Tại báo cáo cập nhật về triển vọng tăng trưởng kinh tế công bố vào ngày 30/01/2024, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã tăng dự báo GDP toàn cầu, lần đầu tiên sau nhiều đợt điều chỉnh giảm liên tiếp.
Báo cáo nêu rõ, bất chấp tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, chiến tranh Nga - Ukraina, giả cả hàng hóa tăng cao, kinh tế toàn cầu vẫn phục hồi bền vững. Sau khi lập đỉnh vào giữa năm 2022, lạm phát đã quay đầu giảm nhanh, thiệt hại liên quan đến việc làm và hoạt động kinh tế thấp hơn so với kỳ vọng. Điều này cho thấy, các nỗ lực thúc đẩy nguồn cung đã góp phần ổn định lạm phát kỳ vọng. Tuy nhiên, lãi suất cao và xu hướng rút dần các gói hỗ trợ tài khóa có thể sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế năm 2024.
Tóm tắt triển vọng kinh tế (% so năm trước)
|
Thực tế và dự báo |
Thay đổi (1) |
||||
|
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
2024 |
2025 |
Thế giới |
3,5 |
3,1 |
3,1 |
3,2 |
0,2 |
0,0 |
Các nước phát triển (AEs) |
2,6 |
1,6 |
1,5 |
1,8 |
0,1 |
0,0 |
Mỹ |
1,9 |
2,5 |
2,1 |
1,7 |
0,6 |
-0,1 |
Khu vực đồng euro |
3,4 |
0,5 |
0,9 |
1,7 |
-0,3 |
-0,1 |
CHLB Đức |
1,8 |
-0,3 |
0,5 |
1,6 |
-0,4 |
-0,4 |
CH Pháp |
2,5 |
0,8 |
1,0 |
1,7 |
-0,3 |
-0,1 |
Italia |
3,7 |
0,7 |
0,7 |
1,1 |
0,0 |
0,1 |
Tây Ban Nha |
5,8 |
2,4 |
1,5 |
2,1 |
-0,2 |
0,0 |
Nhật Bản |
1,0 |
1,9 |
0,9 |
0,8 |
-0,1 |
0,2 |
VQ Anh |
4,3 |
0,5 |
0,6 |
1,6 |
0,0 |
-0,4 |
Canada |
3,8 |
1,1 |
1,4 |
2,3 |
-0,2 |
-0,1 |
Những nước phát triển khác (2) |
2,7 |
1,7 |
2,1 |
2,5 |
-0,1 |
0,2 |
EMDEs |
4,1 |
4,1 |
4,1 |
4,2 |
0,1 |
0,1 |
EMDEs châu Á |
4,5 |
5,4 |
5,2 |
4,8 |
0,4 |
-0,1 |
Trung Quốc |
3,0 |
5,2 |
4,6 |
4,1 |
0,4 |
0,0 |
Ấn Độ |
7,2 |
6,7 |
6,5 |
6,5 |
0,2 |
0,2 |
EMDEs châu Âu |
1,2 |
2,7 |
2,8 |
2,5 |
0,6 |
0,0 |
CHLB Nga |
-1,2 |
3,0 |
2,6 |
1,1 |
1,5 |
0,1 |
Mỹ Latinh và Caribê |
4,2 |
2,5 |
1,9 |
2,5 |
-0,4 |
0,1 |
Brazil |
3,0 |
3,1 |
1,7 |
1,9 |
0,2 |
0,0 |
Mêhicô |
3,9 |
3,4 |
2,7 |
1,5 |
0,6 |
0,0 |
Trung Đông và Trung Á |
5,2 |
2,0 |
2,9 |
4,2 |
-0,5 |
0,3 |
Arập Xê út |
8,7 |
-1,1 |
2,7 |
5,5 |
-1,3 |
1,3 |
Cận Sahara châu Phi |
4,0 |
3,3 |
3,8 |
4,1 |
-0,2 |
0,0 |
Nigeria |
3,3 |
2,8 |
3,0 |
3,1 |
-0,1 |
0,0 |
CH Nam Phi |
1,9 |
0,6 |
1,0 |
1,3 |
-0,8 |
-0,3 |
GDP toàn cầu theo tỷ giá thị trường |
3,0 |
2,7 |
2,6 |
2,7 |
0,2 |
0,0 |
Liên minh châu Âu |
3,6 |
0,6 |
1,2 |
1,9 |
-0,3 |
-0,2 |
ASEAN-5 (3) |
5,5 |
4,2 |
4,7 |
4,4 |
0,2 |
-0,1 |
Trung Đông và Bắc Phi |
5,6 |
2,0 |
2,9 |
4,2 |
-0,5 |
0,3 |
Các nước mới nổi và trung bình |
4,0 |
4,2 |
4,0 |
4,0 |
0,1 |
0,0 |
Các nước thu nhập thấp |
5,2 |
4,0 |
5,0 |
5,6 |
-0,1 |
0,0 |
Thương mại thế giới (4) |
5,2 |
0,4 |
3,3 |
3,6 |
-0,2 |
-0,1 |
AEs |
6,1 |
0,3 |
2,6 |
3,2 |
-0,4 |
-0,1 |
EMDEs |
3,7 |
0,6 |
4,5 |
4,4 |
0,2 |
0,0 |
Giá dầu (5) |
39,2 |
-16,0 |
-2,3 |
-4,8 |
-1,6 |
0,1 |
Giá hàng hóa khác |
7,9 |
-6,1 |
-0,9 |
-0,4 |
1,8 |
-0,3 |
Giá tiêu dùng thế giới (6) |
8,7 |
6,8 |
5,8 |
4,4 |
0,0 |
-0,2 |
Tại AEs |
7,3 |
4,6 |
2,6 |
2,0 |
-0,4 |
-0,2 |
Tại EMDEs (6) |
9,8 |
8,4 |
8,1 |
6,0 |
0,3 |
-0,2 |
Nguồn: IMF tháng 01/2024
Tại các nền kinh tế chủ chốt, GDP sáu tháng cuối năm 2023 tại Mỹ và một số nước thuộc nhóm các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) tăng cao hơn kỳ vọng. Trái lại, kinh tế khu vực euro khá trầm lắng, phản ánh tâm trạng buồn chán của người tiêu dùng, giá năng lượng tăng cao, hoạt động công nghiệp trầm lắng. Các nước thu nhập thấp tiếp tục vật lộn với thời kỳ mất mát kéo dài do GDP tăng thấp hơn so với trước đại dịch và chi phí nợ nần tăng cao.
Để kéo giảm lạm phát, các NHTW chủ chốt đã tăng lãi suất lên mức khá cao, nhất là trong năm 2023, làm tăng chi phí vay cầm cố, gây khó khăn cho những doanh nghiệp phải vay vốn để đảo nợ, điều kiện cho vay khắt khe, hoạt động đầu tư trầm lắng. Tuy nhiên, lạm phát giảm nhanh đã phát tín hiệu về khả năng các NHTW sẽ kịp thời tiến hành cắt giảm lãi suất, lãi suất dài hạn vì thế đã giảm nhẹ phần nào và thị trường cổ phần tăng trở lại. Tại một số nước không bị tác động của lạm phát (như Brazil, Chilê), lãi suất cơ bản đã giảm dần từ giữa năm 2023. Do lạm phát gần bằng không, NHTW Trung Quốc đã liên tiếp thực hiện nhiều giải pháp nới lỏng tiền tệ; riêng NHTW Nhật Bản tiếp tục duy trì lãi suất ngắn hạn gần bằng không.
Trên toàn cầu, chính sách tài khóa đã dẫn đến sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế. Tại Mỹ, chính sách tài khóa mở rộng đã thúc đẩy GDP tăng cao hơn mức trước trước đại dịch, trong khi tiến trình phục hồi kinh tế tại khu vực đồng euro và những AEs khác chưa hoàn thành. Tại EMDEs, sản lượng kinh tế trung bình nhìn chung vẫn thấp hơn mức trước đại dịch. Tại các nước thu nhập thấp, thanh khoản cạn kiệt và thanh toán lãi nợ tăng cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư cần thiết, cản trở tiến trình phục hồi kinh tế. Trong năm 2024, một số nước thuộc AEs và EMDEs có thể sẽ tiếp tục duy trì chính sách tài khóa chặt chẽ nhằm tăng dự trữ ngân sách, nên GDP sẽ tăng thấp trong ngắn hạn.
Về triển vọng kinh tế, sau khi tăng 3,1% vào năm 2023, GDP toàn cầu được dự báo sẽ duy trì mức tăng 3,1% này trong năm 2024, sau đó tăng nhẹ lên mức tăng 3,2% trong năm 2025. Như vậy, GDP toàn cầu năm 2024 tăng cao hơn 0,2% so với dự báo tháng 10/2023, phản ánh triển vọng kinh tế lạc quan hơn tại Mỹ, Trung Quốc và một số EMDEs chủ chốt. Tuy nhiên, GDP năm 2024-2025 tăng thấp hơn kết quả tăng trung bình hàng năm 3,8% trong giai đoạn 2020-2019, phản ánh tác động thắt chặt tiền tệ, xu hướng rút dần các gói hỗ trợ tài khóa, và năng suất lao động giảm dần. Đà tăng GDP tại AEs được kỳ vọng sẽ giảm nhẹ trong năm 2024, trước khi tăng trở lại vào năm 2025. Trong đó, kinh tế khu vực đồng euro phục hồi từ mức thấp trong năm 2023 và kinh tế Mỹ tăng chậm dần. Tại EMDEs, tăng trưởng GDP được dự báo sẽ ổn định trong năm 2024-2025, với sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia và khu vực.
Tại AEs, GDP được dự báo sẽ giảm nhẹ từ kết quả tăng 1,6% trong năm 2023 xuống mức tăng 1,5% trong năm 2024, sau đó phục hồi trở lại lên mức tăng 1,8% vào năm 2025. Tại EMDEs, GDP được kỳ vọng tiếp tục tăng 4,1% trong năm 2024 và 4,2% trong năm 2025.
Thương mại toàn cầu được dự báo tăng 3,3% trong năm 2024 và 3,6% trong năm 2025, thấp hơn mức tăng trung bình 4,9% trong lịch sử. Trong đó, rối loạn thương mại và chia cắt địa chính trị được cho là sẽ tiếp tục cản trở hoạt động thương mại. Các nước đã áp đặt lần lượt 3.200 và 3.000 biện pháp hạn chế thương mại trong năm 2022 và 2023, tăng khá cao từ khoảng 1.100 biện pháp hạn chế thương mại trong năm 2019.
Trên toàn cầu, lạm phát cơ bản được dự báo sẽ giảm từ mức tăng 6,8% trong năm 2023 xuống 5,8% vào năm 2024 và 4,4% vào năm 2025. Tại AEs, lạm phát được kỳ vọng sẽ giảm nhanh hơn, với mức giảm 2,0% xuống 2,6% trong năm 2024. Trái lại, lạm phát tại EMDEs giảm chậm hơn, chỉ giảm 0,3% xuống 8,1% vào năm 2024.
Về tổng thể, khoảng 80% số quốc gia sẽ chứng kiến xu hướng hạ nhiệt lạm phát trong năm 2024. Trong nhóm các nước áp dụng mục tiêu lạm phát, lạm phát cơ bản trung bình vào cuối năm 2024 sẽ cao hơn khoảng 0,6% so với mục tiêu đề ra, và sẽ tiệm cận mục tiêu đề ra vào cuối năm 2025.
Báo cáo nhận định, nhờ lạm phát giảm dần và kinh tế phục hồi bền vững, rủi ro đối với kinh tế toàn cầu được kỳ vọng đã qua đi. Trong đó, lạm phát giảm nhanh sẽ thôi thúc các nước kịp thời nới lỏng điều kiện tài khóa, qua đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rủi ro và cái giá phải trả sau đó sẽ cao hơn, điều này đòi hỏi các nước phải tập trung nỗ lực đẩy mạnh tái cơ cấu để tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, GDP có thể thu hẹp do giá cả sẽ tăng tốc, nếu các cú sốc địa chính trị bùng phát, lạm phát kéo dài sẽ buộc các nước phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt thêm một thời gian. Ngoài ra, kinh tế toàn cầu đối mặt với một số rủi ro khác, nếu thị trường bất động sản Trung Quốc lâm vào tình cảnh khó khăn hơn, hoặc nhiều nước tăng thuế và giảm chi tiêu.
Trong ngắn hạn, các nhà tạo lập chính sách đối mặt với thách thức trong việc kéo giảm lạm phát về mục tiêu đề ra, điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng phù hợp với diễn biến lạm phát, chuyển sang lập trường chính sách nới lỏng hơn nếu lạm phát giảm sâu. Tại nhiều nước, lạm phát giảm nhanh và nền kinh tế có thể hấp thụ được tác động từ xu hướng thu hẹp các gói hỗ trợ tài khóa, cần tập trung nỗ lực củng cố tài khóa và tăng cường năng lực ngân sách để giảm dần gánh nặng nợ nần. EMDEs cần tập trung nỗ lực tái cơ cấu, góp phần tăng năng suất lao động, khả năng bền vững về nợ nần và tiệm cận dần với mức thu nhập so với tại những nước thu nhập cao. Tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là về các vấn đề như xử lý nợ, tránh rơi vào khó khăn và tạo dư địa để đảm bảo các nhu cầu đầu tư cần thiết, giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Xuân Thanh
Nguồn tham khảo: IMF tháng 01/2024