Đại dịch Covid-19 đã buộc các quốc gia phải triển khai các chính sách tài khóa chưa từng có với quy mô lên đến 11 nghìn tỷ USD trên phạm vi toàn cầu. Trước tình trạng dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp, ưu tiên số một vẫn là bảo đảm sức khỏe người dân, trong khi duy trì các chính sách tài khóa hỗ trợ linh hoạt, và chuẩn bị cho quá trình thay đổi hoàn toàn nền kinh tế.
Trước sự sụt giảm nghiêm trọng của sản lượng toàn cầu, một chính sách tài khóa quy mô lớn là cần thiết để nâng cao năng lực y tế, bù đắp tổn thất về thu nhập của hộ gia đình và ngăn chặn nguy cơ phá sản quy trên mô lớn. Tuy nhiên, các chính sách này cũng dẫn đến hệ quả là góp phần tăng nợ công toàn cầu lên mức kỷ lục được lịch sử ghi nhận, vượt trên 100% GDP toàn cầu, cao hơn đỉnh điểm của giai đoạn hậu Chiến tranh Thế giới thứ II.
Chính sách tài khóa cho mở cửa dần sau “Đại Phong tỏa”
Các biện pháp tài khóa sẽ vẫn còn cần thiết khi thế giới chưa hoàn toàn ra khỏi khủng hoảng. Gần như cùng lúc, nhiều nước vẫn do dự trong việc thoát ra khỏi cuộc “Đại Phong tỏa”, khi mà thiếu vắng một giải pháp cho cuộc khủng hoảng y tế, thì hướng đi cho quá trình phục hồi tiếp tục mờ mịt.
Trong bối cảnh đó, ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo đảm sức khỏe cộng đồng. Các chính sách để giảm bớt rủi ro về y tế sẽ góp phần đáng kể lấy lại niềm tin và sự tự tin, từ đó giúp phục hồi các hoạt động kinh tế, tạo việc làm và giảm những căng thẳng về tài chính công. Trong tương lai, các quy trình ngăn chặn sớm với mục tiêu cụ thể sẽ có chi phí hạn chế hơn nhiều so với việc đóng cửa toàn bộ. Các dữ liệu chính xác, kịp thời, toàn diện về tình hình y tế và các kết quả kinh tế - xã hội có vai trò rất quan trọng để kiểm soát và ứng phó nhanh trước các nguy cơ bùng phát dịch bệnh, qua đó, tạo cho người dân sự tự tin về việc có thể giải quyết những làn sóng lây nhiễm mới.
Thứ hai, chính sách tài khóa cần tiếp tục linh hoạt và mang tính hỗ trợ cho đến khi một lối thoát an toàn và bền vững khỏi khủng hoảng được đảm bảo. Trong một kịch bản bất lợi, nợ công có thể tăng cao hơn, việc cắt giảm các biện pháp tài khóa sớm hơn so với cảnh báo có nguy cơ làm gián đoạn quá trình phục hồi, với những chi phí lớn hơn trong tương lai. Các nhà hoạch định chính sách sẽ cần chuẩn bị các kế hoạch dự phòng có thể được điều chỉnh linh hoạt nhằm giải quyết các vấn đề về sức khỏe, rủi ro kinh tế và tài chính nếu dịch bệnh tái bùng phát. Ngoài ra, để ngăn chặn sự chậm trễ trong chuyển giao các hỗ trợ mục tiêu, một cơ chế tự ổn định tài khóa thế hệ mới có thể cần thiết.
Thứ ba, khủng khoảng có thể sẽ biến đổi. Nhiều việc làm đã bị mất trong khủng hoảng và có thể sẽ không phục hồi trở lại. Do đó, việc cần thiết là phải hỗ trợ sự chuyển giao các nguồn lực từ những lĩnh vực bị thu hẹp trong dài hạn như vận tải hàng không, sang các lĩnh vực có thể tiếp tục phát triển như các dịch vụ số hóa. Các hỗ trợ cũng cần chuyển từ duy trì việc làm sang giúp người lao động được đào tạo lại hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phải xác định và phân biệt được các doanh nghiệp thiếu thanh khoản nhưng có khả năng trả nợ với các doanh nghiệp bị mất khả năng trả nợ. Các chính phủ có thể cần triển khai các biện pháp mạnh hơn, như sử dụng trái phiếu có thể chuyển đổi, mua cổ phần các doanh nghiệp có vai trò chiến lược và tầm quan trọng hệ thống. Nhiều quốc gia cũng sẽ cần có hành động nhanh và quyết tâm cải thiện cơ chế pháp lý cho xử lý tình trạng nợ xấu quá mức và ngăn chặn nguy cơ đe dọa đến kinh tế trong dài hạn.
Duy trì nợ ở mức ổn định
Sự cần thiết của việc tiếp tục các chính sách tài khóa là rõ ràng, nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi làm thế nào để có thể cung cấp tài chính cho các hỗ trợ mà không khiến cho tình trạng nợ trở nên bất ổn. Các dự báo thâm hụt tài khóa trong năm 2020 tại các nền kinh tế phát triển (Aes) hiện đã cao gấp 5 lần so với mức dự báo trong Báo cáo triển vọng kinh tế tháng 1/2020. Trong khi tại các nền kinh tế thị trường mới nổi (EMEs), dự báo mới cũng cao gấp đôi. Tỷ lệ nợ công so với GDP tại các quốc gia cũng tăng vọt ở mức chưa từng thấy, với tỷ lệ 131,2% tại AEs và 63,1% tại EMEs.
Nhiều chính phủ sẽ được hưởng lợi nhờ chi phí vay vốn đang ở mức thấp kỷ lục và dự báo sẽ duy trì trong thời gian dài khi khủng hoảng làm giảm nhu cầu đầu tư và gia tăng tiết kiệm dự phòng rủi ro. Hơn nữa, với việc các nền kinh tế được cho là sẽ vận hành dưới tiềm năng, các áp lực lạm phát duy trì mức thấp khiến cho các NHTW sẽ không cần phải tăng lãi suất. Do đó, nợ công được kỳ vọng sẽ ổn định trong năm 2021 (không bao gồm Hoa Kỳ và Trung Quốc), được hỗ trợ bởi các mức lãi suất thấp cùng sự phục hồi mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế.
Tuy nhiên, sự cẩn trọng là cần thiết bởi có sự khác biệt lớn về mức độ và năng lực tài chính giữa các nước, cùng với sự không chắc chắn trong các dự đoán. Chi phí vay có thể tăng nhanh, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi và các thị trường biên giới. Đối với các nước rơi vào khủng hoảng khi nợ đã ở mức cao và tăng trưởng thấp thì việc đảm bảo một lộ trình quay lại với các cân bằng tài khóa bền vững là vấn đề then chốt. Các chính phủ sẽ cần theo đuổi một kế hoạch tài khóa đáng tin cậy trong trung hạn dựa trên việc cải thiện doanh thu- bao gồm thông qua giảm thiểu tình trạng trốn thuế, áp dụng thuế suất lũy tiến cao hơn trong một số trường hợp, định giá carbon và chi tiêu hiệu quả hơn (ví dụ, bỏ trợ giá nhiên liệu hóa thạch). Truyền thông minh bạch về các kế hoạch sẽ giúp kiềm chế bất ổn tiềm tàng trên các thị trường nợ công trong quá trình chuyển đổi. Ngoài ra, các tổ chức quốc tế phải đảm bảo việc tiếp cận với các nguồn thanh khoản quốc tế sẽ không bị gián đoạn bởi chính những tâm lý hoảng loạn trên thị trường.
Cộng đồng quốc tế cũng cần đảm bảo nhóm các nước đang phát triển có thu nhập thấp (LIDCs) - đang bị thiếu hụt nguồn lực hỗ trợ cho hệ thống chăm sóc sức khỏe và duy trì cuộc sống- có thể tiếp cận với nguồn tài chính ưu đãi và trong một số trường hợp là các khoản viện trợ. Hiện nay, 72 quốc gia đã nhận được các khoản hỗ trợ khẩn cấp từ IMF, nhưng vẫn cần nhiều hơn các hỗ trợ song phương và đa phương. Các quốc gia nghèo hơn có thể tiếp tục cần được giảm nợ, bao gồm thông qua sáng kiến giãn nợ của G20.
Các chính sách tài khóa hậu Covid-19
Một khi vắc xin và các phương pháp hiệu quả để điều trị Covid-19 được phổ biến rộng rãi, thế giới sẽ bước vào giai đoạn hậu Covid và thực sự thoát khỏi cuộc “Đại phong tỏa”. Nhưng điều này chỉ thực sự khả thi nếu có sự thống nhất toàn cầu trong việc cho phép tất cả người dân tại các nước phát triển và đang phát triển được tiếp cận như nhau với các phương pháp điều trị và vắc xin. Tại giai đoạn đó, các chính phủ sẽ cần chuyển hướng chính sách tài khóa theo hướng tăng trưởng bền vững, toàn diện và có sức chống chịu tốt.
Các nhà hoạch định chính sách cần giải quyết vấn đề gia tăng tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng, cũng như các điểm yếu về cơ cấu do khủng hoảng gây ra để chuẩn bị tốt hơn trước những cú shock trong tương lai. Việc này bao gồm tăng cường đầu tư vào các hệ thống y tế mạnh hơn, các mạng lưới an sinh xã hội với nguồn lực tốt hơn, và vào lĩnh vực số hóa. Các cơ quan chức năng cần chủ động hỗ trợ các hoạt động đầu tư thân thiện với môi trường giúp tăng trưởng xanh, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới. Chính sách tài khóa cũng cần khắc phục bất bình đẳng thông qua chi tiêu hướng tới phổ cập tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và các hệ thống thuế lũy tiến.
Việc dự đoán một cách chính xác hình ảnh thế giới hậu Covid-19 như nào là điều không thể, nhưng một điều chắc chắn là quá trình biến đổi sẽ rất sâu sắc. Cho dù tương lai có như thế nào, nó cũng sẽ đòi hỏi các chính sách tài khóa phải linh hoạt để tạo thuận lợi cho sự thay đổi về cấu trúc, giải quyết bất bình đẳng và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang tương lai xanh hơn.
MHN (theo IMFBlog)