CÁC KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN LIÊN QUAN ĐẾN CHO VAY NHÀ Ở XÃ HỘI; TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH; GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN VỐN, ĐẨY LÙI TÍN DỤNG ĐEN
I- Liên quan đến cho vay nhà ở xã hội (cử tri thành phố Hồ Chí Minh)
1. Đề nghị NHNN quy định tiền gửi tiết kiệm tại NHCSXH cũng được hưởng lãi suất tiết kiệm bằng với mức lãi suất tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại, đối với các khoản tiền gửi trên 12 tháng, để khuyến khích đối tượng thụ hưởng nhà ở xã hội tham gia, tạo thêm nguồn lực thực hiện chính sách nhà ở xã hội.
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật, cơ chế tài chính của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện theo Quyết định số 180/2002/QĐ-TTg ngày 19/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 62/2016/TT-BTC ngày 15/4/2016 của Bộ Tài chính. Theo đó nguyên tắc lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm của NHCSXH không được vượt quá mức lãi suất huy động cao nhất cùng kỳ hạn, cùng thời điểm của 4 ngân hàng gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam trên cùng địa bàn (tiết b, điểm 3.2, khoản 3 Điều 5, Thông tư 62).
Ngoài ra, theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội: “Khách hàng là hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội phải thực hiện việc gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Chính sách xã hội hàng tháng, với thời gian tối thiểu 12 tháng và mức gửi theo quy định của bên cho vay.” (Khoản 5 Điều 13); “Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng hướng dẫn cụ thể về cơ chế huy động tiết kiệm và các nội dung liên quan đến cho vay ưu đãi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.” (Khoản 3 Điều 18).
Căn cứ quy định nêu trên, việc quy định lãi suất tiền gửi tiết kiệm đối với các đối tượng thụ hưởng nhà ở xã hội thuộc thẩm quyền của NHCSXH đảm bảo nguyên tắc quy định tại Thông tư 62/2016/TT-BTC và không vượt quá lãi suất huy động của 4 Ngân hàng thương mại Nhà nước. Theo đó, trên cơ sở cân đối các nguồn lực và tình hình thực tiễn, NHCSXH đã ban hành Quyết định về lãi suất tiền gửi tiết kiệm của hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn mua, thuê mua nhà ở xã hội tại NHCSXH, hiện là 4,8%/năm, bằng lãi suất cho vay theo chương trình1.
2. Đề nghị xem xét ấn định mức gửi tiết kiệm nhà ở xã hội cố định hàng tháng, có thể ở mức không quá 1 triệu đồng/tháng, để dễ thực hiện và phù hợp với khả năng tài chính của người có thu nhập thấp đô thị.
Trả lời:
Tại Khoản 2 Điều 74 Luật nhà ở năm 2014 quy định: “Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm của hộ gia đình, cá nhân trong nước có nhu cầu mua, thuê mua nhà ở xã hội để cho các đối tượng này vay với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay dài hạn sau một thời gian gửi tiết kiệm nhất định.”
Tại Khoản 5 Điều 13 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định: “Khách hàng là hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội phải thực hiện việc gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Chính sách xã hội hàng tháng, với thời gian tối thiểu 12 tháng và mức gửi theo quy định của bên cho vay.”
Tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: “Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng hướng dẫn cụ thể về cơ chế huy động tiết kiệm và các nội dung liên quan đến cho vay ưu đãi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.”
Căn cứ quy định trên, Ngân hàng Chính sách xã hội đã ban hành văn bản hướng dẫn cho vay số 2526/NHCS-TDSV ngày 27/7/2016, theo đó: khách hàng phải thực hiện gửi tiết kiệm hằng tháng tại NHCSXH với thời gian gửi tối thiểu 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng với NHCSXH và mức gửi hằng tháng tối thiếu bằng mức trả nợ hằng tháng của người vay vốn.
Việc quy định số tiền tiết kiệm hằng tháng được NHCSXH tính toán dựa trên nhu cầu, số tiền vay, thời gian vay, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng cân đối nguồn vốn cho vay và đảm bảo được tính linh hoạt, hiệu quả của chính sách này.
3. Đề nghị thống nhất lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội tại NHCSXH và tại các ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank. Về lâu dài, khi nền kinh tế phát triển mạnh hơn, Hiệp hội kiến nghị thực hiện mức lãi suất ưu đãi vay mua nhà ở xã hội từ 3-3,5%/ năm để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người có thu nhập thấp đô thị.
Trả lời:
- Điều 4 Thông tư 11/2013/TT-NHNN hướng dẫn TCTD cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02 (Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ) quy định mức lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở của TCTD đối với khách hàng được NHNN công bố hàng năm, bằng khoảng 50% lãi suất cho vay bình quân của các TCTD trên thị trường nhưng không vượt quá 6%/năm.
- Nghị định 100/2015/NĐ-CP (Nghị định 100) về quản lý và phát triển nhà ở xã hội quy định:
+ Đối với NHCSXH, lãi suất vay vốn ưu đãi để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH cho từng thời kỳ (điểm a Khoản 7 Điều 15, điểm a Khoản 5 Điều 16).
+ Đối với TCTD do Nhà nước chỉ định: (i) Lãi suất vay vốn ưu đãi để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội do NHNN xác định và công bố trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc không vượt quá 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng trên thị trường trong cùng thời kỳ (điểm b Khoản 7 Điều 15). (ii) Lãi suất vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của NHNN cho từng thời kỳ và không vượt quá 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng trên thị trường (điểm b Khoản 5 Điều 16 và Khoản 2 Điều 17).
Do đó, không thể đồng nhất mức lãi suất ưu đãi nhà ở xã hội. Mức lãi suất cho vay ưu đãi đối với Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng, hiện ở mức 5%/năm; Mức lãi suất ưu đãi nhà ở xã hội tại NHCSXH hiện nay là 4,8%/năm và tại các TCTD được chỉ định là 5%/năm (riêng lãi suất đối với khách hàng vay vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê là 4,5%/năm2) phù hợp với quy định và thực tế nêu trên.
Việc NHNN ban hành và trình Thủ tướng Chính phủ các mức lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở thời gian qua đã bám sát chủ trương chỉ đạo của Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở, nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp và phù hợp với diễn biến lãi suất cho vay trên thị trường theo nguyên tắc lãi suất cho vay không vượt quá 50% lãi suất cho vay trung dài hạn bình quân của các ngân hàng; mức lãi suất cho vay ưu đãi thể hiện sự chia sẻ trách nhiệm tài chính giữa Nhà nước, các TCTD được chỉ định với khách hàng vay là các đối tượng khó khăn về nhà ở và có thu nhập thấp; sự tương đồng về lãi suất giữa các chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở (Chương trình hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng và Nghị định 100). Trong thời gian tới, NHNN sẽ theo dõi sát diễn biến mặt bằng lãi suất thị trường, mục tiêu điều hành CSTT và quy định pháp lý nêu trên để ban hành/trình Thủ tướng Chính phủ ban hành lãi suất cho vay ưu đãi mua nhà ở xã hội trong năm 2021 và các năm tiếp theo.
4. Đề nghị mở rộng cho các ngân hàng thương mại do Ngân hàng Nhà nước chỉ định cũng được nhận tiền gửi tiết kiệm nhà ở xã hội.
Trả lời:
Về thống nhất chính sách tiết kiệm nhà ở xã hội:
- Khoản 2 Điều 74 Luật nhà ở năm 2014 quy định: “Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm của hộ gia đình, cá nhân trong nước có nhu cầu mua, thuê mua nhà ở xã hội để cho các đối tượng này vay với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay dài hạn sau một thời gian gửi tiết kiệm nhất định”.
- Khoản 5 Điều 13 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định: “Khách hàng là hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội phải thực hiện việc gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Chính sách xã hội hàng tháng, với thời gian tối thiểu 12 tháng và mức gửi theo quy định của bên cho vay.”
- Điểm b khoản 1 Điều 17 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: “Căn cứ vào kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt hàng năm, ngân sách nhà nước cấp 50% nguồn vốn; Ngân hàng Chính sách xã hội đáp ứng 50% nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm của người vay, vốn huy động; ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định để cho vay đối với các đối tượng tại Khoản 1 Điều 16 của Nghị định này”
- Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: “Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng hướng dẫn cụ thể về cơ chế huy động tiết kiệm và các nội dung liên quan đến cho vay ưu đãi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.”
Theo các quy định nêu trên, chỉ khi khách hàng vay mua nhà xã hội tại NHCSXH mới phải thực hiện gửi tiết kiệm bắt buộc; không bắt buộc áp dụng tại các TCTD được chỉ định, tuy nhiên, các TCTD có thể thỏa thuận với khách hàng, xây dựng chính sách huy động tiết kiệm nhà ở xã hội phù hợp với đặc thù hoạt động và nguồn vốn của TCTD.
5. Đề nghị quy định ân hạn chưa trả nợ gốc, hoặc lãi vay, để thực hiện thống nhất tại NHCSXH và 04 tổ chức tín dụng được chỉ định.
Trả lời:
Tại Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: “Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng hướng dẫn cụ thể về cơ chế huy động tiết kiệm và các nội dung liên quan đến cho vay ưu đãi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao”. Như vậy việc ân hạn chưa trả nợ gốc, lãi thuộc quyền tự chủ của NHCSXH và các TCTD.
Thực hiện quy định tại Luật Nhà ở 2014 và Nghị định 100/2015/NĐ-CP, NHCSXH đã ban hành văn bản hướng dẫn cho vay số 2526/NHCS-TDSV ngày 27/7/2016, quy định cụ thể về việc định kỳ hạn trả nợ đối với khách hàng vay. Trong đó, người vay vốn chưa phải trả nợ gốc trong thời gian ân hạn 12 tháng kể từ ngày nhận khoản vay đầu tiên.
Đối với các TCTD được chỉ định cho vay nhà ở xã hội, việc cho vay của các TCTD thực hiện theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, do vậy, việc ân hạn chưa trả nợ gốc, lãi vay do TCTD và khách hàng thỏa thuận, phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng và quy định của pháp luật.
II- Liên quan đến tín dụng chính sách
1. Đề nghị có chính sách hỗ trợ tín dụng cho các dự án trồng cao su khu vực vùng sâu, xa, vùng biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. (Cử tri tỉnh Gia Lai)
Trả lời:
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn là lĩnh vực được Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển. Theo đó, để hỗ trợ người nông dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh, Chính phủ đã ban hành riêng 01 Nghị định về chính sách tín dụng3 với nhiều ưu đãi đối với các dự án nông nghiệp, nông thôn (bao gồm cả các dự án trồng cao su, dự án tại vùng sâu, xa, biên giới) như: (i) cho vay không có tài sản đảm tối đa từ 100 triệu đồng đến 3 tỷ đồng; (ii) khuyến khích phát triển mô hình liên kết, chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp với mức cho vay không có tài sản bảo đảm từ 70% - 80% giá trị dự án, phương án; (iii) hỗ trợ xử lý rủi ro (cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, khoanh nợ,...) trong trường hợp khoản vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng hoặc thiên tai dịch bệnh trên phạm vi rộng. Triển khai Nghị định, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động, kịp thời đáp ứng nhu cầu vay vốn của các khách hàng vay lĩnh vực nông nghiệp (trong đó có ngành cao su).
Ngoài chính sách tín dụng nêu trên, Chính phủ, NHNN cũng đã ban hành và triển khai chính sách ưu đãi trong cho vay trồng rừng tại các huyện nghèo, cụ thể:
- Cho vay theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020: theo đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thuộc vùng dân tộc và miền núi, có hoạt động trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất được vay với mức lãi suất 1,2%/năm; riêng hộ gia đình trồng rừng sản xuất phát triển lâm sản ngoài gỗ được vay tối đa 15 triệu đồng/ha, thời hạn cho vay không quá 20 năm.
- Cụ thể hóa chủ trương về hỗ trợ cho vay trồng rừng sản xuất tại các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ (Nghị quyết 30a): NHNN đã ban hành Thông tư số 06/2009/TT-NHNN ngày 9/4/2009 (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2014/TT-NHNN ngày 01/10/2014). Theo đó, hộ gia đình tại các huyện nghèo được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để trồng rừng sản xuất.
Như vậy, chính sách tín dụng hỗ trợ phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn (trong đó có lĩnh vực cao su) đã được ban hành và tổ chức triển khai trên thực tế. Trường hợp cần có chính sách riêng hỗ trợ cho các dự án trồng cao su khu vực vùng sâu, xa, vùng biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (ngoài các chính sách nêu trên) cần phải được cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với địa phương tham mưu đề xuất. Trên cơ sở phê duyệt của các cấp có thẩm quyền, NHNN sẽ phối hợp chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nguồn vốn cho vay đảm bảo hiệu quả.
2. Đề nghị tiếp tục cho phép thực hiện chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo sau khi hết thời hạn theo quy định tại Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015; kéo dài quy định thời gian hộ gia đình được thụ hưởng chính sách tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo kể từ khi ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo lên tối đa là 5 năm. (Cử tri tỉnh Hà Tĩnh)
Trả lời:
Chương trình tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo được triển khai tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) từ năm 2015 đến nay theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ4. Theo báo cáo của NHCSXH, tính đến 31/5/2020, dư nợ cho vay của chương trình đạt 36.670 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 17,19% tổng dư nợ tại NHCSXH, với 1.061.502 khách hàng còn dư nợ; đây là chương trình tín dụng có dư nợ tín dụng cao nhất trong các chương trình tín dụng đang triển khai tại NHCSXH. Riêng tại tỉnh Hà Tĩnh, dư nợ chương trình tín dụng hộ mới thoát nghèo đạt 1.221 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25,5% tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đang triển khai trên địa bàn tỉnh, với 27.228 khách hàng dư nợ.
Thực hiện nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg, NHNN đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, UBND các tỉnh, thành phố và NHCSXH tiến hành sơ kết 5 năm triển khai, thực hiện chương trình tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo. Theo đó, NHNN đã chủ trì, tổ chức đoàn khảo sát liên ngành tình hình thực hiện chương trình5; có văn bản gửi Ủy ban nhân dân 63 tỉnh, thành phố đề nghị xây dựng báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định 28/2015/QĐ-TTg. Trên cơ sở kết quả khảo sát và báo cáo của UBND các tỉnh, thành phố, NHNN đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ6 sơ kết 5 năm tình hình triển khai, thực hiện Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg và đề xuất:
- Cho phép tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ sau khi hết thời hạn quy định (31/12/2020) để người dân có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng chính sách, phát triển kinh tế và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
- Giao NHNN chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg, với nội dung sửa đổi như sau:
+ Sửa đổi Điều 5 Quyết định số 28 về thời hạn cho vay: điều chỉnh thời hạn cho vay tối đa 5 năm lên 10 năm, để phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của người vay vốn và tương đồng với thời hạn cho vay hiện nay đang áp dụng tại NHCSXH cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, cho vay giải quyết việc làm theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ.
+ Sửa đổi Khoản 1 Điều 10 Quyết định số 28: Bỏ thời hạn “được thực hiện giải ngân đến hết ngày 31/12/2020”.
Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ7, trong thời gian tới, NHNN sẽ phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 về chương trình tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo, đảm bảo theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với khả năng bố trí ngân sách nhà nước và huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện cho vay, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận vốn tín dụng chính sách, phát triển kinh tế và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
III- Liên quan đến tín dụng đen
1. Tín dụng đen ngày càng phức tạp, trong khi vay tiền từ ngân hàng thì thủ tục rất là khó, một hồ sơ vay tiền theo hình thức thế chấp phải ký rất nhiều chữ ký, còn vay theo hình thức tín chấp người nông dân rất khó tiếp cận. Cử tri kiến nghị ngân hàng cần có giải pháp cho người dân dễ tiếp cận nguồn vốn vay hơn. (Cử tri tỉnh Bến Tre)
Trả lời:
Để tạo điều kiện cho người dân trong việc tiếp cận nguồn vốn vay, đẩy lùi tín dụng đen, thời gian qua NHNN đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cụ thể:
- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, NHNN đã chỉ đạo các TCTD: (i) Thường xuyên rà soát, đổi mới, hiện đại hóa quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo hướng đơn giản hóa, giảm bớt phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng; (ii) Tăng cường ứng dụng công nghệ, cải tiến quy trình, không ngừng nâng cao trình độ của cán bộ và năng lực của TCTD, cải thiện khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay; (iii) Tăng cường minh bạch hóa thông tin tín dụng, công bố công khai về quy trình, thủ tục hồ sơ, thời gian cung cấp dịch vụ; (iv) Hướng dẫn để khách hàng hiểu và nắm được đầy đủ các thông tin liên quan đến khoản vay, từ đó hỗ trợ cải thiện chất lượng thông tin, tài liệu trong hồ sơ đề nghị vay vốn và rút ngắn thời gian cung cấp; tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình xem xét, quyết định cho vay của TCTD. NHNN cũng đã hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng8 để tăng tính minh bạch cũng như phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.
- Đối với khách hàng vay có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, được TCTD đánh giá có khả năng tài chính để hoàn trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi, thì được TCTD xem xét, quyết định cho vay không phải thế chấp tài sản. Để tăng cường cho vay không có tài sản đảm bảo, thời gian qua, NHNN đã: (i) Chỉ đạo các TCTD xây dựng quy trình thu thập khai thác thông tin về đánh giá tín nhiệm hoạt động của khách hàng từ các tổ chức hoạt động chính thức (như Trung tâm thông tin tín dụng Việt Nam, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp) kết hợp với hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của TCTD để nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay, đơn giản hóa thủ tục cho vay...; (ii) Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó nâng mức cho vay tối đa không có tài sản đảm bảo của một số đối tượng khách hàng lên gấp 2 lần mức cho vay tối đa cũ để phù hợp với nhu cầu vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp thực tế hiện nay của một số khách hàng cá nhân, hộ gia đình.
- Ngành ngân hàng cũng đã chủ động triển khai quyết liệt nhiều giải pháp mở rộng tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh và nhu cầu đời sống cho người dân, doanh nghiệp, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tín dụng đen như:
+ Tổ chức khảo sát tại một số tỉnh, thành phố là điểm nóng về tín dụng đen; tổ chức Hội nghị bàn các giải pháp cụ thể nhằm mở rộng tín dụng, hạn chế tín dụng đen; làm việc với các tổ chức chính trị - xã hội, có văn bản đề nghị UBND các tỉnh, thành phố phối hợp nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn chính thức cho người dân và tuyên truyền về phương thức, hậu quả của tín dụng đen để người dân cảnh giác, không tham gia “tín dụng đen”.
+ Ban hành kế hoạch hành động ngành ngân hàng thực hiện Chỉ thị 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 1178/QĐ-NHNN ngày 31/5/2019) góp phần hạn chế tín dụng đen. Sau 1 năm triển khai, NHNN đã: (i) ban hành và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản9 để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động vay vốn; (ii) Chú trọng phát triển mạng lưới hoạt động của các TCTD rộng khắp các địa bàn, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nhằm tăng khả năng tiếp cận của người dân; (iii) NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố đã chủ động phối hợp với các cấp chính quyền để cung cấp thông tin về các chương trình, chính sách vay vốn đến người dân tại địa phương, từ đó tăng khả năng tiếp cận vốn; (iv) Triển khai Chương trình tín dụng tiêu dùng 5.000 tỷ của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, đến cuối tháng 6/2020 đã cho 328.818 lượt khách hàng vay vốn phục vụ đời sống, tiêu dùng (số tiền vay không quá 30 triệu đồng), doanh số cho vay đạt 14.138 tỷ đồng, dư nợ đạt 2.389 tỷ đồng.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành nghiêm túc, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tại Quyết định 1178/QĐ-NHNN ngày 31/5/2019 của Ngân hàng Nhà nước, Chỉ thị 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ, góp phần hạn chế “tín dụng đen”, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn vay.
2. Về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay và giải pháp hỗ trợ người vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nhằm giảm thiểu việc người dân tìm đến và phụ thuộc vốn vay tín dụng đen. (Cử tri tỉnh Đăk Nông)
Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, từ đầu năm 2020 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh giảm liên tiếp 02 lần các mức lãi suất với quy mô cắt giảm tương đối mạnh trong nhiều năm qua, cụ thể: (i) Ngày 17/3/2020, NHNN giảm các mức lãi suất điều hành từ 0,5-1%/năm, giảm 0,5% trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; (ii) Ngày 13/5/2020, NHNN tiếp tục giảm đồng bộ 0,5%/năm các mức lãi suất điều hành để phát tín hiệu mạnh mẽ và nhất quán về định hướng điều hành giảm lãi suất, sẵn sàng hỗ trợ khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD); giảm 0,3-0,5%/năm trần lãi suất huy động và tiếp tục giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên nhằm tiếp tục giảm chi phí vốn vay của khách hàng, hiện ở mức 5%/năm. Đồng thời, đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 về các giải pháp cấp bách của ngành Ngân hàng nhằm tăng cường phòng chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19, trong đó, chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động, cắt giảm lợi nhuận, lương, thưởng để giảm lãi suất cho vay ở mức tối đa.
Chính sách điều chỉnh giảm đồng bộ lãi suất của NHNN đã và đang góp phần giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế, kịp thời hỗ trợ vốn có chi phí hợp lý cho doanh nghiệp, người dân vay để phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh. Kết quả, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có xu hướng giảm. Hiện, lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn; Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND các lĩnh vực ưu tiên giảm 1,0%/năm so với đầu năm và hiện ở mức 5%/năm.
Bên cạnh việc giảm mặt bằng lãi suất, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận vốn tín dụng, hạn chế tín dụng đen như:
- Thường xuyên rà soát để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với các tổ chức tài chính vi mô, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các quy định cho vay tiêu dùng, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống... tạo điều kiện cho TCTD mở rộng các sản phẩm, kênh cho vay phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
- Tổ chức các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để triển khai giải pháp mở rộng tín dụng phục vụ sản xuất và tiêu dùng, nhằm hạn chế tín dụng đen.
- Chỉ đạo TCTD cân đối vốn để phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng, phục vụ nhu cầu đời sống chính đáng, cấp bách của người dân; đơn giản hóa quy trình thủ tục nội bộ, tạo thuận lợi hơn nữa cho khách hàng vay vốn; đẩy mạnh áp dụng Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ ngân hàng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tiếp tay cho các đối tượng cho vay nặng lãi...
Thời gian tới, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng cường công tác tuyên truyền các sản phẩm tín dụng của hệ thống ngân hàng tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu vùng xa để người dân nắm bắt và tiếp cận dịch vụ; đa dạng hóa các sản phẩm cho các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản phẩm tín dụng tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu vốn nhỏ lẻ của người dân./.
1 Theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 13/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ, mức lãi suất cho vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ trong năm 2020 để mua, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 4,8%/năm.
2 Lãi suất đối với khách hàng vay vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê thấp hơn lãi suất đối với khách hàng vay vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê mua, bán vì Điều 58 Luật Nhà ở quy định chủ đầu tư xây nhà cho thuê hưởng lãi suất cho vay thấp hơn.
3 Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP.
4 Theo quy định tại Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg: Hộ mới thoát nghèo trong thời hạn 3 năm sau khi ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn ưu đãi tại NHCSXH để phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, với mức cho vay tối đa bằng mức cho vay đối với hộ nghèo (hiện nay là 100 triệu đồng/hộ), thời gian cho vay tối đa là 5 năm, lãi suất cho vay bằng 125% lãi suất cho vay hộ nghèo (đang áp dụng mức lãi suất 8,25%/năm).
5 tại các tỉnh Lào Cai, Ninh Thuận, Lâm Đồng.
6 tờ trình số 45/TTr-NHNN ngày 6/5/2020.
7 tại công văn số 5116/VPCP-KTTH ngày 24/6/2020.
8 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, Thông tư số 18/2019/TT-NHNN ngày 04/11/2019.
9 Thông tư 18/2019/TT-NHNN ngày 4/11/2019 sửa đổi, bổ sung Thông tư 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay tiêu dùng của công ty tài chính; Quyết định số 12/QĐ-HĐQT ngày 22/02/2019 nâng mức cho vay và kéo dài thời hạn cho vay đối với hộ nghèo và một số đối tượng chính sách tại NHCSXH; Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.