a) Tên Đề tài: Phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong rủi ro khủng hoảng nợ công - Mã số: ĐTNH.016/18
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: PGS.TSKH. Nguyễn Ngọc Thạch - Viện trưởng, Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
- Thư ký: TS. Lê Hoàng Anh - Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh..
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Cơ sở lý luận về phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong rủi ro khủng hoảng nợ công;
- Thực trạng phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong bối cảnh căng thẳng nợ công gia tăng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới;
- Các cơ chế và giải pháp phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ nhằm phòng tránh rủi ro khủng hoảng nợ công tại Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 5/2019.
- Thời gian kết thúc: Tháng 08/2020
e) Kinh phí thực hiện: 180 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu để đề xuất các cơ chế và giải pháp phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ (CSTK và CSTT) nhằm phòng tránh khủng hoảng nợ công tại Việt Nam, đề tài ĐTNH.016/18 triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về phối hợp CSTK và CSTT trong rủi ro khủng hoảng nợ công, gồm các khái niệm cơ bản, cơ chế phối hợp CSTK và CSTT trong rủi ro khủng hoảng nợ công, kinh nghiệm phối hợp CSTK và CSTT trong quản lý nợ công của một số quốc gia trên thế giới. Qua đó, nhóm nghiên cứu rút ra một số kết luận như: Khi CSTT đóng vai trò hỗ trợ CSTK sẽ khiến CSTK trở nên lỏng lẻo, thâm hụt và lạm phát; Để phối hợp CSTK và CSTT có thể phối hợp nhịp nhàng, các quốc gia mới nổi cần tăng cường phát triển thị trường trái phiếu nội địa; Cần củng cố tài khóa; Cần phải có một cơ chế trao đổi thông tin giữa hai cơ quan quản lý; Để giữ ổn định ngân sách và giảm nợ công, một số quốc gia đang phát triển thực thi chính sách lạm phát mục tiêu.
Chương 2 nghiên cứu thực trạng phối hợp CSTK và CSTT trong bối cảnh căng thẳng nợ công gia tăng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009, đánh giá các mặt được/chưa được trong phối hợp chính sách và nguyên nhân của những hạn chế trong phối hợp CSTK và CSTT trong giai đoạn này. Cụ thể, Nhóm nghiên cứu cho rằng các nguyên nhân cơ bản bao gồm: việc xác định mục tiêu KTVM chưa sát với thực trạng nền kinh tế; Cơ chế chia sẻ và công bố thông tin giữa Bộ Tài chính và NHNN mặc dù đã được thiết lập nhưng các nội dung chưa đầy đủ, thực thi chưa tốt; công tác thống kê, dự báo chưa tốt; Các thiết chế độc lập đánh giá CSTK, CSTT chỉ được sử dụng như các ý kiến tư vấn, do đó chưa hỗ trợ hiệu quả cho quá trình ra quyết định.
Chương 3 triển khai nghiên cứu định lượng về tác động của CSTK và CSTT đến nợ công tại Việt Nam thông qua mối quan hệ giữa các biến tăng trưởng, nợ công, thâm hụt ngân sách, lạm phát, cung tiền. Chương 4 tập trung đề xuất các cơ chế và giải pháp phối hợp CSTK, CSTT nhằm phòng tránh rủi ro khủng hoảng nợ công tại Việt Nam./.