Ngày 30/9/2022, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố báo cáo kết quả điều tra về tình hình thực hiện Basel III tính đến cuối tháng 12/2021.
Nhằm đánh giá tác động của khung khổ Basel III đối với các ngân hàng, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng đã theo dõi ảnh hưởng và động lực của cải cách. Để đạt mục tiêu này, khung khổ giám sát định kỳ sáu tháng một lần đã được thiết lập theo tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy, thước đo thanh khoản - dữ liệu do các cơ quan giám sát quốc gia cung cấp theo quy định tại mỗi quốc gia. Báo cáo này tóm tắt kết quả tổng thể dựa trên dữ liệu tính đến ngày 31/12/2021, bao gồm những nét đặc thù về rủi ro của các ngân hàng bắt nguồn từ tài sản ảo - bộ dữ liệu mới và nguồn vốn đệm cùng với tổng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) theo yêu cầu, kể cả Trụ cột 2. Dữ liệu này do 182 ngân hàng cung cấp, bao gồm 117 ngân hàng quốc tế lớn nhất (G1- ngân hàng nhóm 1), trong đó có 30 ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs), và 65 ngân hàng nhóm 2 (G2).
Kết quả tổng quan
|
30/6/2021 |
31/12/2021 |
||||
|
G 1 |
G-SIBs |
G 2 |
G 1 |
G-SIBs |
G 2 |
Khung khổ Basel III ban đầu |
||||||
Tỷ trọng CET1 (%) |
13,2 |
12,9 |
16,2 |
13,3 |
13,1 |
17,2 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ EUR) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
CET1 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 2 bổ sung |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(1) |
24,2 |
24,2 |
|
7,5 |
7,5 |
|
Tổng tài sản kế toán (tỷ EUR) |
76.606 |
53.753 |
2.808 |
82.175 |
56.627 |
3.034 |
Tỷ trọng đòn bẩy (%) |
6,3 |
6,1 |
5,9 |
6,4 |
6,3 |
6,4 |
LCR (%) |
143,8 |
142,7 |
224,6 |
141,3 |
138,7 |
224,2 |
NSFR (%) |
124,5 |
125,9 |
129,6 |
125,1 |
126,9 |
134,0 |
Khung khổ Basel III cuối cùng (2028) |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 (2) |
3,3 |
3,7 |
8,4 |
2,4 |
2,2 |
5,7 |
Tỷ trọng CET1 (%) |
12,7 |
12,5 |
15,2 |
13,0 |
12,9 |
14,5 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ EUR) |
2,3 |
2,3 |
1,3 |
0,1 |
0,1 |
1,2 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
0,0 |
0,0 |
0,4 |
0,0 |
0,0 |
0,4 |
Vốn cấp 2 |
2,3 |
2,3 |
0,5 |
0,0 |
0,1 |
0,5 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(1) |
11,5 |
11,5 |
|
7,9 |
7,9 |
|
Tỷ trọng đòn bẩy (%) |
6,2 |
6,1 |
5,9 |
6,4 |
6,3 |
6,2 |
Nguồn: BIS tháng 9/2022; (1) Tỷ EUR; (2) Thay đổi theo mục tiêu (%)
So với giai đoạn báo cáo đến cuối tháng 6/2021, tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) theo khung khổ Basel III tăng nhẹ lên 13,3% tại các ngân hàng nhóm 1; tăng 17,2% tại các ngân hàng nhóm 2 do thay đổi mẫu điều tra. Tác động trung bình của khung khổ Basel III cuối cùng đối với yêu cầu vốn cấp 1 tối thiểu (MRC) tại các ngân hàng nhóm 1 giảm xuống tỷ lệ 2,4% so với mức tăng 3,3% vào thời điểm cuối tháng 6/2021. Đối chiếu với khung khổ Basel III cuối cùng, tổng lượng vốn thiếu hụt tính đến cuối tháng 12/2021 tại các ngân hàng nhóm 1 tiếp tục giảm xuống 0,1 tỷ EUR, so với mức thiếu hụt 2,3 tỷ EUR vào cuối tháng 6/2021. Theo yêu cầu về khả năng hấp thụ lỗ tổng thể (TLAC) tối thiểu và khung khổ Basel III ban đầu, một trong số 25 G-SIBs báo cáo TLAC lũy kế là 7,5 tỷ EUR. Tại các ngân hàng nhóm 1, tỷ lệ thanh khoản an toàn (LCR) trung bình giảm từ tỷ trọng 143,8% xuống 141,3%, trong khi quỹ bình ổn ròng (NSFR) trung bình tăng từ tỷ trọng 124,5% lên 125,1%. Tại các ngân hàng nhóm 2, LCR cũng giảm, trong khi NSFR tăng mạnh với trên 4% (do thay đổi mẫu điều tra).
Tỷ trọng vốn Basel III ban đầu ghi nhận mức tăng cao nhất kể từ khi bắt đầu tiến hành điều tra
Trong sáu tháng cuối năm 2021, tỷ trọng vốn theo Basel ban đầu tại các ngân hàng nhóm 1 có dấu hiệu tăng nhẹ, nguyên nhân là do vốn cấp 1 tăng cao hơn so với RWA. Trong tháng 6/2021, tỷ trọng vốn CET1 tổng thể tại các ngân hàng nhóm 1 là 13,3%. Hiện tại, tỷ trọng vốn cấp 1 tại các ngân hàng châu Âu cao hơn tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới. Tuy nhiên, khi so sánh với dữ liệu bắt đầu từ năm 2011, mối quan hệ này được cho là đã đảo chiều từ trước năm 2014.
Tác động của tiêu chuẩn Basel III thấp hơn so với kỳ trước
Đối chiếu với tiêu chuẩn Basel III cuối cùng, MCR tại các ngân hàng nhóm 1 có thể tăng 2,4%. Kết quả tăng này bao gồm mức tăng 2,1% của các cấu thành rủi ro liên hợp, được dẫn dắt bởi đóng góp của sàn sản lượng (+2,0%), rủi ro thị trường (+2,0%), CVA (+0,6%), và mức khấu trừ rủi ro tín dụng (-2,6%). Mức tăng của các cấu thành rủi ro liên hợp được trợ giúp bởi tác động tích cực của tỷ trọng đòn bẩy theo yêu cầu (+0,3%). Đối với các ngân hàng nhóm 1, tác động tới MRC có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực: giảm nhẹ tại phần còn lại trên thế giới (-6,9%), tăng nhẹ tại Mỹ (+3,9%), và tăng mạnh tại châu Âu (+17,5%). Đối với các ngân hàng nhóm 2, kết quả tăng tổng thể MRC cấp 1 được dẫn dắt bởi mức tăng các thước đo dựa trên rủi ro (14,6%), chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng (+6,8%) và sàn thu nhập (+4,5%), trong khi thước đo tỷ trọng đòn bẩy bù đắp phần nào kết quả tăng này (-9,0%). Tác động trung bình +2,4% của khung khổ Basel III cuối cùng đối với các ngân hàng nhóm 1 thấp hơn 50 điểm cơ bản (0,5%) so với dữ liệu báo cáo cuối năm 2020 (+2,9%), tác động này đối với các ngân hàng nhóm 2 cũng giảm trong năm 2021.
Tại G-SIBs, LC theo Basel III tăng trong sáu tháng cuối năm 2021
Theo báo cáo tính đến cuối năm 2021, tỷ trọng đòn bẩy cấp 1 là 6,4% tại các ngân hàng nhóm 1; 6,3% tại G-SIBs; 6,2% tại các ngân hàng nhóm 2. Tỷ lệ đòn bẩy vẫn thấp tại châu Âu (5,4%), so với tại Mỹ (5,9%) và phần còn lại trên thế giới (7,6%).
Theo tiêu chuẩn Basel III cuối cùng, vốn liên hợp thiếu hụt ở mức thấp
Theo dữ liệu báo cáo, các ngân hàng nhóm 1 đăng ký tổng lượng vốn điều tiết thiếu hụt lên đến 0,1 tỷ EUR, so với 2,3 tỷ EUR vào cuối tháng 6/2021. Tại các ngân hàng nhóm 1, lượng vốn thiếu hụt giảm xuống mức thấp trong lịch sử, không thiếu vốn cổ phần cấp 1 (CET1) và vốn cấp 1 bổ sung. Tại các ngân hàng nhóm 2, thiếu hụt vốn tổng thể giảm xuống 1,2 tỷ EUR.
Trong sáu tháng cuối năm 2021, vốn CET1 điều tiết tại G-SIBs tăng 3,4%
Từ cuối tháng 6/2021 đến cuối tháng 12/2021, vốn CET1 tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 128% từ 1.874 tỷ EUR lên 4.428 tỷ EUR. Từ cuối tháng 6/2021, vốn CET1 tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 147 tỷ EUR (3,4%). So với năm 2011, vốn CET1 tại phần còn lại trên thế giới tăng gần 300%, trong khi chỉ tăng 78% tại châu Âu và 86% tại Mỹ. Về tổng thể, lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng nhóm 1 trong mẫu điều tra chỉ giảm nhẹ từ mức kỷ lục vào tháng 6/2021 và đạt 274 tỷ EUR trong sáu tháng cuối năm 2021. So với cả năm 2020, lợi nhuận sau thuế hàng năm tại các ngân hàng nhóm 1 trong mẫu điều tra tăng vững tại châu Âu và Mỹ (143% và 113%). Đến cuối tháng 6/2021, rủi ro tín dụng tại các ngân hàng nhóm 1 tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng vốn tối thiểu theo yêu cầu (MRC) với tỷ trọng trung bình 64,9% trong tổng MRC. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng đã giảm đáng kể từ tỷ trọng 74,3% vào cuối tháng 6/2011. Trái lại, rủi ro hoạt động của MRC tăng mạnh từ 7,9% vào cuối tháng 6/2011 lên 16,1% vào cuối năm 2015, giảm nhẹ trong những năm sau đó. Liên quan đến tài sản rủi ro tín dụng, tỷ trọng rủi ro MRC tại các doanh nghiệp tăng từ 30,6% vào cuối tháng 6/2011 lên 39,1% vào cuối tháng 6/2021, sau đó giảm trở lại xuống 38,1% vào cuối năm 2021; tỷ trọng rủi ro MRC đối với chứng khoán giảm từ 7,2% vào tháng 6/2011 xuống 1,8% vào tháng 12/2021.
LCRs trung bình giảm, NSFR không thay đổi, một số ngân hàng tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới tiếp tục sử dụng dự trữ LCR trong thời kỳ đại dịch Covid-19
Vào cuối năm 2021, LCR trung bình gia quyền tại các ngân hàng nhóm 1 là 141,3%, và tại các ngân hàng nhóm 2 là 231,1% (kết quả tăng tại các ngân hàng nhóm 2 là do thay đổi mẫu điều tra). NSFR trung bình gia quyền tại các ngân hàng nhóm 1 là 125,1%, và tại các ngân hàng nhóm 2 là 134,0%. Tất cả các ngân hàng đều báo cáo là đã đáp ứng đầy đủ NSFR hoặc vượt 100%.
Đối với các ngân hàng nhóm 1, LCRs trung bình giảm, trong khi NSFRs tiếp tục tăng. Tuy nhiên, LCR thiếu hụt nhẹ trong sáu tháng cuối năm 2021.
Tại các ngân hàng nhóm 1, không phải tất cả các ngân hàng đều đáp ứng 100% LCR, dẫn đến mức thiếu hụt 5,6 tỷ EUR vào cuối năm 2021. Trong khi mức thiếu hụt giảm tới 50% kể từ cuối tháng 6/2021, LCR trung bình trong mẫu điều tra giảm từ 145,8% vào cuối tháng 6/2021 xuống 144,0% vào cuối tháng 12/2021. Kể từ tháng 6/2019, thiếu hụt LCR tại các ngân hàng nhóm 2 tiếp tục đứng ở mức 0%. Đối với các ngân hàng trong mẫu điều tra, LCR trung bình giảm 5,6% xuống 222,8%. Thiếu hụt NSFR tổng thể tại các ngân hàng nhóm 2 tiếp tục đứng ở mức 0%. Đối với các ngân hàng trong mẫu điều tra, NSFR trung bình tăng 0,7% lên 131,6%.
Trong sáu tháng cuối năm 2021, LCRs tại các ngân hàng nhóm 1 giảm tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới; NSFRs giảm tại Mỹ
Từ năm 2019, LCR trung bình gia quyền tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới đạt trên 140%, trong khi dao động quanh tỷ lệ 120% tại Mỹ. Ban đầu, LCR trung bình tại Mỹ và châu Âu đứng ở mức thấp so với phần còn lại trên thế giới, LCRs tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới có xu hướng đồng quy từ trước khi xảy ra đại dịch. Vào cuối tháng 6/2021, NSFR trung bình gia quyền tại các ngân hàng nhóm 1 tại các khu vực đều vượt tỷ lệ 100%. Cụ thể là, NSFR trung bình tại châu Âu và Mỹ lần lượt tăng từ tỷ lệ 119,7% và 125,0% vào cuối năm 2019 lên 121,5% và 131,2% vào cuối năm 2021.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: BIS tháng 9/2022)