Báo cáo quốc gia về khí hậu và phát triển cho Việt Nam được Ngân hàng Thế giới ước tính, Việt Nam cần đầu tư thêm khoảng 368 tỷ USD đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP/năm để thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, đầu tư vào khả năng phục hồi khoảng 254 tỷ USD và 114 tỷ USD cho hành trình khử carbon theo cam kết với cộng đồng quốc tế. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ cần khoản đầu tư khổng lồ trong thời gian tới. Do đó, việc đầu tiên cần làm là xây dựng các tiêu chuẩn với sản xuất xanh, tiếp đó là tài chính xanh.
Theo các chuyên gia, tại Hội nghị COP26 vào tháng 11/2021, Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong quãng thời gian 2 năm từ COP26 đến COP28, Việt Nam đã lên kế hoạch để thực hiện các cam kết và một trong những nhiệm vụ quan trọng là huy động nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi.
Theo kế hoạch, Hội nghị lần thứ 28 Các bên tham gia Công khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP28) dự kiến công bố bản Đánh giá Toàn cầu (Global Stock Take - GST) đầu tiên để đánh giá toàn diện tiến trình thực hiện Thoả thuận Paris của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu. COP 28 diễn ra trong khoảng 2 tuần, từ ngày 30/11 đến ngày 12/12/2023. Là nước chủ nhà đăng cai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đang tập trung thúc đẩy các giải pháp thiết thực và tích để đảm bảo tiến độ thực hiện các cam kết khí hậu và cải thiện nền kinh tế, cũng như cung cấp viện trợ và hỗ trợ cho các cộng đồng dễ bị tổn thương. Hội nghị COP28 sẽ mang tính toàn diện, phản ảnh đầy đủ quan điểm của tất cả các khu vực địa lý về cách ứng phó với khủng hoảng khí hậu hiện nay. Hội nghị COP28 được tổ chức trong bối cảnh cuộc khủng hoảng khí hậu trên thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp: Mức tăng nhiệt đang có nguy cơ vượt mục tiêu giới hạn 1,5 độ C; nỗi lo về an ninh năng lượng dẫn tới sự gia tăng trong nhu cầu sử dụng nhiên liệu phát thải cao; căng thẳng địa chính trị đe doạ đảo ngược tiến trình toàn cầu hoá hàng thập kỷ qua; khủng hoảng khí hậu và nỗi lo an ninh lương thực; cũng như việc những cộng đồng dễ tổn thương trước khủng hoảng khí hậu nhận được ít sự hỗ trợ nhất…Dự kiến, cả GST và COP28 tập trung vào 4 trụ cộ chính, bao gồm: Theo dõi nhanh quá trình chuyển dịch công bằng và có trật tự; Ổn định tài chính khí hậu; Tập trung phát triển tự nhiên, cuộc sống và sinh kế; Thúc đẩy hội nhập.
Với tư cách chủ nhà COP28, UAE hướng tới tạo điều kiện cho các bên tham gia tìm kiếm các giải pháp hiện thức hoá các mục tiêu và tạo ra sự thay đổi trong các nỗ lực khí hậu thông qua đối thoại mang tính xây dựng, khuyến khích chia sẻ kiến thức và ý tưởng kinh doanh tích cực.
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, khi nói về thị trường tài chính xanh, thường chúng ta mới chỉ nhắc tới bên cung cấp tín dụng và bên sử dụng vốn, nhưng với thị trường tài chính xanh thì rộng hơn, bao gồm: Chính phủ có vai trò quan trọng, ban hành luật lệ và cơ chế khuyến khích; các doanh nghiệp xanh thực hiện hoạt động sản xuất xanh và người tiêu dùng xanh... Đây là điểm mới của kinh tế xanh bởi kinh tế thông thường không quá quan tâm tới người tiêu dùng và hoạt động sản xuất như thế nào.
Do đó, việc đầu tiên cần làm là xây dựng các tiêu chuẩn với sản xuất xanh, tiếp đó là tài chính xanh. Hiện tại, hoạt động chuyển đổi sản xuất xanh đang dựa nhiều vào sự tự nguyện, ý thức chuyển đổi của doanh nghiệp, tuy nhiên xu hướng là Chính phủ ngày càng ban hành các quy định buộc doanh nghiệp phải áp dụng.
Thực tế ở Việt Nam, hiện nay vốn tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn lực chính cho các dự án xanh. Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, (NHNN) cho biết: Đến 30/9/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh đạt hơn 564 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong số 12 lĩnh vực xanh NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay, dư nợ tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm gần 45%) và nông nghiệp xanh (hơn 30%).
Bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng Giám đốc Agribank chia sẻ, Agribank là ngân hàng thương mại Nhà nước hàng đầu trong việc triển khai chính sách tam nông của Chính phủ. Tính đến ngày 31/10/2023, tổng tài sản của Agribank đạt hơn 1,96 triệu tỷ đồng, dư nợ cho vay nền kinh tế hơn 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt hơn 63%. Vì vậy, việc thực hiện các chương trình tín dụng xanh, đặc biệt Ngân hàng.
Thời gian qua, Agribank cũng ban hành một loạt văn bản về việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Ngân hàng đã triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng và không hạn chế về nguồn vốn phục vụ sản xuất “nông nghiệp sạch” vì sức khỏe cộng đồng từ năm 2016, với lãi suất cho vay giảm từ 0,5%/năm đến 1,5%/năm.
Trên thực tế, từ nguồn vốn tài trợ của Agribank, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đã và đang hình thành trên khắp mọi vùng miền của đất nước, như mô hình trồng hoa (Lâm Đồng), cánh đồng mẫu lớn (Cần Thơ), cá tra (An Giang), chăn nuôi lợn (Hà Nam), mía (Khánh Hòa), ngô (Sơn La)…, tạo được sự đồng thuận cao giữa doanh nghiệp và người dân. Đến nay, doanh số cho vay nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Agribank đạt trên 30.000 tỷ đồng, chiếm 50% tổng nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực này, dư nợ đạt 2.000 tỷ đồng với hơn 300 khách hàng (trong đó, hơn 98% khách hàng là cá nhân, chủ trang trại, tổ hợp tác...).
Agribank đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn triển khai thực hiện Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 27/11/2023 nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2030 hình thành 1 triệu héc-ta vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tổ chức lại hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị, áp dụng các quy trình canh tác bền vững nhằm gia tăng giá trị, phát triển bền vững của ngành lúa gạo, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, thu nhập và đời sống của người trồng lúa, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng Giám đốc Agribank cho biết thêm, chúng tôi tích cực tham gia nhiều dự án có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường do Ngân hàng Thế giới và các tổ chức tài chính tài trợ như: Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học; Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững; Quản lý rủi ro thiên tai; Hỗ trợ nông nghiệp các-bon thấp; Cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng; điện gió; đưa vốn tín dụng vào công cuộc chống hạn, mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên…Đến 31/10/2023, dư nợ cho vay đối với lĩnh vực xanh tại Agribank đạt hơn 12.000 tỷ đồng, với gần 42.000 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, dư nợ lĩnh vực lâm nghiệp bền vững khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm 55% tổng dư nợ tín dụng xanh; tiếp đến là lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch với dư nợ đạt gần 3.000 tỷ đồng, chiếm 22% tổng dư nợ tín dụng xanh; thứ ba là lĩnh vực nông nghiệp xanh với dư nợ gần 2.000 tỷ đồng, chiếm 16% tổng dư nợ tín dụng xanh.
Ngân hàng Agribank đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn triển khai thực hiện Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/11/2023 nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2030 hình thành 1 triệu héc-ta vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tổ chức lại hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị, áp dụng các quy trình canh tác bền vững nhằm gia tăng giá trị, phát triển bền vững của ngành lúa gạo, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, thu nhập và đời sống của người trồng lúa, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) Phạm Thị Thanh Tùng cho rằng: Bên cạnh các kết quả đạt được, để tín dụng xanh phát triển cần tiếp hoàn thiện hành lang pháp lý. Một là, cần có hướng dẫn về Danh mục xanh và tiêu chí xác định dự án xanh phù hợp với phân ngành kinh tế của Việt Nam làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng (TCTD) có căn cứ thẩm định, đánh giá và giám sát khi thực hiện cấp tín dụng xanh.
Hai là, xây dựng lộ trình thực hiện các cơ chế chính sách hỗ trợ các ngành xanh (thuế, phí, vốn, kỹ thuật, thị trường, đến quy hoạch, chiến lược phát triển…) của từng ngành/lĩnh vực một cách đồng bộ nhằm thu hút và phát huy hiệu quả của nguồn vốn tín dụng xanh.
Ba là, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu xanh, tạo kênh huy động vốn cho các chủ đầu tư có thêm nguồn lực triển khai các dự án xanh.
"Phía các doanh nghiệp muốn phát triển dự án xanh thì cần phối hợp cung cấp đầy đủ các thông tin về môi trường liên quan để được TCTD thẩm định cho vay thực hiện dự án, kiểm soát chất lượng khoản vay; đồng thời, nâng cao trách nhiệm ý thức bảo vệ môi trường khi thực hiện dự án", bà Phạm Thị Thanh Tùng nhấn mạnh.
NN