Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Tác động của COVID-19 đến người tiêu dùng tài chính châu Á

14/04/2022 16:32:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã làm nổi bật sự cần thiết phải tập trung vào khả năng phục hồi tài chính của các cá nhân và hộ gia đình. Nhưng đồng thời, nó cũng thúc đẩy sự chuyển dịch theo hướng số hóa các dịch vụ tài chính, truyền thông và phản ứng chính sách. Các chính phủ trên khắp thế giới và ở châu Á đã nhanh chóng hành động để giảm thiểu một số tác động tiêu cực về tài chính do các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của vi rút COVID-19. Đặc biệt, các cơ quan chức năng đã đưa ra các biện pháp hỗ trợ tài chính toàn diện và bảo vệ người tiêu dùng, với mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ khả năng phục hồi tài chính của họ.

Khảo sát của OECD về trải nghiệm, hành vi và thái độ của người tiêu dùng tài chính liên quan đến các biện pháp chính sách hỗ trợ đối phó với các tác động của COVID-19 tại Campuchia, Indonesia và Malaysia cho thấy mặc dù cuộc khủng hoảng COVID-19 đã đặt ra một loạt rủi ro và thách thức mới đối với người tiêu dùng tài chính và làm trầm trọng thêm những vấn đề hiện có, nhưng nó cũng tạo ra các cơ hội mới thông qua quá trình số hóa.

COVID-19 tác động tiêu cực đến người tiêu dùng tài chính

Nghiên cứu về người tiêu dùng cho thấy rõ tác động tiêu cực của đại dịch đối với tình hình tài chính và khả năng phục hồi tài chính của người tiêu dùng ở khu vực châu Á. Theo khảo sát của EOCD, đại dịch COVID-19 có tác động tiêu cực đến hơn 3/4 số người được hỏi ở Campuchia, Indonesia và Malaysia. Trung bình, các nguồn khó khăn tài chính lớn nhất liên quan đến việc giảm tiết kiệm, mất hoặc giảm tiền lương/thu nhập từ việc làm hoặc tăng chi phí liên quan đến trách nhiệm và chăm sóc gia đình. Báo cáo cung cấp bằng chứng cho thấy khả năng phục hồi tài chính bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi đại dịch và cho thấy tỷ lệ người được hỏi có thể trang trải chi phí sinh hoạt chỉ trong vòng chưa đầy một tuần đã tăng lên ở ba quốc gia, so với trước đại dịch.

Tác động đến khả năng phục hồi tài chính và khả năng thực hiện các cam kết tài chính của người tiêu dùng. Theo OECD (2021) khả năng phục hồi tài chính có thể được coi là khả năng của các cá nhân hoặc hộ gia đình để chống lại, đối phó và phục hồi sau các cú sốc tài chính tiêu cực. Những cú sốc tài chính tiêu cực như vậy có thể là kết quả của nhiều sự kiện bất ngờ khác nhau, bao gồm cả các sự kiện liên quan đến việc làm, sức khỏe, thay đổi thành phần gia đình, thiệt hại tài sản trong gia đình hoặc các khoản chi lớn đột xuất khác, trong khi khả năng đối phó của các hộ gia đình phụ thuộc vào sự sẵn có của các các nguồn lực và khả năng huy động chúng.

Khả năng phục hồi tài chính của các hộ gia đình châu Á đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19 thông qua nhiều kênh khác nhau, như mất việc làm, giảm giờ làm hoặc giá cả tăng cao. Mất việc làm hoặc giảm giờ làm dẫn đến giảm đáng kể thu nhập, tác động trực tiếp đến tình hình tài chính của các hộ gia đình và khả năng phục hồi tài chính của người tiêu dùng. Ngoài ra, sự bất ổn của thị trường dẫn đến biến động giá cả thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái, tiếp tục làm suy giảm sức mua của một số hộ gia đình, và có khả năng làm giảm giá trị của các quỹ dự phòng. Ngoài tác động tức thời đến nguồn tài chính, cuộc khủng hoảng còn ảnh hưởng đến khả năng phục hồi tài chính theo những cách gián tiếp hơn, thông qua gia tăng mức độ không chắc chắn và gây khó khăn hơn trong việc tiếp cận hỗ trợ không chính thức từ gia đình, bạn bè và cộng đồng rộng lớn hơn (OECD, 2021).

Tác động đến số hóa các dịch vụ tài chính. Đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy sự chuyển dịch theo hướng số hóa nhiều hơn trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm dịch vụ tài chính, thông tin tài chính, giáo dục và tư vấn tài chính. Các dịch vụ tài chính kỹ thuật số đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng trong bối cảnh giãn cách và phong tỏa để phòng chống dịch bệnh. Vai trò của các dịch vụ tài chính kỹ thuật số trong cuộc khủng hoảng COVID-19 đã củng cố các xu hướng hiện có theo nhiều cách khác nhau.

Mặc dù những phát triển kỹ thuật số này thể hiện vai trò quan trọng của đổi mới kỹ thuật số như một phần của ứng phó với đại dịch, nhưng tác động của quá trình tăng tốc số hóa này cũng kéo theo những rủi ro đáng kể cho người tiêu dùng như tăng tính dễ bị tổn thương trước các rủi ro an ninh kỹ thuật số và nguy cơ loại trừ tài chính.

Rủi ro bảo mật kỹ thuật số đã tăng lên trong COVID-19 với các hình thức lừa đảo hoặc gian lận tài chính mới (như lừa đảo, gian lận qua mạng, lừa đảo liên quan đến mạng xã hội hoặc nền tảng đầu tư), cũng như gian lận nhắm vào những người nhận trợ cấp khẩn cấp của chính phủ, vi phạm dữ liệu, vi phạm quyền riêng tư và thao túng hành vi thành kiến của người tiêu dùng khi hoạt động trực tuyến.

Hơn nữa, cuộc khủng hoảng COVID-19 đã làm nổi lên tính chất dễ bị tổn thương của một số nhóm dân cư như người cao tuổi do hiểu biết kỹ thuật số hạn chế, những người không có ngân hàng hoặc các nhóm dễ bị tổn thương khác, những người không được tiếp cận các thiết bị kỹ thuật số. Điều này có nghĩa là những người bị loại trừ kỹ thuật số và những người cần hỗ trợ nhất cũng đang phải đối mặt với những thách thức trong việc thích ứng với số hóa các dịch vụ tài chính và tiếp cận các lợi ích công cộng và các biện pháp hỗ trợ được thực hiện thông qua thanh toán và chuyển tiền kỹ thuật số cho các hộ gia đình và doanh nghiệp.

Các biện pháp hỗ trợ tài chính toàn diện để ứng phó với COVID-19

Theo khảo sát về bao gồm tài chính và bảo vệ người tiêu dùng tài chính trong bối cảnh COVID19 do Lực lượng đặc nhiệm G20 / OECD về Bảo vệ người tiêu dùng tài chính thực hiện, nhiều khu vực pháp lý đã đưa ra các sáng kiến ​​hoặc biện pháp chính sách để hỗ trợ tài chính toàn diện ứng phó với COVID-19.

Thúc đẩy sử dụng thanh toán kỹ thuật số và các dịch vụ tài chính kỹ thuật số khác. Trong thời gian đại dịch, các chính phủ, ngân hàng trung ương và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính đã áp dụng nhiều biện pháp đặc biệt khác nhau để giúp mọi người thực hiện thanh toán kỹ thuật số, như khuyến khích người tiêu dùng thanh toán hàng hóa bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng thay vì bằng tiền mặt cũng như tăng giới hạn cho một số khoản thanh toán không tiếp xúc. Các biện pháp cũng đã được thực hiện để đảm bảo tiếp tục tiếp cận các dịch vụ ngân hàng hoặc cho phép mọi người thực hiện nhiều thanh toán trực tuyến hơn. Miễn giảm phí hoặc cho phép tiếp cận khẩn cấp vào nguồn tiền gửi có kỳ hạn cũng là các biện pháp phổ biến được sử dụng để hỗ trợ người tiêu dùng. Tại Malaysia, người tiêu dùng tài chính được tiếp cận liên tục các dịch vụ ngân hàng trong suốt thời kỳ đại dịch. Các biện pháp khuyến khích sử dụng thanh toán không tiếp xúc hoặc từ xa cũng đã được thực hiện ở Indonesia và Campuchia. Điều này đã thúc đẩy các công ty tài chính phát triển các nền tảng kỹ thuật số thân thiện và dễ tiếp cận hơn với người dùng và được các cơ quan quản lý tạo điều kiện thuận lợi.

Ví dụ, Ngân hàng Quốc gia Campuchia đã phát triển hệ thống thanh toán bán lẻ để tạo điều kiện kết nối thanh toán điện tử giữa các tổ chức tài chính và ngân hàng. Vào năm 2020, hệ thống BAKONG đã được giới thiệu, trong đó bao gồm một loại tiền kỹ thuật số và ví kỹ thuật số thông qua các ứng dụng ngân hàng di động. Mục đích là thúc đẩy việc sử dụng nội tệ và thanh toán điện tử ở Campuchia trên cơ sở thời gian thực để cải thiện tính liên kết và khả năng tương tác giữa các tổ chức tài chính và nhà cung cấp dịch vụ thanh toán khác nhau. Ngoài ra, việc áp dụng thanh toán bằng mã QR tiêu chuẩn hóa tại Campuchia (mã KHQR) đã đem lại nhiều tiện lợi hơn và một kênh chấp nhận rộng rãi hơn cho người dùng để thực hiện thanh toán điện tử. Tại Indonesia, NHTW đã khởi xướng Mã QR Tiêu chuẩn Indonesia (QRIS), một phương thức thanh toán bằng mã QR phổ biến có thể được sử dụng cho tất cả các nền tảng thanh toán bởi các nhà cung cấp thanh toán khác nhau. Một cơ sở hạ tầng hệ thống thanh toán có tên BI-FAST cũng được xây dựng để hỗ trợ thanh toán bán lẻ bằng nhiều loại của các công cụ và kênh thanh toán.

Tạo điều kiện thuận lợi cho sự gia nhập của các nhà cung cấp mới các sản phẩm và dịch vụ tài chính kỹ thuật số. Một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ là rất quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng tài chính và phát triển các sản phẩm kỹ thuật số mới để hỗ trợ tài chính toàn diện. Để thúc đẩy đổi mới và cạnh tranh, nhiều nước đã thực hiện các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho sự gia nhập của các nhà cung cấp mới sản phẩm và dịch vụ tài chính kỹ thuật số. Các biện pháp đó bao gồm việc sử dụng quy định cơ chế thử nghiệm và trung tâm đổi mới, sáng tạo; hỗ trợ pháp lý có mục tiêu, tư vấn, hướng dẫn hoặc miễn trừ một số quy định cụ thể.

Ví dụ: năm 2018, Bank Negara Malaysia đã ra mắt Trung tâm Đổi mới Tài chính Kỹ thuật số để hỗ trợ tài chính toàn diện cho người tiêu dùng Malaysia có thu nhập trung bình và thấp. Vào năm 2020, NHTW đã đưa ra một cơ chế quản lý mới cho những người mới tham gia hoạt động kinh doanh ngân hàng kỹ thuật số với một mục tiêu tài chính bao trùm rõ ràng (tức là phục vụ các thị trường chưa hoặc ít dịch vụ). NHTW Indonesia cũng tăng cường chức năng thử nghiệm của công nghệ hệ thống thanh toán. Cơ chế quản lý mới được gọi là Sandbox 2.0 bao gồm một cấu phần quy định thử nghiệm có tính đến các nhu cầu cụ thể của lĩnh vực Fintech dưới sự chuyển giao của NHTW. Tại Campuchia, Ngân hàng Quốc gia liên tục ban hành hướng dẫn để cung cấp các quy định rõ ràng và gắn kết với ngành dịch vụ tài chính liên quan đến fintech có thể mang lại lợi ích cho toàn ngành.

Mở rộng số hóa các khoản thanh toán của chính phủ. Tại các nền kinh tế có mức độ tài chính toàn diện kỹ thuật số cao hơn và cơ sở hạ tầng thích hợp, các dịch vụ tài chính kỹ thuật số tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các biện pháp hỗ trợ của chính phủ bằng cách thực hiện thanh toán và chuyển khoản cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa (MSMEs).

Các chính phủ đã cho phép các khoản thanh toán kỹ thuật số cho các cơ quan hành chính nhà nước (như thuế, phí, lệ phí) và tăng cường sử dụng các kênh kỹ thuật số để trả lương hưu, lương cho giáo viên và các khoản phúc lợi khác. Ví dụ, chính phủ Malaysia đã thực hiện chuyển tiền hỗ trợ trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của những người nhận đủ điều kiện. Một chiến dịch cũng được phát động để khuyến khích công chúng sử dụng các phương thức thanh toán kỹ thuật số khi thanh toán cho chính phủ (“Cashless Boleh Campaign”). Theo Kế hoạch chi tiết về nền kinh tế kỹ thuật số Malaysia (“MyDIGITAL”) được triển khai tháng 2/2021, chính phủ đã đặt mục tiêu cho phép thanh toán điện tử tại tất cả các cơ quan hành chính vào năm 2022. Tại Indonesia, NHTW đã hỗ trợ Chính phủ trong việc đẩy nhanh số hóa việc phân phối các chương trình an sinh xã hội (“Bansos”). Tại Campuchia, Chính phủ đã thiết lập khuôn khổ “Chính sách xã hội và kinh tế kỹ thuật số Campuchia 2021-2035”, bao gồm việc phát triển một hệ thống thanh toán kỹ thuật số toàn diện và có thể tương tác.

Mở rộng việc sử dụng ID kỹ thuật số để hỗ trợ thẩm định khách hàng/KYC. Nhiều quốc gia đã ban hành các quy định cho phép sử dụng nhiều hơn các ID kỹ thuật số, lần đầu tiên hoặc mở rộng ủy quyền đã được áp dụng cho một số nhà cung cấp hoặc phân khúc khách hàng nhất định. Ví dụ, Ngân hàng Negara Malaysia đã đưa ra các chính sách cho phép các tổ chức tài chính thực hiện các dịch vụ điện tử Know-Your-Customer (e-KYC) để hỗ trợ hơn nữa việc tiếp nhận các dịch vụ tài chính trực tuyến và quy trình nhận dạng kỹ thuật số. Chính sách e-KYC được ban hành vào tháng 6/2020 đã cho phép khách hàng sử dụng dịch vụ kỹ thuật số thực hiện mọi lúc và mọi nơi.

Mở rộng hoặc đảm bảo truy cập internet và các thiết bị điện tử và hỗ trợ tài chính toàn diện cho các nhóm đã xác định. Nhiều nước đã mở rộng truy cập internet và hỗ trợ tiếp cận các thiết bị điện tử trong cộng đồng cư dân, như một cách cho phép sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính kỹ thuật số. Đáng chú ý nhất, các nỗ lực đã được tập trung vào một số nhóm dễ bị tổn thương và không được phục vụ như MSMEs, người cao niên, thanh niên, phụ nữ và người di cư.

Điều chỉnh nội dung và cung cấp giáo dục tài chính và thúc đẩy hiểu biết về tài chính kỹ thuật số. Việc cung cấp giáo dục tài chính cũng là một thành phần quan trọng để giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng và tăng cường khả năng phục hồi tài chính của người tiêu dùng. Nhiều nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương đã tìm ra những cách hiệu quả để thay đổi phương thức chuyển giao trong thời gian ngắn. Ví dụ, Indonesia đã có một sự thay đổi quy mô lớn từ đào tạo trực tiếp sang trực tuyến thông qua việc cải thiện các ứng dụng kỹ thuật số, phương tiện truyền thông xã hội và các kênh dựa trên web. NHTW Malaysia và Mạng lưới Giáo dục Tài chính (FEN) đã đưa ra một chiến lược phổ biến tổng thể thông qua các thông điệp có mục tiêu tới các nhóm dễ bị tổn thương nhằm cung cấp thông tin chính về những rủi ro liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ kỹ thuật số và giúp người tiêu dùng điều hướng các biện pháp cứu trợ khác nhau hiện có. Ngân hàng Quốc gia Campuchia cũng đã và đang thúc đẩy hiểu biết về tài chính thông qua các công cụ khác nhau bao gồm nỗ lực đưa hiểu biết về tài chính vào chương trình giảng dạy ở trường học; nhắm mục tiêu các chương trình hiểu biết về tài chính cho phụ nữ; làm việc với các bên liên quan để nâng cao hiểu biết về tài chính thông qua chiến dịch “Let’s Talk Money” và dự án “Catalyzing Women’s Entrepreneurship”; và thực hiện các hội thảo về tài chính vi mô.

Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng tài chính

Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính đã sử dụng nhiều chiến lược và công cụ khác nhau để bảo vệ quyền lợi của những người tiêu dùng tài chính gặp khó khăn về tài chính và giúp họ quản lý tài chính cá nhân của mình. Ví dụ: nhiều nước ở Châu Á và trên toàn thế giới đã đưa ra các sáng kiến ​​liên ngành khác nhau để đảm bảo đối xử công bằng với khách hàng, cung cấp cho người tiêu dùng thông tin kịp thời để giúp họ quản lý tài chính của mình trong thời kỳ đại dịch hoặc để giúp người tiêu dùng tránh gian lận và lừa đảo.

Ngoài ra, các biện pháp cụ thể đa dạng đã được thực hiện để duy trì khả năng tiếp cận tín dụng cần thiết cho các hộ gia đình, và giảm nguy cơ vỡ nợ đối với khoản vay hiện có và nguy cơ giảm điểm tín dụng do chậm trả nợ. Cùng với nhau, các phương pháp tiếp cận như vậy nhằm xác định và ngăn ngừa hậu quả tiêu cực của việc bỏ lỡ các khoản thanh toán, giúp các hộ gia đình quản lý dòng tiền và duy trì sự sẵn sàng và khả năng cung cấp tín dụng của người cho vay. Về bảo hiểm, các công ty bảo hiểm và các nhà hoạch định chính sách tại Châu Á - Thái Bình Dương đã đưa ra một số chính sách và biện pháp được thiết kế để thông báo cho người tiêu dùng và các MSME về những lựa chọn có sẵn, đồng thời giúp họ tiếp cận và duy trì các chính sách bảo hiểm cũng như yêu cầu bồi thường nếu có liên quan.

Duy trì khả năng tiếp cận tín dụng và mức độ tín nhiệm hộ gia đình. Các biện pháp phổ biến nhất được thực hiện để hỗ trợ người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ tín dụng là cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ (ví dụ: thời hạn cho vay hoặc lãi suất). Các chương trình tái cơ cấu này thường đi kèm với các cơ hội để hoãn thanh toán, thông qua hình thức tín dụng công hoặc tư nhân. Các biện pháp khác bao gồm tăng cường công bố thông tin cho người vay, miễn phí và lệ phí cũng như cho phép tiếp cận khẩn cấp vào tín dụng bổ sung.

Ví dụ, cùng với việc nới lỏng một số quy định đối với các ngân hàng, Ngân hàng Quốc gia Campuchia đã ban hành các thông tư về cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong thời gian đại dịch cho khách hàng thuộc 4 lĩnh vực ưu tiên: du lịch, may mặc, xây dựng và vận tải, và sau đó đã mở rộng phạm vi sang các lĩnh vực bị ảnh hưởng khác. Các biện pháp bổ sung cũng bao gồm giảm lãi suất để giảm chi phí cấp vốn của ngân hàng và khuyến khích các ngân hàng giải ngân các khoản vay; giảm dự trữ bắt buộc đối với cả nội tệ và ngoại tệ.

Tại Indonesia, các kích thích chính sách đã được thực hiện để hỗ trợ các biện pháp của chính phủ nhằm đẩy nhanh quá trình phục hồi kinh tế quốc gia. Các quy định này bao gồm việc nới lỏng các quy định liên quan đến cơ cấu lại khoản vay đối với cá nhân, MSME và tập đoàn bị ảnh hưởng bởi COVID-19; cũng như nới lỏng việc thực thi các biện pháp xử phạt hành chính trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đối với việc thanh toán chậm trong các tình huống khẩn cấp do COVID-19.

Tại Malaysia, sau khi lệnh kiểm soát di chuyển nghiêm ngặt trên toàn quốc (MCO) được công bố vào tháng 3/2020, NHTW đã làm việc với các tổ chức tín dụng để đưa ra lệnh tạm hoãn hoàn trả tự động trong sáu tháng đối với các khoản vay/tài trợ cá nhân và MSMEs đủ điều kiện bắt đầu từ tháng 4/2020. Điều này giúp giảm bớt dòng tiền ngay lập tức cho các hộ gia đình và doanh nghiệp ở quy mô và tốc độ cần thiết trong bối cảnh các hoạt động kinh tế bị ngừng đột ngột. Ngoài ra, các ngân hàng cũng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn hơn thông qua việc cơ cấu lại và giãn nợ/cấp vốn cũng như chuyển số dư thẻ tín dụng thành các khoản vay có kỳ hạn với lãi suất thấp hơn.

Với việc nới lỏng các hạn chế MCO từ tháng 5/2020 và cải thiện điều kiện kinh tế, NHTW Malaysia làm việc với các TCTD chuyển đổi theo hướng hỗ trợ trả nợ có mục tiêu hơn, tập trung vào đối tượng tiếp tục có yêu cầu hỗ trợ tài chính, như doanh nghiệp siêu nhỏ và những người thất nghiệp hoặc bị giảm thu nhập đáng kể. Đồng thời, người đi vay được đảm bảo rằng nếu tình hình tài chính của họ thay đổi do chịu thêm cú sốc do đại dịch, họ vẫn có thể tìm kiếm sự trợ giúp trong tương lai mà không ảnh hưởng đến hồ sơ tín dụng của họ trong Hệ thống thông tin tín dụng trung ương (CCRIS). Ngoài các gói hỗ trợ, các ngân hàng cũng hợp tác chặt chẽ với Cơ quan Tư vấn Tín dụng và Quản lý Nợ (Agensi Kaunseling dan Pengurusan Kredit (AKPK)) để đảm bảo rằng những người đi vay thông qua các chương trình quản lý nợ của AKPK có thể nhanh chóng nhận được hỗ trợ. Điều này được thực hiện bằng cách chuẩn hóa các chỉ số đánh giá cơ cấu lại nợ, do đó rút ngắn đáng kể thời gian để AKPK xử lý đơn xin hỗ trợ của từng cá nhân.

Tiếp cận và duy trì quỹ bảo hiểm. Các cơ quan có thẩm quyền đã hỗ trợ người tiêu dùng các sản phẩm bảo hiểm chủ yếu thông qua việc tăng cường công bố thông tin và cung cấp thêm thông tin cho các chủ hợp đồng. Trong hầu hầu các trường hợp, những thay đổi này được thực hiện vĩnh viễn. Các biện pháp khác bao gồm chiết khấu hoặc hoàn trả phí bảo hiểm, trả chậm phí bảo hiểm, tạm hoãn hủy hợp đồng bảo hiểm và tự động gia hạn. Ví dụ, tại Campuchia, các công ty bảo hiểm như Dai-ichi Life Insurance hoặc AIA Campuchia thông qua “AIA COVID Care program” - đã triển khai các chương trình đặc biệt nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính của khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19, bao gồm cả việc gia hạn hoặc miễn các khoản thanh toán phí bảo hiểm.

Tại Malaysia, ngành bảo hiểm cung cấp các biện pháp cứu trợ tương tự nhằm giảm bớt các hạn chế về dòng tiền, duy trì phạm vi bảo hiểm và giảm chi phí bảo vệ cho các chủ hợp đồng bị ảnh hưởng. Chúng bao gồm các tùy chọn để hoãn thanh toán phí bảo hiểm nhân thọ, cơ cấu lại hợp đồng bảo hiểm, miễn phí và lệ phí, và các quy trình yêu cầu bồi thường nhanh chóng. Mặc dù các công ty bảo hiểm phải chịu chi phí yêu cầu bồi thường cao hơn đáng kể trong những năm gần đây, ngành công nghiệp này cũng hoãn các hoạt động định giá lại theo kế hoạch sẽ đến năm 2021, ngành bảo hiểm đã đồng ý gia hạn các biện pháp cứu trợ này và đưa ra các biện pháp mới nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính cho các chủ hợp đồng. Những điều này bao gồm việc gia hạn thời gian đăng ký trả phí bảo hiểm cho đến 30/6/2021 và miễn trừ lãi suất 06 tháng đối với việc hoàn trả phí bảo hiểm/khoản đóng góp trả chậm để giúp người tiêu dùng tiếp tục các khoản thanh toán.

Các khuyến nghị về chính sách

Dựa trên kết quả của nghiên cứu, báo cáo của OECD đưa ra các khuyến nghị để các nhà hoạch định chính sách xem xét khi xây dựng và thực hiện các chính sách về giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng với mục đích hỗ trợ khả năng phục hồi tài chính lâu dài của người tiêu dùng trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

Trước hết, việc thu thập dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu người tiêu dùng, là cần thiết để cung cấp thông tin và thiết kế các phản ứng chính sách. Việc này cung cấp cơ sở bằng chứng để phản ánh về hiệu quả của các biện pháp chính sách được thực hiện cũng như đối với sự phát triển hiệu quả của các phương pháp tiếp cận giáo dục tài chính, hòa nhập và bảo vệ người tiêu dùng trong dài hạn.

Thứ hai, các biện pháp chính sách về tín dụng và bảo hiểm là quan trọng để hỗ trợ khả năng phục hồi tài chính và hạnh phúc của người tiêu dùng, và việc loại bỏ các hỗ trợ như vậy cần được cân nhắc cẩn thận. Các quốc gia nên xem xét cách thức đảm bảo rằng các biện pháp hỗ trợ vẫn còn phù hợp, đồng thời cân nhắc kỹ lưỡng việc rút dần các chính sách hỗ trợ theo những cách không ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phục hồi tài chính và lợi ích của người tiêu dùng.

Thứ ba, các giải pháp giải quyết khó khăn nhanh chóng và linh hoạt giúp hỗ trợ khả năng phục hồi tài chính và phục hồi lâu dài hơn. Việc tích hợp các thỏa thuận như vậy vào các khuôn khổ bảo vệ người tiêu dùng tài chính sẽ chuẩn bị các khu vực pháp lý cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Đại dịch đã nêu bật tình hình tài chính có thể thay đổi nhanh chóng như thế nào đối với người tiêu dùng, khiến họ có nguy cơ gặp khó khăn về tài chính và một số nhóm người tiêu dùng, bao gồm người có thu nhập thấp, phụ nữ và người tiêu dùng trẻ hoặc cao tuổi, có thể đặc biệt dễ bị tổn thương. Các chính sách và biện pháp bảo vệ người tiêu dùng tài chính cần đặc biệt chú ý đến nhu cầu của những người tiêu dùng có thể đang bị tổn thương.

Thứ tư, giáo dục và truyền thông là điều cần thiết đối với phương pháp tiếp cận đa phương và với các bên liên quan Người tiêu dùng phải có đủ trình độ hiểu biết về tài chính để hiểu cách sử dụng các biện pháp hỗ trợ vì lợi ích của họ. Truyền thông rõ ràng và cách tiếp cận phối hợp và nhiều bên liên quan là điều cần thiết để giải quyết các vấn đề và nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về các biện pháp hỗ trợ hiện có.

HN (theo OECD)

  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
CÁC TIN KHÁC
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
03:06, 10/02/2026
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
17:00, 02/02/2026
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
09:16, 29/01/2026
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
09:13, 22/01/2026
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
11:28, 19/01/2026
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
22:00, 15/01/2026
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
09:51, 14/01/2026
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
09:53, 09/01/2026
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
15:00, 08/01/2026
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
03:32, 18/12/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready