KIẾN NGHỊ CỬ TRI LIÊN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
* Đề nghị chỉ đạo hệ thống Ngân hàng chi nhánh tỉnh tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp tiếp cận và được vay vốn theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ. (Cử tri tỉnh Trà Vinh)
Ngay khi Nghị định 55 mới ban hành, NHNN đã ban hành Thông tư 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 55 và có văn bản 7892/NHNN-VP ngày 16/10/2015 chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố triển khai.
Hằng năm, tại các Chỉ thị về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, NHNN đều yêu cầu các TCTD đẩy mạnh cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55 của Chính phủ; yêu cầu NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cụ thể việc triển khai Nghị định 55; phối hợp với các cấp chính quyền địa phương tổ chức đối thoại giữa ngân hàng và khách hàng để tháo gỡ khó khăn. Chỉ đạo các TCTD nâng cao hiệu quả thẩm định để tăng cường khả năng cho vay không có tài sản bảo đảm, tháo gỡ khó khăn về tài sản bảo đảm cho khách hàng.
Quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn từ 1%-2% so với lãi suất cho vay thương mại thông thường (hiện nay là 6,5%/năm); mở rộng quy định về mục đích vay vốn và phương thức cho vay (cho vay lưu vụ, cho vay tuần hoàn, cho vay quay vòng) phù hợp với thực tế; đơn giản hóa một số hồ sơ, thủ tục cho vay.
Chỉ đạo các TCTD, NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ từ trung ương đến địa phương, tạo điều kiện đưa vốn vay ngân hàng đến các hội viên để phát triển sản xuất, tăng thu nhập. (văn bản số 5197/NHNN-TD ngày 12/7/2016).
Đến cuối tháng 11/2018 dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn toàn quốc đạt khoảng 1,69 triệu tỷ đồng, tăng 14,5% với 14 triệu lượt khách hàng còn dư nợ; trong đó dư nợ nông nghiệp nông thôn tại tỉnh Trà Vinh đạt gần 12 nghìn tỷ đồng (chiếm 51,33% dư nợ của tỉnh Trà Vinh).
NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Thông tư 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018 hướng dẫn các TCTD thực hiện, trong đó có nhiều điểm mới phù hợp với thực tiễn sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cho vay tín chấp và tài sản thế chấp, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Bên cạnh nguồn vốn tín dụng thương mại, các chương trình tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đã góp phần thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân khu vực nông thôn. Các hộ nghèo, đối tượng chính sách khi vay vốn không phải thế chấp tài sản, chỉ các tổ chức kinh tế khi vay vốn (trên 50 triệu đồng) thì mới phải thế chấp tài sản theo quy định. Đến 30/11/2018, trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Ngân hàng Chính sách xã hội đang triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách với tổng dư nợ đạt gần 2.321 tỷ đồng, tăng 11,4% so với 31/12/2017 với 174.044 lượt khách hàng dư nợ.
* Ban hành lãi suất ưu đãi cho ngành sản xuất mía đường. (Cử tri tỉnh Trà Vinh)
NHNN đã và đang triển khai các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi và nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có ngành hàng mía đường, cụ thể:
- Triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP với nhiều chính sách ưu đãi về lãi suất, tài sản bảo đảm...
- Ban hành Quyết định 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017, theo đó các khách hàng có dự án, phương án sản xuất mía đường ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đáp ứng quy định tại Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được các ngân hàng thương mại xem xét cho vay với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0,5%/năm đến 1,5%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn của ngân hàng thương mại.
- Ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2018 và văn bản 1881/NHNN-TD ngày 26/3/2018 chỉ đạo toàn hệ thống mở rộng tín dụng có hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, các lĩnh vực ưu tiên (trong đó có lĩnh vực nông nghiệp nông thôn bao gồm cả ngành mía đường); cân đối khả năng tài chính, trên cơ sở lãi suất huy động và mức độ rủi ro của khoản vay, tiết giảm chi phí hoạt động để đưa ra mức lãi suất cho vay hợp lý.
Dư nợ cho vay trồng, chăm sóc, chế biến, bảo quản, tiêu thụ mía đến cuối tháng 11/2018 đạt khoảng 7.300 tỷ đồng, tăng 14,6% so với 31/12/2017, trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm trên 83% tổng dư nợ cho vay ngành này. Riêng dư nợ cho vay ngành mía đường tại tỉnh Trà Vinh đạt 12 tỷ đồng, giảm 04 tỷ đồng so với 31/12/2017, trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 48,25% tổng dư nợ cho vay.
Thời gian qua, ngành mía đường gặp nhiều khó khăn như: Cơ giới hóa trong trồng mía nguyên liệu chưa cao làm tăng giá thành sản xuất mía và giá bán đường, làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành đường; Lượng đường tồn kho cuối vụ niên vụ 2017 - 2018 lớn (gần 700.000 tấn), vấn đề tiêu thụ gặp nhiều khó khăn; Tình hình buôn lậu đường ngày càng diễn biến phức tạp. NHNN đề nghị các doanh nghiệp ngành mía đường cũng cần cân nhắc tính toán, xây dựng kế hoạch sản xuất, đảm bảo cân đối việc sản xuất phù hợp nhu cầu thị trường, tránh tồn trữ trong bối cảnh giá đường biến động bất lợi, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng hoàn vốn vay cho các TCTD.
* Đề nghị NHNN phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho người dân được vay và nhận tiền một lần để thuận tiện trong đầu tư, cũng như đi lại khi làm thủ tục vay vốn tái canh cây cà phê. (Cử tri tỉnh Đắk Lắk)
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong cho vay tái canh cây cà phê, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chuyển chương trình cho vay tái canh cà phê sang cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngày 07/9/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 55, có hiệu lực thi hành ngày 25/10/2018 trong đó bổ sung quy định về ân hạn đối với các loại cây trồng lâu năm tạo điều kiện tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện cải tạo, tái canh cây cà phê. Như vậy, việc người dân, doanh nghiệp tái canh cà phê được chuyển sang vay vốn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP sẽ giúp khắc phục những vướng mắc mà cử tri đã nêu.
* Đề nghị cho phép áp dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhiều lần đối với các khoản vay theo Nghị định 67/ 2014/NĐ-CP. (Cử tri tỉnh Bình Thuận)
Thông tư số 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2015/TT-NHNN đã không còn quy định giới hạn số lần tổ chức tín dụng được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, khắc phục các vướng mắc mà cử tri nêu, phù hợp với thực tế đặc thù rủi ro của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, các khách hàng vay vốn đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP khi gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng sẽ được tổ chức tín dụng: (i) Xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ trên cơ sở đề nghị của khách hàng và đánh giá của TCTD về khả năng trả nợ của khách hàng; (ii) Thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ phù hợp với chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng nhưng tổng thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ tối đa không vượt quá thời hạn cho vay vốn ban đầu theo hợp đồng tín dụng đã ký.
* Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 17/2018/NĐ-CP cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu khi chủ tàu đã hoàn thành đóng mới nhưng không đủ năng lực để hoạt động khai thác thủy sản, không quy định về điều kiện chuyển đổi chủ tàu. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 1 Thông tư số 22/2018/TT-NHNN thì khi nhận bàn giao, chủ tàu mới phải nhận lại toàn bộ khoản nợ vay từ chủ tàu cũ chưa trả cho ngân hàng cho vay trước thời điểm bàn giao (nếu có). Quy định trên đã và đang dẫn đến tình trạng nhiều hộ dân mặc dù muốn nhận chuyển nhượng tàu đóng mới theo Nghị định 67 không thể nhận luôn toàn bộ khoản nợ vay từ chủ tàu cũ, bao gồm cả nợ gốc quá hạn và lãi phát sinh mà chủ tàu cũ chưa trả cho ngân hàng cho vay trước thời điểm bàn giao, gây khó khăn lớn trong việc chuyển nhượng, thu hồi vốn của những chủ tàu đã hoàn thành đóng mới theo Nghị định 67 nhưng không đủ năng lực để hoạt động khai thác hải sản để bù trả chi phí đã đầu tư (chủ yếu vay ngân hàng). Đề nghị NHNN nghiên cứu, chỉnh sửa nội dung quy định trên theo hướng: Khi nhận chuyển nhượng tàu đóng mới theo Nghị định 67, người nhận chuyển nhượng chỉ nhận phần giá trị thực tế của tàu tại thời điểm chuyển nhượng và số lãi phát sinh trong phần giá trị được nhận chuyển nhượng. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Cơ chế chuyển đổi chủ tàu được quy định tại Khoản 3 Điều 1, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, trong đó chủ tàu mới tiếp tục được hưởng hỗ trợ lãi suất khi nhận bàn giao lại tàu và khoản nợ vay từ chủ tàu cũ. Tuy nhiên, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP và các văn bản liên quan không quy định cơ chế xử lý đối với phần dư nợ còn thiếu cho NHTM trong trường hợp chủ tàu mới chỉ nhận nợ tương ứng với giá trị con tàu được định giá lại tại thời điểm bàn giao (thấp hơn dư nợ thực tế của chủ tàu cũ).
Việc Chính phủ cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu nhằm tạo điều kiện cho chủ tàu mới thực sự có năng lực tài chính, năng lực khai thác, sử dụng tàu hiệu quả hơn nhưng vẫn phải bảo toàn vốn vay cho NHTM. Trên thực tế, nhiều chủ tàu không trả nợ vay khi đến hạn dẫn đến giá trị thực tế của con tàu luôn thấp hơn dư nợ vay ngân hàng nên đề nghị được chuyển đổi chủ tàu và bàn giao khoản nợ vay. Đối với những trường hợp này, UBND tỉnh Ninh Thuận cần vận động chủ tàu cũ trả nợ cho NHTM (trước thời điểm bàn giao tàu) phần dư nợ chênh lệch giữa dư nợ hiện tại và giá trị thực tế của con tàu được định giá lại; đồng thời, vận động chủ tàu mới nhận bàn giao tàu và khoản nợ vay theo đúng số dư nợ còn lại theo quy định để đảm bảo lợi ích hợp pháp của NHTM và các bên liên quan khi thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu theo Nghị định số 17/2018/NĐ-CP.
Liên quan đến kiến nghị này, NHNN đã có công văn số 9936/NHNN-TD ngày 26/12/2018 trả lời kiến nghị của UBND tỉnh Ninh Thuận.
* Cần rà soát lại những hộ ngư dân vay vốn theo Nghị định số 67/NĐ-CP, có phương án xử lý nợ đọng. (Cử tri tỉnh Thái Bình)
Tình trạng nợ xấu có xu hướng gia tăng tại hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển (chiếm gần 13,5% tổng dư nợ cho vay). Ngoài một số nguyên nhân khách quan, bất khả kháng thì còn do nhiều ngư dân có thái độ chây ì, thiếu trách nhiệm trong trả nợ ngân hàng. NHNN đã kịp thời rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất thực hiện một số giải pháp đồng bộ từ các bộ, ngành trung ương đến chính quyền địa phương các cấp, các hiệp hội nhằm hỗ trợ ngư dân, hỗ trợ ngân hàng thương mại thu hồi nợ vay, tránh phát sinh nợ xấu.
Theo đề xuất của NHNN, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 10048/VPCP-KTTH ngày 16/10/2018 chỉ đạo:
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển thực hiện rà soát, xử lý theo quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ các trường hợp chủ tàu không đủ năng lực để hoạt động khai thác hải sản, có nhu cầu chuyển nhượng lại tàu; phối hợp với ngành ngân hàng đôn đốc ngư dân trả nợ vay đúng hạn. Trường hợp chủ tàu có khả năng trả nợ ngân hàng nhưng cố tình chây ì, không trả nợ theo cam kết thì xử lý theo quy định; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu đúng về chính sách của Nhà nước.
- Bộ Tài chính khẩn trương ban hành Thông tư hướng dẫn theo quy định của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 và Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 làm cơ sở để các ngân hàng và cơ quan liên quan triển khai thực hiện.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Hội, Hiệp hội thủy sản hướng dẫn, vận động hội viên tuân thủ quy định của pháp luật về thực hiện các chính sách phát triển thủy sản, trong đó có các cam kết (vay, trả nợ) theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
- NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền kiến nghị của một số địa phương để đảm bảo hiệu quả thực hiện, hạn chế nợ xấu.
* Các hợp tác xã gặp nhiều khó khăn về vốn, năng lực điều hành, trình độ quản lý yếu, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và tiếp cận thị trường gặp nhiều khó khăn làm cho hoạt động không hiệu quả. Đề nghị Chính phủ xem xét, có chính sách hỗ trợ ưu đãi về vốn vay. (Cử tri thành phố Hải Phòng)
Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ việc cho vay đối với khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã (HTX) phục vụ sản xuất, kinh doanh. Cụ thể:
- Giảm 0,5% lãi suất trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó áp dụng đối với HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ;
- Tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 55/2015/NĐ-CP, trong đó: (i) HTX và Liên hiệp HTX được các TCTD cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa từ 01 đến 03 tỷ đồng; (ii) các HTX ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được TCTD xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70%-80% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết;
- Chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, các TCTD triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho các HTX.
- Chỉ đạo các TCTD: (i) Phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh triển khai Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, trong đó có HTX khi tiếp cận vốn; (ii) Xây dựng và ban hành quy trình nội bộ, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ trong quá trình thẩm định cho vay qua đó tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản; (iii) Nghiên cứu các sản phẩm, chương trình tín dụng với lãi suất hợp lý, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để tăng khả năng tiếp cận vốn của khách hàng; (iv) Đổi mới quy trình, thủ tục cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn...
Đến ngày 30/9/2018, dư nợ đối với HTX, liên hiệp HTX đạt 4.948 tỷ đồng, với khoảng trên 1.200 HTX, liên hiệp HTX (bình quân dư nợ mỗi HTX tại TCTD đạt khoảng 4,1 tỷ đồng, cao hơn doanh thu bình quân của 01 HTX trong năm 2018). Tuy nhiên, việc mở rộng đầu tư tín dụng đối với lĩnh vực này vẫn còn nhiều khó khăn. Phần lớn các HTX có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, phương án kinh doanh khả thi trong khi đây lại là yếu tố tiên quyết giúp các HTX có thể đáp ứng điều kiện để được ngân hàng chấp thuận cho vay. Bên cạnh đó, các HTX còn hạn chế trong quản trị, điều hành, thiếu công khai minh bạch và thực hiện chưa đúng quy định về quản lý tài chính, kế toán, không tuân thủ các nguyên tắc của Luật HTX 2012, Điều lệ và các quy định của pháp luật có liên quan, làm ảnh hưởng đến quá trình xem xét và thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM1.
Bên cạnh các chính sách của NHNN, cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương như: (i) Bộ Tài chính sớm hoàn thiện dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Trung ương và Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX địa phương; (ii) Các địa phương cần quan tâm hơn nữa trong việc cân đối nguồn kinh phí từ ngân sách tỉnh, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương để có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX; tuyên truyền, tập huấn, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX; (iii) Các HTX cần hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh; tuân thủ quy định của pháp luật; chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, tích cực tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của sản phẩm, tạo điều kiện cho các TCTD kiểm soát dòng tiền và tình hình tài chính trong quá trình vay vốn.
1 Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2018, doanh thu bình quân của 01 HTX đạt khoảng 4 tỷ đồng, lãi bình quân của 01 HTX là 277 triệu đồng/năm. Chỉ có 16,9% tổng số cán bộ quản lý HTX đạt trình độ cao đẳng, đại học, 43% đạt trình độ sơ, trung cấp, còn lại khoảng 40% chưa qua đào tạo.