CÁC KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN NGÂN HÀNG; HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1. Đề nghị có quy định cụ thể, rõ ràng và thống nhất về việc áp dụng lãi suất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. (Cử tri tỉnh Thanh Hóa)
Trả lời:
- Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau:
“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
- Khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”.
Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nếu các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác. Quy định về lãi suất thỏa thuận tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là trường hợp luật khác có quy định khác được nhắc đến tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định nguyên tắc áp dụng luật. Theo đó, trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật các tổ chức tín dụng và các luật khác có liên quan đến thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng thì áp dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng.
Trên cơ sở Luật các tổ chức tín dụng, NHNN đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Tại Khoản 1, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định: tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng (trừ một số trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều này).
Ngoài ra, liên quan đến việc áp dụng lãi suất, để áp dụng đúng và thống nhất quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao đã có giải đáp tại văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
2. Về vấn đề định giá tài sản của người vay (Cử tri tỉnh Đăk Nông)
Việc định giá tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại Bộ luật Dân sự, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Theo đó các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản để có cơ sở xác định giá trị của tài sản bảo đảm. NHNN đã ban hành các văn bản quy định về quy trình cho vay1 trong đó có quy định trách nhiệm của TCTD trong việc định giá tài sản bảo đảm của khoản vay. NHNN cũng đã chỉ đạo các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn của NHNN về hoạt động cấp tín dụng, trong đó tập trung vào một số nội dung như: (i) Nâng cao chất lượng công tác thẩm định điều kiện cấp tín dụng, công tác thẩm định tài sản bảo đảm, định giá, quản lý tài sản bảo đảm; (ii) rà soát, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định nội bộ về điều kiện cấp tín dụng, quy trình thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm, định giá tài sản bảo đảm… (iii) tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quy định của NHNN và quy định nội bộ của TCTD về cấp tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng, thẩm định, định giá và quản lý tài sản bảo đảm…
Bên cạnh đó, nội dung cấp tín dụng (trong đó có việc thẩm định, xét duyệt cho vay, việc chấp hành quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay) là một trong những nội dung quan trọng khi NHNN triển khai các cuộc thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện các sai phạm, tồn tại và yêu cầu TCTD khắc phục chỉnh sửa. NHNN sẽ theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng của TCTD, trong đó có việc định giá tài sản bảo đảm nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động của TCTD.
3. Đề nghị tiếp tục thực hiện các nội dung quy định tại Khoản 1, Điều 1 Thông tư số 42/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 của NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT –NHNN ngày 08/12/2015 của Thống đốc NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 1 của Thông tư 42/TT-NHNN thực hiện đến hết ngày 31/3/2019). (Cử tri tỉnh Bắc Giang)
Trả lời:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, thời gian qua NHNN đã triển khai nhiều giải pháp để từng bước thực hiện lộ trình chuyển dần quan hệ huy động - cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua - bán ngoại tệ. Theo đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 42/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN ngày 08/12/2015 quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng vay là người cư trú, trong đó có quy định dừng cho vay ngoại tệ đối với một số nhu cầu vốn đặc thù, phù hợp với chủ trương của Chính phủ về hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
Thông tư 42 chỉ hạn chế các đối tượng vay ngoại tệ để nhập khẩu hoặc để sản xuất kinh doanh trong nước, không có quy định hạn chế đối với các doanh nghiệp xuất khẩu; đồng thời, bỏ quy định về giới hạn thời gian đối với nhu cầu vốn vay ngắn hạn bằng ngoại tệ để thanh toán chi phí trong nước và để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu.
Lộ trình chấm dứt cho vay ngoại tệ đối với nhu cầu vốn để nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ đã được NHNN nghiên cứu, đánh giá kỹ thị trường, nhu cầu giao dịch của các TCTD và nền kinh tế trên cơ sở điều kiện kinh tế vĩ mô, cân đối cung - cầu ngoại tệ.
Bên cạnh lộ trình thu hẹp nhu cầu vay vốn ngoại tệ, NHNN đã thực hiện các giải pháp điều hành hỗ trợ doanh nghiệp, cụ thể: (i) Điều hành tỷ giá ổn định góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ xuất khẩu tăng trưởng tốt, giúp cho các doanh nghiệp có một môi trường ổn định, chủ động trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch kinh doanh, phòng ngừa rủi ro tỷ giá (ii) Ban hành các quy định về hoạt động cho vay theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục vay vốn, bổ sung nhiều quy định để đảm bảo minh bạch hoạt động cho vay, bảo vệ quyền lợi của người vay; (iii) Chỉ đạo TCTD cắt giảm chi phí nhằm góp phần hạ lãi suất cho vay; đổi mới quy trình, thủ tục cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay, đảm bảo an toàn vốn vay và không trái với quy định của pháp luật, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay...
4. Cử tri phản ánh, công dân có Căn cước công dân, nhưng khi tham gia một số giao dịch ngân hàng thì vẫn phải xác minh của cơ quan công an cấp huyện với nội dung số Chứng minh nhân dân và số Căn cước công dân là của một người, như vậy rất khó khăn cho người dân. Đề nghị có giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên. (Cử tri TP Hà Nội)
Trả lời:
Khi tham gia giao dịch (mở và sử dụng tài khoản thanh toán, gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn…) với tổ chức tín dụng, khách hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác và cập nhật kịp thời khi có sự thay đổi để đảm bảo xác định chính xác khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng. Cụ thể:
- Liên quan đến giao dịch mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (đã được sửa đổi, bổ sung):
+ Điểm b Khoản 1 Điều 12 quy định về hồ sơ mở tài khoản đối với tài khoản thanh toán của cá nhân như sau: “b) Thẻ căn cước công dân hoặc giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn, giấy khai sinh (đối với cá nhân là công dân Việt Nam chưa đủ 14 tuổi), thị thực nhập cảnh hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài) của chủ tài khoản”.
+ Điểm đ Khoản 2 Điều 5 quy định: “Chủ tài khoản thanh toán có các nghĩa vụ sau: đ) Cung cấp đầy đủ, rõ ràng, chính xác các thông tin liên quan về mở và sử dụng tài khoản thanh toán. Thông báo kịp thời và gửi các giấy tờ liên quan cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản khi có sự thay đổi về thông tin trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán…”.
+ Khoản 1 Điều 15 quy định về việc sử dụng tài khoản thanh toán như sau: “…Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hướng dẫn khách hàng các nguyên tắc và điều kiện sử dụng tài khoản thanh toán trong trường hợp giao dịch theo phương thức truyền thống hoặc giao dịch điện tử phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, đảm bảo có đủ thông tin cần thiết để kiểm tra, đối chiếu và nhận biết khách hàng, trong quá trình sử dụng tài khoản thanh toán”.
- Liên quan đến giao dịch gửi tiết kiệm quy định tại Thông tư 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 quy định về tiền gửi tiết kiệm:
+ Khoản 4, Điều 5 quy định: “Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền là giấy chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực hoặc Giấy khai sinh của cá nhân chưa đủ 14 tuổi”.
+ Điều 12 quy định về thủ tục gửi tiền tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng như sau:
“ 1. Người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng và xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền; trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm chung, tất cả người gửi tiền phải trực tiếp xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của mình. Trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền.
… 3. Tổ chức tín dụng đối chiếu, cập nhật các thông tin người gửi tiền theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
… 6. Đối với việc gửi tiền gửi tiết kiệm vào Thẻ tiết kiệm đã cấp: a) Trường hợp gửi bằng tiền mặt: Người gửi tiền thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này,…”
+ Điều 18, quy định về thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng như sau:
“1. Tổ chức tín dụng đề nghị người gửi tiền thực hiện các thủ tục sau:
… b) Xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền, của tất cả người gửi tiền (đối với tiền gửi tiết kiệm chung). Trường hợp chi trả tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền;
…2. Tổ chức tín dụng đối chiếu thông tin của người gửi tiền, thông tin của người đại diện theo pháp luật của người gửi tiền trong trường hợp chi trả tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, thông tin trên Thẻ tiết kiệm, chữ ký trên giấy rút tiền đảm bảo chính xác với các thông tin lưu tại tổ chức tín dụng...”
- Liên quan đến giao dịch tiền gửi có kỳ hạn quy định tại Thông tư 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 quy định về tiền gửi có kỳ hạn:
+ Khoản 3, Điều 4 quy định: “Giấy tờ xác minh thông tin của cá nhân là công dân Việt Nam là Giấy chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực hoặc Giấy khai sinh của cá nhân chưa đủ 14 tuổi.”
+ Khoản 1, Điều 6 quy định: “1. Thỏa thuận tiền gửi có kỳ hạn giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phải được lập thành văn bản, trong đó bao gồm tối thiểu các nội dung sau:
a) Thông tin của khách hàng:
(i) Đối với khách hàng là cá nhân: Họ và tên, quốc tịch, thuộc đối tượng người cư trú hoặc người không cư trú, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin cá nhân và thông tin của người đại diện hợp pháp trong trường hợp gửi tiền gửi có kỳ hạn thông qua người đại diện hợp pháp;
(ii) Đối với khách hàng là tổ chức: Tên tổ chức, thuộc đối tượng người cư trú hoặc người không cư trú, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin tổ chức; Thông tin về người đại diện hợp pháp của tổ chức bao gồm: họ và tên, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin cá nhân;
(iii) Đối với tiền gửi chung có kỳ hạn: thông tin của tất cả khách hàng sở hữu chung khoản tiền gửi có kỳ hạn;...”
- Khoản 4 Điều 15 Thông tư 07/2016/BCA ngày 01/02/2016 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật Căn cước công dân2 và Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân quy định: “Khi công dân làm thủ tục chuyển từ Chứng minh nhân dân 9 số, Chứng minh nhân dân 12 số sang thẻ Căn cước công dân thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ tiến hành như sau: 4. Cấp Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân: a) Khi công dân làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thì cơ quan quản lý căn cước công dân nơi tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm cấp Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân đối với tất cả các trường hợp chuyển từ Chứng minh nhân dân 9 số sang thẻ Căn cước công dân”.
Như vậy, khi có thay đổi thông tin liên quan đến số chứng minh nhân dân/ căn cước công dân; khách hàng cần cung cấp cho ngân hàng văn bản xác nhận Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân đối với tất cả các trường hợp chuyển từ Chứng minh nhân dân 9 số sang thẻ Căn cước công dân của Cơ quan Công an có thẩm quyền. Giấy xác nhận này khách hàng đã được Cơ quan công an cấp khi thay đổi số căn cước công dân. Việc yêu cầu của các tổ chức tín dụng là phù hợp và không tạo thêm thủ tục hành chính cho người dân.
Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, hiện nay doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhập khẩu có thể tiếp cận vốn vay VND với lãi suất hợp lý3, quy trình, thủ tục thuận tiện, minh bạch. Các doanh nghiệp sẽ không gặp khó khăn nếu có nhu cầu mua bán, chuyển đổi giữa VND và USD để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu: (i) được phép mua ngoại tệ từ các TCTD để thanh toán nhập khẩu trên cơ sở xuất trình chứng từ hợp pháp4; (ii) có thể giao dịch các sản phẩm phái sinh tại TCTD nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
5. Cử tri kiến nghị cần có giải pháp để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, nhằm tạo sự an toàn và thuận tiện hơn trong các giao dịch từ đó giúp người dân thích nghi với thói quen không dùng tiền mặt trong thời gian tới. (Cử tri tỉnh Đồng Nai)
Trả lời:
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) trong nền kinh tế5. Hành lang pháp lý cho hoạt động TTKDTM ngày càng hoàn thiện, tạo sự đồng bộ để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực thanh toán; Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM, nhất là thanh toán điện tử được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng, phục vụ tốt cho việc cung ứng các dịch vụ, phương tiện TTKDTM mới, hiện đại; Các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử được phát triển mạnh và đa dạng với nhiều sản phẩm, phương tiện mới, an toàn, tiện lợi, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
NHNN cũng đã chủ động, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong việc thúc đẩy triển khai thực hiện thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công, như: thu thuế, điện, nước sinh hoạt, học phí, viện phí, chi trả các chương trình an sinh xã hội,...
Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán thực hiện Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản của các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước và tích cực đẩy mạnh cung ứng dịch vụ TTKDTM, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM. NHNN cũng đã phối hợp với Kho bạc Nhà nước (Bộ Tài chính) trong việc mở rộng thực hiện thanh toán qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ NSNN tại những địa bàn đáp ứng điều kiện cơ sở hạ tầng.
Nhờ đó, các chỉ số về TTKDTM có tốc độ tăng trưởng khá tốt, cụ thể:
- Trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng giá trị giao dịch qua Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) đạt 69,18 triệu giao dịch và đạt 49,91 triệu tỷ đồng, giảm 9,52% về số lượng, tăng 14,88% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2019. Giao dịch thanh toán qua thẻ đạt 171,1 triệu giao dịch với giá trị đạt 399,4 nghìn tỷ đồng (tăng 20,9% về số lượng và tăng 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019); Giao dịch thanh toán qua Internet đạt 200,3 triệu giao dịch với giá trị đạt 12,9 triệu tỷ đồng (giảm 1,9% về số lượng và tăng 36% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019); Giao dịch thanh toán qua điện thoại di động đạt 472,2 triệu giao dịch với giá trị đạt 4,9 triệu tỷ đồng (tăng 178% về số lượng và 177,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019).
- Đến nay, Hệ thống TTĐTLNH đã hoàn thành kết nối thanh toán điện tử liên ngân hàng tại 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; 43 ngân hàng phối hợp thu với Tổng cục Hải quan, trong đó có 30 ngân hàng tham gia nộp thuế điện tử và thông quan 24/7; Số thu ngân sách bằng phương thức điện tử đạt tỷ lệ trên 95% tổng số thu ngân sách của Tổng cục Hải quan. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ TTKDTM liên tục được tăng cường, mở rộng; đến cuối tháng 6 năm 2020, toàn quốc có 19.571 ATM trải rộng khắp cả nước, 266.038 máy POS, phần lớn được lắp đặt tại các điểm bán lẻ và đang mở rộng tới nhiều đơn vị cung ứng dịch vụ công như cơ sở y tế, bệnh viện, trường học, dịch vụ công ích...
- Trong tổng số gần 105.000 đơn vị hưởng lương từ NSNN trên toàn quốc đã có khoảng 89.000 đơn vị đã trả lương qua tài khoản (đạt gần 89%); số cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã nhận lương qua tài khoản gần 2,8 triệu người (tương đương khoảng 83%).
Hiện nay, NHNN đang tập trung nghiên cứu xây dựng Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành, trong đó có những giải pháp chính như:
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu xây dựng, sửa đổi, bổ sung hành lang pháp lý cho hoạt động TTKDTM, thanh toán điện tử, tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi số của các ngân hàng, tạo điều kiện thúc đẩy TTKDTM; rà soát, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến thanh toán tại các văn bản Luật hiện hành (như Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng).
Thứ hai, chỉ đạo hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ TTKDTM, trong đó tập trung phát triển các hệ thống thanh toán của NHNN; hệ thống bù trừ điện tử tự động cho các giao dịch thanh toán bán lẻ tại Việt Nam (ACH); tăng cường tích hợp, kết nối hạ tầng, ứng dụng của ngành ngân hàng với các ngành, lĩnh vực dịch vụ khác để mở rộng hệ sinh thái số.
Thứ ba, chỉ đạo nghiên cứu, phát triển các dịch vụ, hình thức thanh toán mới, hiện đại như: QR Code, Tokenization, thanh toán không tiếp xúc trên thiết bị di động,...; tập trung chỉ đạo phát triển các dịch vụ thanh toán bán lẻ, như: dịch vụ thanh toán thẻ, phát triển, sắp xếp, hợp lý hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả mạng lưới thiết bị chấp nhận thẻ; hoàn thiện hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng; phát triển thanh toán điện tử phục vụ thương mại điện tử; và phát triển TTKDTM ở khu vực nông thôn gắn với việc triển khai Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện.
Thứ tư, tăng cường quản lý, giám sát đối với các hệ thống thanh toán quan trọng, các hệ thống thanh toán, phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, thanh toán xuyên biên giới, đảm bảo hoạt động thanh toán trong nền kinh tế hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt. Triển khai các giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động ngân hàng thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, đào tạo, hướng dẫn và bảo vệ người người tiêu dùng trong TTKDTM./.