Báo cáo triển vọng kinh tế của OECD tháng 2/2024 dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ giảm từ mức 3,1% vào năm 2023 xuống còn 2,9% vào năm 2024, trước khi phục hồi lên 3,0% vào năm 2025 khi các điều kiện tài chính được nới lỏng. Lạm phát dự kiến sẽ quay trở lại mục tiêu ở hầu hết các nước G20 vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, còn quá sớm để chắc chắn rằng áp lực giá cơ bản đã được ngăn chặn hoàn toàn.
Tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm với lạm phát giảm về mục tiêu
OECD nhận định, tăng trưởng toàn cầu năm 2023 cho thấy sự vững vàng đáng ngạc nhiên mặc dù tốc độ tăng trưởng chậm hơn trong bối cảnh thu nhập thực tế giảm và chính sách tiền tệ thắt chặt nhanh chóng và ở diện rộng.
Sự suy giảm hoặc đảo ngược của các yếu tố hỗ trợ cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt ở các nền kinh tế lớn và bất ổn của lĩnh vực bất động sản ở Trung Quốc dự kiến sẽ đẩy tăng trưởng GDP toàn cầu giảm từ 3,1% vào năm 2023 xuống còn 2,9% vào năm 2024. Đây sẽ là năm thứ ba liên tiếp tăng trưởng ở mức vừa phải. Vào năm 2025, tăng trưởng toàn cầu được dự đoán sẽ tăng lên 3,0%, nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng trên diện rộng khi lạm phát tiến gần đến mục tiêu của các ngân hàng trung ương và sự phục hồi ổn định của thu nhập thực tế. Trong trường hợp không có thêm những cú sốc bất lợi về nguồn cung, áp lực nhu cầu hạ nhiệt sẽ cho phép giảm lạm phát toàn phần và lạm phát cơ bản hơn nữa ở hầu hết các nền kinh tế.
Tại Hoa Kỳ, tổng số tiền tiết kiệm dôi dư của hộ gia đình và chi tiêu chính phủ mạnh mẽ được dự đoán sẽ giảm bớt vào năm 2024, nhưng lạm phát thấp hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng tiền lương thực tế và cho phép nới lỏng lãi suất chính sách. Tăng trưởng GDP hàng năm được dự đoán sẽ giảm nhẹ, ở mức 2,1% vào năm 2024 và 1,7% vào năm 2025. Tăng trưởng ở khu vực đồng euro dự kiến sẽ vẫn ở mức thấp trong nửa đầu năm 2024 trước khi phục hồi ổn định khi thu nhập thực tế tăng lên: tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm được dự đoán là 0,6% vào năm 2024 và 1,3% vào năm 2025. Vương quốc Anh cũng có mức tăng trưởng tăng từ 0,3% vào năm 2023 lên 0,7% vào năm 2024 và 1,2% vào năm 2025. Tại Nhật Bản, tốc độ tăng trưởng tiền lương được dự báo sẽ tăng dần nhưng tốc độ tăng GDP sẽ giảm xuống 1% cho cả năm 2024 và 2025 khi các chính sách kinh tế vĩ mô bắt đầu được thắt chặt.
Điều kiện kinh tế của các nền kinh tế thị trường mới nổi trong G20 rất đa dạng, trong đó các yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng cũng rất khác nhau. Trung Quốc tiếp tục vật lộn với các vấn đề về bất động sản, với các kích thích chính sách liên tiếp nhằm bù đắp sự suy giảm đang diễn ra của lĩnh vực bất động sản, trong khi niềm tin của người tiêu dùng thấp và mạng lưới an sinh xã hội không đầy đủ cản trở sự tăng trưởng của tiêu dùng tư nhân. Tăng trưởng GDP ở Trung Quốc được dự đoán sẽ ở mức vừa phải từ 5,2% vào năm 2023 xuống còn 4,7% vào năm 2024 và 4,2% vào năm 2025. Ấn Độ và Indonesia đều dự kiến sẽ tăng trưởng ổn định trong hai năm tới với mức tương ứng là 6,25% và 5% mỗi năm, nhờ tăng trưởng đầu tư mạnh mẽ. Các dự báo cho các nền kinh tế thị trường mới nổi G20 khác chủ yếu phản ánh sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2024 - 2025, nhờ các cải thiện điều kiện tài chính và nhu cầu bên ngoài.
Lạm phát giá tiêu dùng tổng hợp của G20 năm 2023 được dự đoán sẽ cao hơn so với năm 2023. Nếu không tính Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ, lạm phát G20 được dự đoán sẽ giảm từ 3,6% vào năm 2023 xuống 2,6% vào năm 2024 và 2,4% vào năm 2025. Lạm phát vào cuối năm 2025 kỳ vọng sẽ phù hợp với mục tiêu của ngân hàng trung ương ở hầu hết các nước G20.
Lạm phát chung đã giảm trở lại ở các nền kinh tế phát triển lớn vào năm 2023, giảm xuống 4,5% từ mức 6,5% vào năm 2022. Giảm phát được hỗ trợ bởi giá năng lượng giảm kể từ giữa năm 2022 và những cải thiện về chuỗi cung ứng trước đó. Lạm phát cơ bản chỉ giảm nhẹ ở toàn bộ các nền kinh tế tiên tiến G20 vào năm 2023 so với năm 2022, nhưng được dự đoán sẽ tiếp tục ở mức vừa phải trong hai năm tới. Lạm phát ở các nền kinh tế thị trường mới nổi nhìn chung được dự báo vẫn cao hơn so với các nền kinh tế phát triển và sẽ giảm dần trong giai đoạn 2024 - 2025.
Rủi ro và thách thức
Các yếu tố bất ngờ về lạm phát có thể gây ra sự điều chỉnh mạnh về giá tài sản tài chính nếu lãi suất chính sách cao kéo dài hơn. Rủi ro địa chính trị vẫn ở mức cao, đặc biệt liên quan đến cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông sau các cuộc tấn công khủng bố vào Israel của Hamas. Xung đột mở rộng hoặc leo thang có thể làm gián đoạn hoạt động vận tải trên diện rộng hơn so với dự kiến hiện nay, làm gia tăng tình trạng tắc nghẽn nguồn cung và thúc đẩy tăng giá năng lượng. Điều này sẽ gây tổn hại cho tăng trưởng và trực tiếp gây thêm áp lực lạm phát, đồng thời có thể dẫn đến việc tìm kiếm trú ẩn trong các tài sản an toàn trên thị trường tài chính toàn cầu. Kỳ vọng lạm phát cũng có thể tăng trở lại trong trường hợp có những cú sốc bất lợi mới, đặc biệt là trên thị trường năng lượng, với kỳ vọng lạm phát của các hộ gia đình có mối tương quan chặt chẽ với giá xăng dầu.
Rủi ro tiếp theo là tác động của việc tăng lãi suất chính sách trong quá khứ có thể mạnh hơn dự đoán. Giảm phát nhìn chung diễn ra nhanh hơn dự kiến và lãi suất thực trong tương lai đã trở nên hạn chế hơn trong năm qua. Hơn nữa, việc thắt chặt chính sách tiền tệ trong hai năm qua có quy mô và tốc độ hiếm thấy trong quá khứ - và chưa có tiền lệ đối với khu vực đồng euro - và một số tác động của việc thắt chặt chính sách có thể xảy ra.
Tác động của lãi suất cho vay cao hơn đối với gánh nặng trả nợ của hộ gia đình và doanh nghiệp vẫn chỉ là một phần, đặc biệt ở những quốc gia nơi hầu hết các khoản cho vay mua nhà hiện tại đều có lãi suất cố định hoặc chỉ được điều chỉnh sau vài năm, hoặc ở những nơi các doanh nghiệp có thể tận dụng chi phí đi vay đặc biệt thấp trước thời kỳ khủng hoảng 2022. Khi các khoản nợ này đáo hạn hoặc các điều kiện cho vay được điều chỉnh, tác động của lãi suất cao hơn sẽ ngày càng gia tăng. Ngoài ra, vẫn có khả năng những tác động trễ của việc thắt chặt chính sách lên tăng trưởng và việc làm có thể mạnh hơn dự kiến, đặc biệt là ở các nền kinh tế phụ thuộc vào tín dụng.
Yêu cầu chính sách
Về chính sách tiền tệ, lãi suất chính sách không thay đổi ở các nền kinh tế tiên tiến lớn trong những tháng gần đây. Lãi suất thực trong tương lai hiện đang ở mức dương, ngoại trừ Nhật Bản, nơi có chính sách vẫn tiếp tục nới lỏng và việc thu hẹp bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương đang tiếp tục theo các lộ trình, tạo thêm áp lực lên lãi suất dài hạn. Những tác động tích lũy của việc thắt chặt trong quá khứ cũng đang tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, thị trường nhà ở và tín dụng.
Chính sách tiền tệ cần tiếp tục thận trọng để đảm bảo kiềm chế lâu dài những áp lực lạm phát cơ bản. Có khả năng cho việc bắt đầu giảm lãi suất chính sách danh nghĩa nếu lạm phát tiếp tục giảm, với việc giảm lãi suất chính sách bắt đầu ở Hoa Kỳ và khu vực đồng euro vào quý II và III/2024, nhưng quan điểm chính sách sẽ vẫn hạn chế trong thời gian tới. Tốc độ và quy mô cắt giảm lãi suất chính sách sẽ phụ thuộc vào dữ liệu và có thể khác nhau giữa các quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế.
Giá hàng hóa ổn định, mất cân đối cung cầu trên thị trường lao động tiếp tục được thu hẹp, áp lực chi phí và giá cả trong các lĩnh vực dịch vụ giảm là những yếu tố chính giúp xác định thời điểm cắt giảm lãi suất chính sách. Ngược lại, ở Nhật Bản, việc tăng dần lãi suất chính sách được đảm bảo trong hai năm tới với điều kiện lạm phát ổn định ở mức 2% như dự kiến. Tuy nhiên, lập trường chính sách tiền tệ dự kiến sẽ vẫn hỗ trợ trong một thời gian, với lãi suất thực âm sẽ kéo dài cho đến cuối năm 2025.
Các điều kiện tài chính toàn cầu thuận lợi hơn và việc bắt đầu cắt giảm lãi suất chính sách như dự kiến ở các nền kinh tế tiên tiến đã tăng cường dư địa chính sách tiền tệ ở các nền kinh tế thị trường mới nổi bằng cách mang lại sự linh hoạt hơn trong việc thực hiện cắt giảm lãi suất chính sách. Tuy nhiên, sự khác biệt trong các diễn biến kinh tế cơ bản đang được phản ánh trong quan điểm chính sách ngày càng khác nhau ở các nền kinh tế lớn hơn. Với lạm phát vẫn ở mức rất thấp, Trung Quốc tiếp tục giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc và một số lãi suất cho vay để giúp tăng thanh khoản trong hệ thống tài chính và hỗ trợ tăng trưởng. Lãi suất chính sách cũng đang được hạ xuống ở một số quốc gia Mỹ Latinh, như Brazil, một trong những quốc gia đầu tiên thắt chặt chính sách đáng kể vào năm 2021 và nơi lạm phát hiện đã giảm mạnh về phía mục tiêu. Ở những nước khác, gồm Ấn Độ, Indonesia, Mexico và Nam Phi, việc nới lỏng chính sách vẫn chưa được tiến hành, lạm phát vẫn được kiềm chế nhưng vẫn chưa giảm đáng kể.
Có khả năng nới lỏng chính sách dần dần trong hai năm tới ở hầu hết các nền kinh tế này nếu tình trạng giảm phát vẫn tiếp tục. Tốc độ cắt giảm lãi suất chính sách cần được duy trì thận trọng để đảm bảo rằng kỳ vọng lạm phát vẫn được duy trì tốt và tránh thu hẹp nhanh chóng chênh lệch lãi suất với các nền kinh tế tiên tiến có thể làm tăng nguy cơ dòng vốn chảy ra ngoài hoặc đồng tiền mất giá. Ở một số nền kinh tế khác, lãi suất chính sách có thể sẽ không thay đổi để kiềm chế lạm phát cao kéo dài.
Về chính sách tài khóa, các chính phủ phải đối mặt với những lựa chọn chính sách tài khóa khó khăn. Gánh nặng nợ công đã tăng lên đáng kể trong 15 năm qua, và chi phí trả nợ đang tăng lên đều đặn khi các khoản nợ có lãi suất thấp đáo hạn và được thay thế bằng các khoản nợ mới có lãi suất cao hơn. Dân số già đi, quá trình biến đổi khí hậu và các kế hoạch tăng chi tiêu quốc phòng là một trong những yếu tố dẫn đến áp lực chi tiêu ngày càng tăng trong tương lai. Trong trường hợp không có các điều chỉnh chi tiêu bù đắp hoặc gánh nặng thuế cao hơn, những áp lực như vậy sẽ làm tăng thêm đáng kể mức nợ hiện tại ở nhiều quốc gia trong những thập kỷ tới. Theo kế hoạch hiện tại, rất ít quốc gia có khả năng đạt được thặng dư ngân sách cơ bản - một yếu tố quan trọng trước đây đã giúp kiềm chế hoặc giảm bớt gánh nặng nợ - trong một thời gian.
Cần phải cải cách thuế và chi tiêu ở nhiều nền kinh tế nếu muốn duy trì nợ công theo hướng bền vững, bao gồm các nỗ lực mạnh mẽ hơn trong ngắn hạn nhằm cắt giảm, cơ cấu lại chi tiêu và tạo dư địa để thích ứng áp lực ngân sách trong tương lai. Các khuôn khổ tài chính trung hạn đáng tin cậy, với kế hoạch chi tiêu và thuế rõ ràng nhằm kiềm chế nợ công trong khi vẫn duy trì chi tiêu cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng dài hạn và biến đổi khí hậu, cũng sẽ giúp đảm bảo tính bền vững đồng thời mang lại sự linh hoạt để ứng phó với những cú sốc trong tương lai.
Các nền kinh tế thị trường mới nổi cũng phải đối mặt với áp lực tài chính và rủi ro tái cấp vốn do nợ chính phủ cao và các khoản thanh toán lãi tăng. Tỷ lệ các quốc gia có thu nhập thấp gặp khó khăn về nợ vẫn ở mức cao, nhiều quốc gia đã không thể tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế trong hai năm qua. Các chính phủ cần xây dựng lại dư địa tài khóa và giảm gánh nặng trả nợ đồng thời bảo vệ chi tiêu cần thiết cho phát triển. Những nỗ lực tăng cường thu ngân sách và chống trốn thuế, nâng cao hiệu quả chi tiêu, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp nhà nước và giảm tình trạng phi chính thức sẽ cung cấp nguồn lực để tài trợ cho chi tiêu cơ sở hạ tầng cần thiết và giúp mở rộng phạm vi bao phủ của các hệ thống bảo trợ xã hội. Các thể chế và quy định tài chính minh bạch và đáng tin cậy sẽ giúp giảm chi phí tài chính và hạn chế tính thuận chu kỳ của chính sách tài khóa ở nhiều nền kinh tế giàu hàng hóa, từ đó tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô.
Các chính sách cơ cấu cần hướng tới củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Những cú sốc gần đây đối với nền kinh tế toàn cầu và những thách thức dài hạn mà các chính phủ phải đối mặt do triển vọng tăng trưởng suy giảm, quá trình biến đổi khí hậu và số hóa nhấn mạnh tính cấp thiết của cải cách cơ cấu nhằm tăng năng suất, đầu tư và tham gia thị trường lao động, thúc đẩy quá trình giảm phát thải cacbon và tạo ra tăng trưởng toàn diện hơn. Một trong những lĩnh vực quan trọng là giáo dục. Vốn con người là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất, đổi mới và phổ biến kiến thức, đồng thời đảm bảo khả năng tiếp cận cơ hội việc làm cho tất cả mọi người. Báo cáo PISA năm 2023 của OECD cho thấy thực trạng đáng lo ngại khi từ năm 2018-2022 – giai đoạn kéo dài sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 – đã có sự sụt giảm chưa từng có về kết quả học tập của học sinh 15 tuổi ở nhiều quốc gia trong bài kiểm tra đọc và toán. Nghiên cứu thực nghiệm của OECD cho thấy rằng sự sụt giảm điểm PISA này có thể có tác động tiêu cực dai dẳng đến mức năng suất trong 30-40 năm tới.
Các quốc gia cần phải hành động để cải thiện kết quả giáo dục và kỹ năng. Những cải cách giáo dục quan trọng bao gồm các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ giáo viên; nâng cao hiệu quả của các nguồn lực hướng tới học sinh và trường học có hoàn cảnh khó khăn; mở rộng giáo dục nghề nghiệp và học tập suốt đời; tăng cường khả năng đáp ứng của giáo dục nghề nghiệp và đại học với nhu cầu của thị trường lao động. Những cải cách như vậy sẽ kéo theo một số chi phí tài chính - làm tăng thêm những thách thức mà các chính phủ phải đối mặt - nhưng việc nâng cao chất lượng chi tiêu cũng quan trọng không kém.
Một ưu tiên quan trọng khác là phục hồi tăng trưởng thương mại toàn cầu. Các thị trường quốc tế mở và hoạt động tốt trong một hệ thống thương mại toàn cầu dựa trên luật lệ là nguồn thịnh vượng lâu dài quan trọng cho cả nền kinh tế phát triển và thị trường mới nổi. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác đa phương để giải quyết thách thức chung của quá trình biến đổi khí hậu. Để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào giữa thế kỷ này đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế và sẽ kéo theo sự tái phân bổ đáng kể lao động và vốn từ các hoạt động phát thải nhiều khí thải sang các hoạt động xanh hơn. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng xanh và kỹ thuật số, hỗ trợ đổi mới, tăng cường các tiêu chuẩn để giảm lượng khí thải cũng như nâng cao phạm vi và mức độ định giá carbon là những lĩnh vực chính cần thực hiện chính sách.
HN (theo OECD)