộ chỉ huy bộ đội biên phòng, chi cục thủy sản, công ty bảo hiểm,..., đặc biệt là các cấp chính quyền địa phương để thực hiện bước xác nhận rủi ro, xác định thiệt hại, phạm vi bảo hiểm,... cho ngư dân, làm cơ sở để các ngân hàng thực hiện các bước xử lý rủi ro theo quy định.
1 Tỉnh Gia Lai.
2 văn bản số 141a/TB-NHNN ngày 21/5/2019; số 4241/NHNN-TD ngày 04/6/2019.
3 Các Chỉ thị hằng năm của NHNN
4 Chăn nuôi lợn 38.497 tỷ đồng, Thức ăn chăn nuôi 14.077 tỷ đồng, Thuốc thú y 786 tỷ đồng