Thực hiện phân công, trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, ý kiến các cơ quan của Quốc hội, các thành viên Ủy ban và kết luận của UBTVQH, Ủy ban Kinh tế xin thay mặt Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban báo cáo Quốc hội như sau:
1. Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020
Ủy ban Kinh tế cơ bản nhất trí với kết quả đạt được như Báo cáo của Chính phủ, đại dịch Covid-19 bùng phát, gây ảnh hưởng lớn, nghiêm trọng hơn dự đoán đến hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế thế giới. Trong nước, dịch bệnh bùng phát trong các tháng 3 - 4/2020 và tháng 7 - 8/2020 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế và đời sống Nhân dân. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo quyết liệt, hành động kịp thời của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự chủ động tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp và sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân, bước đầu dịch bệnh đã được kiểm soát thành công, từng bước hỗ trợ phục hồi hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước ta; nâng cao vai trò, khẳng định vị thế đất nước và sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Năm 2020 dự kiến có 08/12 chỉ tiêu đạt và vượt, GDP tăng trưởng dương (ước đạt trên 2%) là một điểm sáng trong khu vực và thế giới. Nhiều giải pháp, chính sách đã được ban hành, hỗ trợ nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân bước đầu vượt qua khó khăn, khôi phục và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội. Lãi suất điều hành đã 3 lần giảm trong 9 tháng để kích thích kinh tế. Dù gặp khó khăn, công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng tăng 4,6%. Một số nhóm ngành dịch vụ thích ứng tốt hơn với bối cảnh mới. Nông nghiệp khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới về đích trước 1,5 năm. Hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA 41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Các lực lượng chức năng phối hợp hiệu quả, xử lý tốt những tình huống phức tạp trên biển Đông.
Giai đoạn 2016-2020, sau 4 năm đầu thực hiện đạt và vượt nhiều chỉ tiêu kế hoạch, năm 2020 đại dịch Covid-19 bùng phát, cùng với ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu đã tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện một số chỉ tiêu. Theo đánh giá sơ bộ 5 năm, có 15 chỉ tiêu đạt và vượt, 4 chỉ tiêu không đạt. Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, vững chắc; lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp, giá cả hàng hóa diễn biến tương đối ổn định; tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao (bình quân 6,8%/năm). Xây dựng thể chế đạt nhiều kết quả tích cực, hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành ngày càng đồng bộ, hoàn thiện và bao quát hơn, lần đầu thực hiện kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm và kế hoạch đầu tư công 5 năm. Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, chất lượng tăng trưởng được nâng cao; năng suất lao động được cải thiện; cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu đầu tư chuyển dịch đúng hướng và tích cực.
Kỷ cương, kỷ luật tài chính ngân sách được tăng cường, cơ cấu thu bền vững hơn; bội chi ngân sách, các chỉ tiêu an toàn nợ được quản lý, kiểm soát chặt chẽ. Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt; cán cân thanh toán thặng dư, dự trữ ngoại hối tăng; nợ xấu được xử lý, kiểm soát tốt... Hiệu quả đầu tư được cải thiện, hệ số ICOR giảm; điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, thanh kiểm tra chuyên ngành được cắt giảm; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh; cán cân xuất, nhập khẩu hàng hóa chuyển từ thâm hụt sang thặng dư, xuất siêu 5 năm liên tiếp và đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Công tác điều hành của Chính phủ tiếp tục có nhiều đổi mới, tập trung vào xử lý nhiều vấn đề kinh tế - xã hội khó khăn, thể hiện sự năng động, nhất quán, sâu sát, quyết liệt. Cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Việt Nam được đánh giá là nước cải thiện tốt nhất về năng lực cạnh tranh toàn cầu. Hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân có bước phát triển; các lĩnh vực khoa học công nghệ, lao động và việc làm đạt một số kết quả nhất định. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước được kiện toàn, tinh giản biên chế đạt kết quả bước đầu. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng; chính sách người có công, an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; giảm nghèo đi vào thực chất hơn. Công tác người cao tuổi, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được quan tâm chỉ đạo. Thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động y tế cơ sở có tiến bộ, y tế dự phòng được tăng cường; giáo dục và đào tạo từng bước đổi mới, đạt nhiều giải cao tại các kỳ thi quốc tế.
Cải cách tư pháp đã được thực hiện khá đồng bộ, kịp thời. Nhiều vi phạm pháp luật và tội phạm được xử lý nghiêm; một số vụ án tham nhũng, kinh tế lớn được phát hiện, điều tra và đưa ra xét xử, nhận được sự đồng tình và ủng hộ của Nhân dân. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, tham mưu tốt hơn các vấn đề chiến lược; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh, đi vào chiều sâu, thực chất hơn, quan hệ với các đối tác tiếp tục được mở rộng, ký kết và triển khai nhiều hiệp định thương mại tự do.
Để nhìn nhận đầy đủ, toàn diện hơn kết quả đạt được và hạn chế của năm 2020 và 5 năm 2016-2020, đề nghị Chính phủ quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số vấn đề sau đây:
- Về công tác triển khai chính sách: Rà soát, đánh giá rõ hơn kết quả, tỷ lệ giải ngân các gói hỗ trợ kinh tế, an sinh xã hội; làm rõ khó khăn, vướng mắc; nghiên cứu bổ sung các giải pháp thực hiện mục tiêu phòng, chống đại dịch Covid-19 và hỗ trợ phục hồi kinh tế những tháng cuối năm 2020 và giai đoạn tiếp theo.
- Về tăng trưởng kinh tế: ứng dụng của khoa học, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất, tuy nhiên đào tạo nhân lực, thu hút đầu tư và nguồn lực tài chính cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao và làm chủ công nghệ tiên tiến cần được phân tích rõ hơn; đánh giá thêm hiệu quả của liên kết vùng trong phát huy thế mạnh của các vùng kinh tế, các đô thị lớn chưa trở thành động lực cho tăng trưởng và phát triển.
- Về sản xuất công nghiệp: Sản xuất công nghiệp đạt kết quả cao, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phát huy vai trò động lực, tuy nhiên còn thiếu sản phẩm công nghiệp có thương hiệu, sức cạnh tranh sản phẩm và bảo vệ thương hiệu trong nước chưa phát huy hiệu quả. Đề nghị báo cáo rõ hơn về công tác xây dựng quy hoạch và phương án bảo đảm an ninh năng lượng.
- Về sản xuất nông nghiệp: Chất lượng tăng trưởng ngành nông nghiệp được cải thiện, tuy nhiên năng suất lao động còn thấp, nguồn vốn phân bổ và thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng, thiếu nguồn lực để thực hiện. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, tuy nhiên còn chưa đồng đều giữa các vùng, miền.
- Về hoạt động thương mại: Thương mại trong nước được cải thiện, tuy nhiên, cơ cấu sở hữu trong hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại đang tập trung ngày càng nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đề nghị báo cáo thêm về việc ứng phó và vận dụng hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại; công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, xuất xứ; công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thương mại điện tử.
- Về vốn đầu tư: Cơ cấu huy động vốn đầu tư chuyển dịch phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tiếp tục phát triển nhanh. Những hạn chế, tồn tại trong giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn từng bước được tháo gỡ, tuy nhiên vẫn còn tình trạng giao vốn và giải ngân chậm; một số công trình, dự án quan trọng quốc gia triển khai chậm và còn vướng mắc.
- Về thu - chi ngân sách nhà nước: Vượt thu ngân sách địa phương khá cao nhưng chủ yếu là từ vốn và đất đai; cơ cấu NSTW/NSĐP trong tổng mức bố trí nguồn chi đầu tư phát triển chỉ đạt 40/60, không đạt theo Nghị quyết của Quốc hội. Thu từ 3 khối doanh nghiệp không đạt dự toán. Tỷ trọng chi thường xuyên đã giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao. Việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở một số địa phương còn hạn chế.
Năm 2020, đề nghị đánh giá rõ thêm về khả năng thu, tình hình hụt thu và việc giảm chi theo quy định và mức bội chi hợp lý những tác động đến nợ công, kinh tế vĩ mô.
- Về lĩnh vực ngân hàng: Việc triển khai cơ cấu lại các ngân hàng mua bắt buộc, việc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 còn gặp khó khăn, vướng mắc. Cần báo cáo rõ hơn về tính hiệu quả của các chính sách hỗ trợ vốn tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ tài chính.
Năm 2020, đề nghị báo cáo cụ thể hơn về tình hình nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng; tình trạng một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng ưu đãi.
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: Tốc độ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng có phần chững lại; triển khai nhiều dự án còn chậm; chưa hoàn thành mục tiêu 2.000 km đường bộ cao tốc; đường sắt, đường thủy chưa được quan tâm đúng mức. Hạ tầng đô thị lớn quá tải; hạ tầng nông thôn ở các tỉnh miền núi và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ cần tiếp tục được quan tâm, đầu tư đúng mức; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo phương thức đối tác công tư còn hạn chế.
- Về quy hoạch: Công tác lập quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia thời kỳ 2021-2030 còn chậm; nhất là quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh của một số địa phương.
- Về hoạt động doanh nghiệp: Năm 2020, do tác động của đại dịch Covid-19, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, lao động thất nghiệp tăng, quan hệ lao động có thể diễn biến phức tạp trong thời gian tới, cần được quan tâm, xử lý kịp thời.
- Về công tác xây dựng pháp luật: Công tác xây dựng thể chế được chú trọng với số lượng lớn văn bản pháp luật được ban hành, tuy nhiên một số quy định dưới luật ban hành chậm, còn chồng chéo, thiếu khả thi và chậm sửa đổi; một số dự án luật được chuẩn bị không đáp ứng tiến độ.
- Về tư pháp: Đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp phòng, chống tham nhũng, tuy nhiên, kết quả trong một số ngành, lĩnh vực, địa phương còn hạn chế.
- Về giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp: Chất lượng giáo dục các cấp được nâng lên. Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp nhiều nơi xuống cấp; đào tạo chưa gắn chặt với thị trường lao động; mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn còn chồng chéo; phân luồng đào tạo chưa có nhiều chuyển biến, cần tiếp tục có giải pháp khắc phục.
- Về lao động, việc làm: Các chính sách phát triển thị trường lao động còn thiếu đồng bộ; kết nối cung - cầu, điều tiết thị trường lao động còn hạn chế.
Với năm 2020, đề nghị phân tích kỹ hơn về những khó khăn của thị trường lao động theo các diễn biến dịch bệnh Covid -19, xu hướng chuyển đổi loại hình công việc trong bối cảnh mới.
- Về lĩnh vực y tế - dân số: Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh được nâng lên, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, chất lượng khám, chữa bệnh giữa các tuyến, các vùng còn chênh lệch. Hiệu quả hoạt động mạng lưới y tế cơ sở chưa cao, tình trạng quá tải tuyến trên vẫn xảy ra. Làm rõ việc bố trí ngân sách cho y tế dự phòng; chính sách xã hội hóa trong các bệnh viện công lập. Đề nghị đánh giá đầy đủ về già hóa dân số gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển kinh tế.
- Về phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi: Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn cao; việc giải quyết đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng còn yếu kém; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung.
- Về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu: Những ngày gần đây, mưa lũ kéo dài gây sụt lở tại các tỉnh miền Trung gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của Nhân dân. Tình trạng ô nhiễm không khí, bụi mịn ảnh hưởng sức khỏe người dân một số thành phố lớn. Đề nghị tăng cường công tác dự báo, cảnh báo, giám sát thiên tai, bảo đảm kịp thời, đủ độ tin cậy, hỗ trợ, giúp đỡ người dân khắc phục hậu quả sau thiên tai; kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải vào các con sông gây ô nhiễm môi trường; báo cáo, làm rõ mức độ hoàn thành, hiệu quả của các nhóm giải pháp ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu, nhất là đối với Đồng bằng sông Cửu Long; tình trạng hồ, đập chưa được sửa chữa, không bảo đảm an toàn; nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm, cạn kiệt.
- Về hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế: bổ sung đánh giá việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tiến trình thực hiện các cam kết; khẩn trương ban hành chính sách, các bộ tiêu chí, quy định mang tính quy chuẩn, các hàng rào kỹ thuật để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước; nhấn mạnh kết quả và vai trò Chủ tịch AIPA 41 trong năm 2020.
- Về các lĩnh vực khác: Khiếu kiện về đất đai vẫn còn phức tạp ở nhiều địa phương; công tác phòng cháy, chữa cháy, tai nạn, ùn tắc giao thông, tín dụng đen, an ninh trật tự, tội phạm mạng, quản lý thông tin trên internet, buôn bán ma túy; phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em... cần được quan tâm hơn.
2. Một số định hướng lớn cho giai đoạn 2021-2025
(1) Để có cơ sở vững chắc, đề nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 thận trọng; giải trình đầy đủ cơ sở khi áp dụng cách tính GDP mới và trình Quốc hội xem xét quyết định.
(2) Hoàn thiện thể chế, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số. Đẩy nhanh xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với xây dựng chính quyền điện tử hướng tới Chính phủ số. Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng. Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ cao, kinh tế hộ gia đình.
(3) Hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng; đẩy mạnh hơn nữa tiến trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Tập trung xử lý dứt điểm cơ cấu lại các ngân hàng mua bắt buộc. Nâng cao quy mô và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán.
(4) Khai thác hiệu quả thị trường trong nước, các hiệp định thương mại tự do, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các cuộc xung đột thương mại đến xuất khẩu; nâng cao uy tín, chất lượng hàng Việt Nam, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và lợi ích người tiêu dùng.
(5) Phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng; công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với công nghệ thông minh; tăng cường liên kết với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Thu hút đầu tư, phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao; xanh, sạch, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong tình hình mới.
(6) Thực hiện hiệu quả cơ cấu lại đầu tư công; cơ cấu lại NSNN theo hướng bền vững; thực hiện nghiêm nguyên tắc chỉ vay nợ cho chi đầu tư phát triển. Hoàn tất sắp xếp lại DNNN, bảo đảm công khai, minh bạch trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước; xử lý dứt điểm yếu kém, thua lỗ, thất thoát của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Sắp xếp, cải cách các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ công. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng cả về quy mô, chất lượng; hỗ trợ chuyển đổi hộ sản xuất, kinh doanh thành doanh nghiệp.
(7) Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị; hoàn thiện hệ thống quy hoạch quốc gia, thể chế, pháp luật về vùng, quy chế phối hợp điều hành liên kết vùng; phân cấp, phân quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương.
(8) Tập trung nguồn lực hoàn thành đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông, giai đoạn 1 dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; đầu tư các công trình giao thông trọng điểm theo quy hoạch; đưa vào vận hành an toàn các dự án nguồn điện và lưới điện theo đúng tiến độ. Xây dựng các công trình thủy lợi, hồ chứa nước trọng yếu, nhất là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Tăng cường năng lực hệ thống hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là đồng bằng sông Cửu Long.
(9) Cơ cấu lại hệ thống trường đại học, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là nhân lực chất lượng cao; thu hút, đào tạo nguồn nhân lực cho văn hóa, thể thao, một số ngành nghề nghệ thuật; thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học xã hội và nhân văn, gắn kết chặt chẽ với khoa học tự nhiên và công nghệ. Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
(10) Tiếp tục sắp xếp các trung tâm, đơn vị làm nhiệm vụ y tế dự phòng cấp tỉnh và Trung ương; thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; bổ sung, hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công; phát triển các dịch vụ hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới; tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, phòng, chống tai nạn, bạo lực với trẻ em.
(11) Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cấp. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ và giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế.
3. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021
- Về mục tiêu tổng quát: Đề nghị bổ sung nội dung về y tế, giáo dục - đào tạo, và triển khai các FTA mà Việt Nam là thành viên.
- Về các chỉ tiêu: Báo cáo rõ về cơ sở đề xuất các chỉ tiêu mới; nghiên cứu bổ sung các chỉ tiêu mang tính tổng hợp, định lượng hơn, lưu ý các chỉ tiêu về y tế, giáo dục, như tỷ lệ dân số được quản lý sức khỏe, suy dinh dưỡng trẻ em…
- Về nhiệm vụ, giải pháp: Uỷ ban Kinh tế cơ bản đồng tình với Báo cáo của Chính phủ và đề nghị quan tâm thêm các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
(1) Bảo đảm tiến độ và chất lượng các dự án luật. Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, đình chỉ, thu hồi các văn bản sai nội dung, trái thẩm quyền. Khẩn trương có giải pháp chỉ đạo điều hành quyết liệt để lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030 và sớm phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(2) Theo dõi chặt chẽ tình hình kinh tế, chiến lược và chính sách của các nước đối tác của Việt Nam, các nước lớn, nhất là của Mỹ và quan hệ Mỹ - Trung; chuẩn bị các kịch bản để ứng phó các nguy cơ tranh chấp thương mại quốc tế; từng bước khôi phục hoạt động xuất nhập khẩu.
(3) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tiến độ các công trình trọng điểm quốc gia, các dự án phát triển nguồn và lưới điện, không để thiếu điện. Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long. Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Sửa chữa, bảo dưỡng các hồ, đập mất an toàn; đầu tư xây dựng các hồ chứa nước ngọt quy mô lớn.
(4) Bố trí nguồn lực và thực hiện giải pháp phù hợp về thuế, phí, lệ phí, khoanh nợ, giãn nợ… để tiếp tục duy trì và phục hồi hoạt động doanh nghiệp, giữ việc làm cho người lao động. Tăng cường các chính sách, giải pháp để tạo việc làm mới cho giai đoạn hậu Covid-19.
(5) Đầu tư củng cố hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe, trang bị các thiết bị y tế đầy đủ; chủ động tăng cường phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và các dịch bệnh khác; chú trọng công tác lồng ghép các yếu tố dân số trong quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
(6) Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa và tài liệu giáo dục địa phương theo đúng lộ trình. Có giải pháp để điều tiết giá sách giáo khoa, bảo đảm nguyên tắc cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Bố trí đủ kinh phí để chuẩn bị, triển khai tổ chức Seagames, Paragames.
(7) Chủ động xây dựng chính sách phù hợp để tăng sức hút dòng vốn FDI chất lượng cao đang có xu hướng dịch chuyển từ các nước khác sang Việt Nam. Tiếp tục thực hiện việc sắp xếp, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm đến năm 2021 giảm được 10% so với biên chế giao năm 2015.
(8) Xây dựng Chương trình hành động, sớm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vào cuộc sống; phấn đấu thực hiện thắng lợi ngay từ năm đầu. Bảo đảm bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm. Chủ động thực hiện các biện pháp bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới. Đẩy mạnh thực hiện phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; bảo đảm an ninh mạng.
Trên đây là Báo cáo tóm tắt thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021 và một số định hướng lớn giai đoạn 2021-2025, Ủy ban Kinh tế xin báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến và tập trung đánh giá về các nội dung trên trong quá trình thảo luận tại tổ và hội trường của Kỳ họp thứ 10./.