Ngân hàng dễ thở hơn với tỷ lệ LDR mới
Một trong những quy định đáng chú ý tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đó là từ ngày 1/1/2020 tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa ở mức 85%. Theo quy định cũ tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN, LDR tối đa của nhóm NHTM là 90%; NHTMCP, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là 80%. Phóng viên Thời báo Ngân hàng đã trao đổi với ông Lê Quang Trung - Phó Tổng giám đốc VIB để hiểu rõ hơn thay đổi trên tác động thế nào đến các NHTM?
Ông có thể cho biết, tầm quan trọng của chỉ số này đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng?
Hiện nay Việt Nam là một trong ít nước vẫn còn sử dụng tỷ lệ LDR. Mục tiêu chính duy trì chỉ số này là quản lý thanh khoản tốt hơn. Theo quy định tại Thông tư 36 của NHNN, các NHTMCP huy động được 100 đồng chỉ được sử dụng cho vay 80 đồng, còn 20 đồng phải để dự trữ thanh khoản. Thông thường 20 đồng đó các ngân hàng mua TPCP – tài sản có tính thanh khoản cao để dự trữ thanh khoản. Trong trường hợp xấu nhất, các ngân hàng có thể lấy tài sản đó bán ra để lấy tiền trả các nghĩa vụ nợ; hoặc có thể chiết khấu với NHNN trên thị trường OMO để lấy tiền mặt trả nghĩa vụ nợ. Như vậy, có thể thấy mục tiêu quan trọng nhất của tỷ lệ LDR là đảm bảo thanh khoản.
Vậy, thay đổi trên tác động thế nào đối với các NHTMCP và vì sao NHNN lại điều chỉnh tỷ lệ LDR vào thời điểm này, thưa ông?
Tỷ lệ LDR dao động từ 80-85% là mức tốt nhất để ngân hàng tạo ra lợi nhuận. Việc NHNN nới lỏng tỷ lệ LDR từ 80% lên 85% giúp cho các ngân hàng dễ thở hơn, được cho vay nhiều hơn trên số vốn đã huy động nên giảm áp lực huy động vốn trên thị trường 1. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay quyết định tăng thêm 5% tỷ lệ LDR cho các NHTMCP là vô cùng hợp lý. Một mặt làm giảm áp lực cạnh tranh huy động vốn trên thị trường 1. Mặt khác các NHTM có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế tốt hơn với lãi suất có thể thấp hơn. Mặc dù cho vay cao đồng nghĩa với rủi ro thanh khoản cao lên, nhưng trong bối cảnh hầu hết các NHTW trên thế giới đang nới lỏng tiền tệ, Việt Nam không thể thực thi chính sách tiền tệ riêng lẻ được, mà nên theo xu thế chung. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam phải tham gia sâu rộng, mà tuỳ sẽ theo tình hình thực tế nước ta.
Việc giảm 5% tỷ lệ LDR của các NHTM Nhà nước có ảnh hưởng đến dòng vốn vào nền kinh tế không, thưa ông?
Theo tôi, trước đây họ đóng vai trò trụ cột cung ứng vốn cho nền kinh tế nhưng hiện tại vai trò này cũng đã được các NHTMCP san sẻ bớt. Thời gian qua, quy mô tín dụng của các NHTMCP tăng lên rất nhanh. Trong nhóm top 5 thậm chí là top 3 đã có bóng dáng NHTMCP, mà thu từ tín dụng vẫn chiếm chủ yếu trong lợi nhuận ngân hàng. Nên theo quan điểm của tôi, việc san sẻ tỷ lệ này tại các NHTM Nhà nước sẽ không ảnh hưởng đến số lượng vốn chảy vào nền kinh tế. Nó tiếp tục tăng đều với sự bổ sung thêm từ khối NHTMCP.
Quay lại câu chuyện quản trị thanh khoản, theo ông có phải đây là một trong những mục tiêu chính mà tại Thông tư 22, NHNN tiếp tục siết chặt hơn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn, cho vay trung dài hạn?
Đúng vậy, vì chênh lệch kỳ hạn trong thời gian dài dễ dẫn đến mất cân đối dòng tiền, ảnh hưởng đến thanh khoản. Có thể việc giảm tỷ lệ này ảnh hưởng đến lợi nhuận của hệ thống ngân hàng. Vì ngân hàng huy động càng ngắn thì lãi suất càng thấp, trong khi cho vay ra thì kỳ hạn càng dài lãi suất lại càng cao. Theo đó, giúp ngân hàng tối ưu hoá lợi nhuận tốt nhất. Song không có gì là miễn phí, các ngân hàng muốn tăng quản trị thanh khoản đồng nghĩa với việc họ phải bỏ ra khoản chi phí để phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, việc giảm dần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn theo lộ trình 3 năm như vậy, theo tôi là hợp lý. Và tôi nghĩ rằng, với diễn biến như thời gian qua, các ngân hàng cũng sẽ đáp ứng được yêu cầu của NHNN theo lộ trình.
Xin cảm ơn ông!
Hà Thành thực hiện