Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt khoảng 3,2% năm 2022 và giảm xuống còn 2,9% trong 2023, thấp hơn so với các dự đoán được IMF đưa ra hồi tháng 4/2022. Lạm phát toàn cầu được dự báo tăng cao do hơn giá lương thực và năng lượng và mất cân đối cung cầu kéo dài, dự báo lạm phát có thể lên đến 6,6% tại các nền kinh tế phát triển và 9,5% tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Trong khi đó, triển vọng toàn cầu tiếp tục bị đe dọa bởi tác động lan tỏa từ cuộc chiến của Nga tại Ukraine, lạm phát tăng dai dẳng, các điều kiện tài chính bị thắt chặt hơn và kinh tế Trung Quốc suy thoái.
Triển vọng kinh tế thế giới 2022
Theo báo cáo cập nhật Triển vọng kinh tế thế giới tháng 7/2022, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 sẽ chỉ đạt khoảng 3,2% và ở mức 2,9% năm 2023, thấp hơn lần lượt 0,4 và 0,7 điểm phần trăm so với các dự báo được đưa ra trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng 4/2022. Sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ là những trở lực chính cho triển vọng kinh tế thế giới trong suốt các năm 2022 – 2023. Trung Quốc giảm tốc mạnh hơn do ảnh hưởng từ các đợt đóng cửa kéo dài, thắt chặt điều kiện tài chính toàn cầu liên quan đến kỳ vọng về việc tăng lãi suất mạnh hơn của các ngân hàng trung ương lớn và tác động lan tỏa từ cuộc chiến tại Ukraine. Kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại đã làm trầm trọng thêm tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu và tác động đến triển vọng tăng trưởng của kinh tế thế giới.
Triển vọng tăng trưởng cơ sở của Hoa Kỳ cho các năm 2022 và 2023 cũng được IMF điều chỉnh giảm tương ứng 1,4 và 1,3 phần trăm, còn 2,3% năm 2022 và 1,0% năm 2023, phản ánh mức tăng trưởng yếu hơn dự kiến trong hai quý đầu tiên của năm 2022. Dự báo tăng trưởng trong khu vực đồng euro cũng được điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm xuống 2,6% vào năm 2022 và thấp hơn 1,1 điểm phần trăm còn 1,2% vào năm 2023, phản ánh tác động lan tỏa từ cuộc chiến ở Ukraine cũng như giả định về việc thắt chặt hơn các điều kiện tài chính.
Đối với thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, các điều chỉnh tiêu cực đối với tăng trưởng trong giai đoạn 2022 – 2023 chủ yếu phản ánh sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ. Các điều chỉnh dự báo của IMF đối với châu Á mới nổi và đang phát triển tương đối. Triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc bị hạ 1,1 điểm phần trăm, xuống mức 3,3% năm 2022 (là mức tăng trưởng thấp nhất trong hơn 40 năm) chủ yếu do các đợt bùng phát COVID-19 mới và phong tỏa. Tương tự, triển vọng kinh tế của Ấn Độ năm nay được điều chỉnh giảm 0,8 điểm phần trăm xuống mức 7,4%.
GDP thực tế năm 2022 của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tại châu Âu dự kiến sẽ thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với dự báo tháng 4 của IMF, còn -1,4%. Ngược lại Châu Mỹ Latinh và Caribe cũng được điều chỉnh tăng 0,5 điểm phần trăm vào năm 2022, lên mức 3% do sự phục hồi mạnh mẽ ở các nền kinh tế lớn (Brazil, Mexico, Colombia, Chile). Triển vọng các nước ở Trung Đông và Trung Á và châu Phi cận Sahara vẫn ở mức trung bình không thay đổi hoặc tích cực, phản ánh tác động của việc tăng giá kim loại và nhiên liệu hóa thạch đối với một số các nước xuất khẩu hàng hóa.
Lạm phát tiếp tục tăng cao
Các dự báo cơ sở về lạm phát toàn cầu của IMF cũng bi quan hơn với điều chỉnh tăng lên mức 8,3% trong năm nay, cao hơn đáng kể so với mức 6,9% trong báo cáo tháng 4/2022.Các nền kinh tế phát triển được dự báo sẽ có mức lạm phát cao hơn trong năm 2022, từ mức dự báo 4,8% hồi tháng 4 lên 6,3%. Dự báo cơ sở này được thúc đẩy bởi sự gia tăng đáng kể lạm phát toàn phần tại các nền kinh tế lớn như Vương quốc Anh (tăng 2,7 điểm phần trăm lên 10,5%) và khu vực đồng euro (tăng 2,9 điểm phần trăm lên 7,3%). Các dự báo cho năm 2023 gần như không thay đổi –– chỉ tăng 0,2 điểm phần trăm phản ánh niềm tin lạm phát sẽ giảm khi các ngân hàng trung ương thắt chặt các chính sách và tác động của giá năng lượng giảm bớt.
Đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển, lạm phát năm 2022 dự kiến sẽ đạt 10,0% nhưng có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia. Trong đó, châu Á mới nổi và đang phát triển có mức lạm phát tăng thêm không đáng kể (một phần do hoạt động ở Trung Quốc chậm lại và hạn chế tăng giá đối với các loại lương thực chính), ngược lại Châu Mỹ Latinh và Caribe có điều chỉnh khá cao (tăng 3,0 điểm phần trăm), tương tự như đối với châu Âu mới nổi và đang phát triển (tăng 2,9 phần trăm điểm).
Tăng trưởng thương mại toàn cầu trong năm 2022 và 2023 cũng được dự báo có thể sẽ chậm hơn so với dự kiến trước đây, phản ánh sự suy giảm nhu cầu thế giới và các vấn đề của chuỗi cung ứng. Sự tăng giá của đồng đô la trong 2022 — khoảng 5% theo điều kiện có hiệu lực danh nghĩa vào tháng 6 so với tháng 12 năm 2021 –– là cũng có khả năng đã làm chậm tăng trưởng thương mại thế giới, xem xét vai trò thống trị của đồng đô la trong thương mại lập hóa đơn cũng như bảng cân đối tài chính tiêu cực ảnh hưởng đến nhu cầu và nhập khẩu ở các nước có nợ phải trả bằng đô la.
Các rủi ro đối với triển vọng
Cuộc chiến tại Ukraine làm giá năng lượng tăng cao hơn. Từ tháng 4/2022, lượng khí đốt của Nga cung cấp sang châu Âu đã giảm mạnh, xuống còn khoảng 40% mức của năm ngoái. Các dự báo cơ sở mới nhất cũng cho rằng khối lượng sẽ giảm tiếp xuống mức thấp vào giữa năm 2024 cùng với mục tiêu độc lập về năng lượng của các nền kinh tế lớn ở Châu Âu. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố không chắc chắn xung quanh mức cung cấp khí đốt trong năm 2022 và 2023. Việc ngừng xuất khẩu hoàn toàn khí đốt của Nga đến các nền kinh tế châu Âu vào năm 2022 sẽ làm tăng đáng kể lạm phát trên toàn thế giới thông qua giá năng lượng. Tại châu Âu, việc buộc phải phân bổ năng lượng, ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp chính, và giảm mạnh tốc độ tăng trưởng khu vực đồng euro vào năm 2022 và 2023.
Lạm phát nhìn chung được dự báo sẽ quay lại gần bằng mức trước đại dịch vào cuối năm 2024. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể khiến nó duy trì động lực và nâng cao kỳ vọng dài hạn. Các cú sốc khác liên quan đến nguồn cung đối với giá thực phẩm và năng lượng từ cuộc chiến ở Ukraine có thể làm lạm phát toàn phần tăng mạnh và chuyển sang lạm cơ bản, khiến chính sách tiền tệ thắt chặt hơn. Những cú sốc như vậy, nếu đủ nghiêm trọng, có thể gây ra sự kết hợp của suy thoái kèm theo lạm phát cao.
Tuy nhiên, giảm phát có thể sẽ gây ra nhiều tổn thất hơn dự kiến. Các ngân hàng trung ương lớn đã đối phó với lạm phát cao bằng cách tăng lãi suất nhưng mức độ chính xác của việc thắt chặt chính sách tiền tệ cần thiết để giảm lạm phát mà không gây ra suy thoái là khó xác định. Các đợt giảm phát trong quá khứ liên quan đến thắt chặt chính sách tiền tệ thường gây nhiều thiệt hại, với tỷ lệ thất nghiệp cao. Nguy cơ suy thoái đặc biệt đáng lo ngại vào năm 2023, khi tăng trưởng ở một số nền kinh tế dự kiến sẽ chạm đáy, các khoản tiết kiệm hộ gia đình tích lũy trong đại dịch sẽ giảm, và thậm chí là những cú sốc nhỏ có thể khiến các nền kinh tế bị đình trệ.
Một rủi ro nữa đó là các điều kiện tài chính thắt chặt hơn làm tăng gánh nặng nợ ở các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển. Khi các ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế phát triển tăng lãi suất để chống lạm phát, các điều kiện tài chính trên toàn cầu sẽ tiếp tục thắt chặt. Việc tăng chi phí đi vay sẽ dẫn đến chính sách tiền tệ trong nước bị thắt chặt hơn tương ứng, gây áp lực lên dự trữ quốc tế và mất giá so với đồng đô la, gây ra tổn thất định giá bảng cân đối của các nền kinh tế nợ phải trả tính theo tỷ giá đô la. Những thách thức như vậy khiến chính phủ ở nhiều các quốc gia đã bị giãn ra có ít dư địa hơn cho các hỗ trợ chính sách tài khóa, với 60% các quốc gia có thu nhập thấp hoặc có nguy cơ cao gặp khó khăn về nợ chính phủ –– tăng so với khoảng 1/5 một thập kỷ trước. Dòng vốn thoát khỏi thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển có thể làm trầm trọng hơn nguy cơ này.
Sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp diễn với tăng trưởng GDP được dự báo chỉ ở mức 3,3% vào năm 2022 và 4,6% vào năm 2023. Các yếu tố có thể hỗ trợ tăng trưởng như tuyên bố về hỗ trợ tài chính quy mô và điều chỉnh lại chiến lược zero-COVID của các cơ quan có thẩm quyền. Ngược lại, rủi ro giảm tăng trưởng sẽ bao gồm sự bùng phát quy mô lớn hơn của các biến chủng vi rút dễ lây lan hơn làm kích hoạt các đợt phong tỏa rộng hơn nữa theo chiến lược zero-COVID. Thêm vào đó những bất ổn trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc có thể gây ra một cuộc khủng hoảng lớn hơn, lan tỏa đến tài chính vĩ mô. Suy thoái của kinh tế Trung Quốc sẽ có sự lan tỏa mạnh mẽ trên toàn cầu, bản chất của nó sẽ phụ thuộc vào sự cân bằng của cả yếu tố nguồn cung và nhu cầu.
Một rủi ro nữa đó là giá lương thực và năng lượng tăng gây ra khó khăn, đói kém và bất ổn trên diện rộng. Do năng lượng và lương thực là các mặt hàng thiết yếu ít thay thế nên giá cả tăng cao là vấn đề đặc biệt gây nhức nhối cho các hộ gia đình. Tình hình hiện nay đặt ra một mối đe dọa không chỉ đối với ổn định kinh tế mà còn đối với xã hội. Bất ổn đã gia tăng kể từ khi kết thúc giai đoạn cấp tính của đại dịch và giá thực phẩm, năng lượng cao hơn là những yếu tố dự báo cho tình trạng này. Các vấn đề như rào cản thương mại, mất mùa do thời tiết khắc nghiệt hay thiếu phân bón, có nguy cơ làm trầm trọng hơn nghèo đói hoặc gây mất ổn định. Những rủi ro này có thể được giải quyết bằng cách nới lỏng các rào cản về hậu cần do cuộc chiến tranh của Nga - Ukraine.
Theo IMF, một rủi ro nghiêm trọng đối với triển vọng trung hạn là cuộc chiến ở Ukraine sẽ góp phần chia rẽ nền kinh tế thế giới thành các khối địa chính trị với các tiêu chuẩn công nghệ, hệ thống thanh toán xuyên biên giới và tiền tệ dự trữ. Cho đến nay, có những bằng chứng nhất định về sự phục hồi thương mại toàn cầu kể từ khi bắt đầu dịch bệnh. Sự chia rẽ cũng có thể làm giảm hiệu quả của hợp tác đa phương cần có để giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu như vấn đề biến đổi khí hậu.
MN (theo IMF)