Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á 2022 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tháng 4/2022 đánh giá cuộc chiến Nga - Ukraine đã làm gián đoạn nghiêm trọng triển vọng của châu Á đang phát triển trong khi vẫn đang phải vật lộn với đại dịch COVID-19. Mặc dù biến thể Omicron đã làm bùng phát các đợt lây nhiễm từ cuối năm 2021, nhưng tiến bộ về tiêm chủng — cùng với tác động ít nghiêm trọng hơn đến sức khỏe của Omicron — đã cho phép các nền kinh tế duy trì mở cửa hơn so với các đợt lây nhiễm trước. Trong bối cảnh đó, ADB dự báo tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của châu Á đang phát triển sẽ tiếp tục ở mức cao khoảng 5,2% vào năm 2022 và 5,3% vào năm 2023. Tuy nhiên tăng trưởng năm nay của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực sẽ vẫn dưới xu hướng trước đại dịch.
Sự phục hồi chưa đồng đều
Tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á đang phát triển đã phục hồi 6,9% trong năm 2021 nhờ hoạt động kinh tế trong nước gia tăng và tiếp tục mở rộng xuất khẩu. Mặc dù vậy, sự phục hồi không đồng đều giữa các tiểu vùng trong khu vực. GDP của Đông Á tăng 7,6% chủ yếu nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc (8,1%). Caucasus và Trung Á tăng trưởng 5,6%, được hỗ trợ bởi giá hàng hóa cao hơn, tuy nhiên, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn ở mức thấp hơn 4% so với xu hướng trước đại dịch. Nam Á đạt tốc độ tăng trưởng 8,3% nhưng mức chênh lệch so với trước đại dịch là khoảng 8%, mặc dù tiêu dùng và đầu tư ở Ấn Độ tăng mạnh. Tại Đông Nam Á, tăng trưởng năm 2021 chỉ đạt 2,9%, thấp hơn so với xu hướng trước đại dịch là 10%; trong khi mức chênh lệch này của Thái Bình Dương là 12%. Sự phục hồi ở các tiểu vùng này đã bị trì hoãn do các biện pháp ngăn chặn lây lan của đại dịch đã tác động nghiêm trọng đến hoạt động trong nước và giao thông quốc tế, đặc biệt là các nền kinh tế phụ thuộc vào du lịch. Trong khi đó, Đông Á là nơi đi ngược lại xu hướng chung của toàn khu vực khi mức độ chênh lệch so với xu hướng trước đại dịch chỉ là 1% nhờ vào sức cầu bên ngoài tăng mạnh.
Lạm phát tại các nền kinh tế châu Á đang phát triển đã giảm thấp hơn từ mức 3,2% vào năm 2020 xuống 2,5% vào năm 2021 do giá lương thực giảm, chuỗi cung ứng tương đối linh hoạt và không quá căng thẳng. Nhưng áp lực giá cả đã tăng lên trong năm từ mức 1,2% vào tháng 1 lên 3,2% vào tháng 12/2021. Tính đến cuối năm 2021, lạm phát tăng mạnh nhất tại Caucasus và Trung Á (9,6%), tiếp đến là Nam Á (6,5%), Đông Nam Á (2,4%) và Đông Á (1,8%). Tuy nhiên mặt bằng lạm phát của khu vực vẫn khá thấp so với nhiều nơi khác trên thế giới.
Trong năm 2021, lượng kiều hối đến các nền kinh tế châu Á đang phát triển tiếp tục tăng mạnh và du lịch quốc tế đang có dấu hiệu phục hồi mới bắt đầu ở các nền kinh tế đang mở cửa trở lại. Thống kê tại 22 nền kinh tế châu Á cho thấy đến quý 3/2021, lượng kiều hối đã tang lên 7% so với cùng kỳ 2019. Lượng khách du lịch vẫn không đáng kể tại các nền kinh tế vẫn còn duy trì các biện pháp cách ly du khách đến. Tại những nơi các hạn chế đã được dỡ bỏ, lượng khách đến, đặc biệt là từ Châu Âu, đã tăng lên.
Các chính sách tài khóa và tiền tệ ở các nền kinh tế châu Á đang phát triển vẫn được duy trì nới lỏng trên diện rộng, nhưng khu vực này có thể đang trên đỉnh của chu kỳ thắt chặt. Trong khi chính sách tài khóa vẫn tiếp tục mang tính hỗ trợ ngay cả sau khi được nới lỏng đáng kể để giảm bớt tác động của COVID-19 vào năm 2020 và 2021. Các nhà chức trách dự kiến sẽ bắt đầu rút dần các biện pháp khẩn cấp được triển khai trong đại dịch và dần dần chuyển sang củng cố tài khóa trong năm nay và năm 2023. Một số ngân hàng trung ương cũng bắt đầu có quan điểm thắt chặt chính sách tiền tệ từ nửa cuối năm 2021 và những ngân hàng khác dự kiến sẽ có các hành động tương tự phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước, bao gồm cả áp lực lạm phát đang gia tăng. Trước các áp lực lạm phát ngày càng cao, một số nền kinh tế đã tiến hành nâng lãi suất như Azerbaijan, Kazakhstan, Pakistan và Hàn Quốc. Tại SriLanka, lãi suất được tăng còn nhằm ứng phó với những lo ngại về ổn định kinh tế vĩ mô.
Việc rút lui khỏi các hỗ trợ chính sách tại châu Á đang phát triển có thể sẽ được triển khai sớm hơn dự kiến dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Khi các nền kinh tế trong khu vực tiếp tục phục hồi, các chính sách hỗ trợ là cần thiết giúp các hoạt động trở lại bình thường một cách trơn tru như trước đại dịch. Quá trình bình thường hóa chính sách từng bước sẽ tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi. Tuy nhiên tốc độ thu hồi các hỗ trợ chính sách có thể phụ thuộc vào các yếu tố từ bên ngoài. Các ngân hàng trung ương trong khu vực có thể buộc phải thắt chặt chính sách tiền tệ nhanh hơn dự kiến trước các hành động mạnh của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lạm phát. Bên cạnh đó, giá năng lượng và hàng hóa tăng cao do tác động của cuộc chiến Nga- Ukraine cũng là một yếu tố khiến cho các cơ quan quản lý tiền tệ trong khu vực cần tiếp tục thận trọng.
Kinh tế khu vực tiếp tục phát triển mạnh
Theo ADB, tăng trưởng GDP ở các nước đang phát triển ở châu Á dự kiến sẽ tiếp tục duy trì mạnh mẽ, ở mức 5,2% vào năm 2022 và 5,3% vào năm 2023. Tuy nhiên, tốc độ phục hồi khác nhau giữa các tiểu vùng. Nhìn chung, tăng trưởng trong khu vực đang được hỗ trợ bởi sự phục hồi mạnh mẽ của xuất khẩu và nhu cầu trong nước ở các nền kinh tế đang tiếp tục bắt kịp xu hướng trước đại dịch, nhất là tại Nam Á. Tăng trưởng tại Caucasus và Trung Á được dự báo sẽ giảm từ mức 5,6% năm 2021 xuống 3,6% năm 2022 trước khi phục hồi lại mức 4,0% vào năm 2023. Đông Á được kỳ vọng bắt kịp với xu hướng tăng trưởng trước đại dịch vào năm 2021 và đạt tốc độ tăng trưởng bình thường hóa ở mức 4,7% vào năm 2022 và 4,5% vào năm 2023. Tiểu vùng Nam Á cũng được dự báo sẽ vẫn tăng trưởng mạnh vào năm 2022 ở mức 7,0% và tăng tốc lên 7,4% vào năm 2023. Các tiểu vùng khác cũng sẽ đạt được tỷ lệ tăng trưởng ở mức trung bình trước đại dịch trong năm nay hoặc năm sau.
Đông Nam Á tiếp tục có được động lực phục hồi và dự báo tăng trưởng 4,9% trong năm 2022 và 5,2% trong năm 2023. Cùng với tiến độ bao phủ vắc xin Covid-19 đang tăng lên và các hạn chế đi lại được nới lỏng. Tăng trưởng tại Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines và Timor-Leste được củng cố vững chắc nhờ tiêu dùng nội địa, đầu tư và niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp phục hồi mạnh mẽ. Trong khi đó các nền kinh tế như Cambodia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam sẽ được thúc đẩy nhờ lĩnh vực xuất khẩu. Bruinei cũng sẽ có sự tăng trưởng cao từ việc mở rộng sản lượng dầu mỏ và khí đốt. Ngược lại kinh tế Myanrma được dự báo sẽ tiếp tục giảm sút trong năm 2022 do những bất ổn về chính trị và tình hình an ninh không đảm bảo.
ADB cũng ước tính lạm phát của châu Á đang phát triển sẽ tăng lên 3,7% vào năm 2022 và duy trì ở mức mức trung bình khoảng 3,1% vào năm 2023, nhưng động lực tăng giá sẽ khác nhau giữa các nền kinh tế. Các cơ quan quản lý tiền tệ nên tiếp tục cảnh giác trước bất kỳ áp lực lạm phát nào đang nổi lên. Thặng dư tài khoản vãng lai sẽ thu hẹp do xuất khẩu tăng trưởng ổn định và nhập khẩu tiếp tục phục hồi.
Lạm phát ở châu Á đang phát triển vẫn thấp hơn xu hướng toàn cầu vào năm 2021, nhưng dự kiến sẽ tăng lên. Do lạm phát lương thực tương đối thấp, sự gián đoạn nguồn cung ít nghiêm trọng hơn và sự phục hồi không hoàn toàn, nên lạm phát khu vực vẫn ở mức vừa phải, khoảng 2,5% trong năm 2021. Tuy nhiên lạm phát của các nền kinh tế châu Á đang phát triển được dự báo sẽ tăng lên 3,7% trong năm 2022, trước khi giảm xuống 3,1% vào năm 2023. Những gián đoạn nguồn cung năng lượng, thực phẩm và các thị trường hàng hóa có thể khiến cho giá cả toàn cầu leo thang và gia tăng áp lực lạm phát tại các nền kinh tế châu Á đang phát triển, đặc biệt là những nơi đã có tỷ lệ lạm phát cao hơn trung bình trong lịch sử. Các tác động lan tỏa từ bất ổn trên các thị trường năng lượng sẽ là một thách thức đặc biệt đối với các cơ quan quản lý tiền tệ. ADB dự báo giá dầu mỏ năm nay có thể tăng cao hơn 50% so với 2021 và có nguy cơ gia tăng lạm phát toàn phần thêm 2 điểm phần tram – nhất là tại các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng lớn và những nơi có giá cước vận tải chiếm tỷ trọng lớn trong rổ CPI.
Thặng dư tài khoản vãng lai của Châu Á đang phát triển được dự báo sẽ giảm từ mức 1,3% GDP năm 2021 xuống 0,9% trong năm 2022 và tăng nhẹ lên 1,0% vào năm 2023. Sản lượng xuất khẩu từ Trung Quốc ổn định vào năm ngoái, nhưng tiếp tục tăng ở phần còn lại của khu vực, cao hơn 18% so với mức trước đại dịch vào tháng 12/2021. ADB cũng dự báo tốc độ tăng trưởng chậm hơn và sự chuyển hướng tiêu dùng trở lại với các dịch vụ tại các nền kinh tế phát triển sẽ làm giảm nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của châu Á đang phát triển, trong khi nhập khẩu sẽ tăng khi các nền kinh tế phục hồi. Thặng dư tài khoản vãng lai của Đông Á sẽ tiếp tục giảm xuống, trong khi thâm hụt sẽ tăng lên ở Nam Á. Các nền kinh tế xuất khẩu hàng hóa, chẳng hạn như ở Kavkaz và Trung Á, hầu hết sẽ chứng kiến tài khoản vãng lai được cải thiện trong năm nay.
Báo cáo của ADB cũng đưa ra một số rủi ro có thể làm giảm triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn của các các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, bao gồm các tác động trực tiếp và gián tiếp từ tình hình chiến sự leo thang tại Ukraine, tác động lan tỏa từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ ở Mỹ, khả năng xuất hiện nhiều biến thể COVID-19 gây chết người và sự gián đoạn liên quan đến các đợt bùng phát ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều rủi ro trung hạn vẫn còn tồn tại, bao gồm cả việc những tổn thất lớn tích tụ do việc đóng cửa trường học có nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng kinh tế.
MN (theo ADB)