Ngày 28/02/2022, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố kết quả điều tra hoạt động của các chi nhánh và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại nước sở tại.
Đây là dữ liệu tổng hợp về tình hình hoạt động của FBOs và những thay đổi trong thập kỷ qua kể từ cuối năm 2010 đến cuối năm 2020 tại 24 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm một số nước phát triển (AEs) và mới nổi (EMEs) trên thế giới.
Theo đó, các ngân hàng nước ngoài hoạt động thông qua các chi nhánh và văn phòng đại diện (gọi chung là FBOs). Trong đó, mô hình văn phòng đại diện gần giống với mô hình của trụ sở chính (ngân hàng mẹ) là tập trung vào đồng bản tệ (nơi thành lập ngân hàng mẹ) và kinh doanh bán lẻ, đã giảm tỷ trọng tài sản trong FBO trong thập kỷ qua, bù lại là xu hướng tăng tỷ trọng tài sản của chi nhánh, vốn rất nhạy bén trước những thay đổi về dịch vụ ngân hàng quốc tế.
Kết quả điều tra cho thấy, các FBO có sự khác biệt về cơ cấu bảng cân đối tài sản. Cụ thể là, bảng cân đối tài sản của văn phòng đại diện có cơ cấu tương tự như của ngân hàng mẹ, trong khi bảng cân đối tài sản của chi nhánh lệ thuộc đáng kể vào những thay đổi thất thường về nguồn vốn kinh doanh và nắm giữ vị thế tương đối lớn trong bảng cân đối tài sản nội bộ của ngân hàng.
Trong thập kỷ qua, tỷ trọng tài sản của FBOs tương đối ổn định, nhưng có sự chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước mới nổi (chủ yếu là Trung Quốc), và từ văn phòng đại diện sang chi nhánh. So với văn phòng đại diện, các chi nhánh gây ra nhiều rủi ro hơn cho nước chủ nhà do tài sản của chi nhánh thay đổi thất thường, tài sản và các khoản cho vay của chi nhánh dao động mạnh hơn, và thích ứng nhanh chóng với điều kiện kinh tế và tài chính của quốc gia gốc. Ngoài ra, lợi nhuận của các văn phòng đại diện thường thấp hơn so với các ngân hàng sở tại, điều này giải thích tại sao các ngân hàng nước ngoài đã cắt giảm mạnh số lượng văn phòng đại diện và chuyển sang hiện diện dưới dạng chi nhánh.
Mô hình kinh doanh của ngân hàng nước ngoài thể hiện qua hai loại hình: Tập trung hóa toàn cầu và phi tập trung hóa đa quốc gia, với sự khác biệt về khách hàng và sản phẩm chính, mô hình cấp vốn, và sự lựa chọn giữa chi nhánh hay văn phòng đại diện.
Xu hướng tập trung hóa toàn cầu thể hiện chủ yếu tại các định chế tài chính và các tập đoàn đa quốc gia tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, quản lý kho bạc, và giao dịch ngân hàng qua biên giới (kết nối đồng tiền giữa các quốc gia). Nguồn vốn hoạt động do những đơn vị này tự huy động trên các thị trường tài chính bán buôn, chủ yếu là USD và những đồng tiền chủ chốt khác. Những đơn vị này quản lý vốn, tín dụng và thanh khoản tài sản theo mô hình tập trung, và hoạt động thông qua một số lượng nhỏ trung tâm tài chính hải ngoại. Nếu phải hiện diện tại nước ngoài, những đơn vị hoạt động theo mô hình này thường ưu tiên mở chi nhánh. Quy định pháp lý và tài chính đối với các chi nhánh gắn liền với ngân hàng mẹ và chủ yếu chịu sự giám sát của cơ quan quản lý trong nước (nơi ngân hàng mẹ hình thành). Do ít bị chi phối bởi các quy định và giám sát của nước sở tại, những chi nhánh này quản lý tín dụng và nguồn vốn theo nhu cầu tại nước ngoài của ngân hàng mẹ, như chuyển giao thanh khoản giữa các giao điểm khác nhau trong mạng lưới ngân hàng toàn cầu. Về đặc điểm phụ của tính linh hoạt này, các chi nhánh tránh được mô hình bảo hiểm tiền gửi của quốc gia sở tại và tiếp cận hạn chế nguồn tiền gửi bán lẻ tại nơi hoạt động.
Mô hình phân tán đa quốc gia tập trung vào việc cung cấp tín dụng dưới dạng đồng tiền của quốc gia sở tại, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn tại chỗ và hoạt động chính thông qua các văn phòng đại diện hoặc phối hợp với đối tác tại địa phương. Những đơn vị này chịu sự điều chỉnh và giám sát của quốc gia sở tại. Đổi lại, là được tiếp cận nguồn tiền gửi có bảo đảm từ trong nước.
Các văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài có cơ cấu bảng cân đối tài sản tương tự như ngân hàng địa phương, tập trung vào hoạt động cho vay đối với khách hàng (hơn là hoạt động liên ngân hàng, chứng khoán và phái sinh) và phụ thuộc nặng nề vào nguồn tiền gửi bán lẻ. Trái lại, bảng cân đối tài sản của các chi nhánh có vị thế nội bộ là chính và phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn bán buôn. Điều này thể hiện rõ nét tại VQ Anh và các nước phát triển.
Báo cáo của 16 quốc gia sở tại cho thấy, tỷ trọng tài sản của các chi nhánh trong tổng tài sản của FBOs tăng từ 8% vào năm 2010 lên 20% vào năm 2020, tỷ trọng tài sản của các văn phòng đại diện tăng từ 17% lên 21%.
Tỷ trọng tài sản của các ngân hàng EMEs trong tổng tài sản của FBOs ngày càng tăng, chủ yếu là do xu hướng mở rộng hoạt động tại nước ngoài của các ngân hàng Trung Quốc, khi các ngân hàng tìm kiếm dòng vốn đầu tư và điều kiện thương mại thuận lợi hơn là thiết lập quyền kinh doanh bán lẻ - một xu hướng ưa chuộng trong việc mở rộng mạng lưới chi nhánh. Cùng với xu hướng mở rộng cho vay qua biên giới, tỷ trọng của các ngân hàng Trung Quốc trong tổng tài sản của các chi nhánh trong mẫu điều tra tăng từ tỷ lệ dưới 4% vào năm 2010 lên 14% vào cuối năm 2020, riêng tỷ trọng ngân hàng trong tổng tài sản của các văn phòng đại diện vẫn ổn định quanh tỷ lệ 3%.
Về sự chuyển dịch cơ cấu tài sản của FBOs từ văn phòng đại diện sang chi nhánh, cả ở quốc gia sở tại AEs và EMEs. Trong thập kỷ kết thúc vào cuối năm 2020, tỷ trọng tài sản của các văn phòng đại diện trong tổng tài sản của FBOs giảm 2,4%. Đà sụt giảm này có thể phản ánh xu hướng về hiệu quả tài chính, khi các văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động tại nước ngoài - phần chủ chốt trong mô hình kinh doanh. Một phần là do lợi nhuận cận biên của các ngân hàng địa phương giảm tại nhiều nước, nhất là EMEs. Ngoài ra, các văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài phải cạnh tranh tìm kiếm khách hàng với các ngân hàng địa phương vốn được cho là có quy mô lớn hơn và có chất lượng dịch vụ cải thiện dần.
Trong khi văn phòng đại diện tương tự với các ngân hàng địa phương, biến động cho vay của các chi nhánh so với văn phòng đại diện cao hơn 75% tại AEs và 41% tại EMEs. Tổng tài sản cũng ghi nhận xu hướng tương tự, mặc dù không có sự khác biệt đáng kể giữa chi nhánh và văn phòng đại diện.
Thay đổi trong cơ cấu tài sản cũng cho thấy, các văn phòng đại diện nhạy bén với tình hình phát triển tại nước sở tại, trong khi các chi nhánh có mối liên kết chặt chẽ hơn với điều kiện bên ngoài (ngân hàng mẹ). Tài sản của văn phòng đại diện thích ứng với điều kiện tại địa phương, cả về điều kiện tài chính và tăng trưởng GDP thực; nhưng không nhạy bén với điều kiện bên ngoài (nơi ngân hàng mẹ hình thành), do phụ thuộc vào nguồn vốn và rủi ro tín dụng tại chỗ, tách bạch pháp lý và điều chỉnh khỏi ngân hàng mẹ.
Do tài sản thay đổi thất thường, các chi nhánh gây ra nhiều rủi ro hơn cho nước chủ nhà, và nhiều nước bày tỏ ưu tiên các văn phòng đại diện và tăng cường kiểm soát hoạt động của các chi nhánh, nhất là tại các nước phát triển. Tại một số quốc gia sở tại, các cơ quan quản lý bày tỏ lo ngại về bảng cân đối tài sản của các chi nhánh, và tìm cách giới hạn ảnh hưởng này của chi nhánh, thậm chí có thể thắt chặt kiểm soát hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: BIS tháng 02/2022)