Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Hợp tác nghiên cứu

Diễn biến chính của kinh tế thế giới giai đoạn 2011 – 2015 và những tác động đối với thị trường tài chính tiền tệ

18/05/2015 20:59:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đến nay đã trôi qua 6 năm nhưng kinh tế thế giới vẫn biến động đầy bất ổn. Tăng trưởng kinh tế khó khăn, thất nghiệp tăng cao, hoạt động thương mại suy giảm, dòng vốn có nhiều biến động, nợ công có xu hướng gia tăng mạnh,… là những hệ lụy vẫn tiếp tục kéo dài sang giai đoạn mới và khiến kinh tế toàn cầu phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.

Tăng trưởng trong khó khăn, nhất là các nước phát triển

Kinh tế thế giới sau khi bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng1 đạt mức 5,1% trong năm 2010 đã nhanh chóng giảm sâu xuống còn 3,9% vào năm 2011. Đà sụt giảm này tiếp tục kéo dài sang hai năm tiếp theo với mức tăng trưởng rơi xuống còn 3,2% trong 2 năm 2012 – 2013. Và tăng trưởng chỉ bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trở lại với mức tăng nhẹ ước đạt khoảng 3,4% vào năm 2014, và dự báo đạt khoảng 3,9% vào năm 2015. Như vậy, có thể thấy đến thời điểm hiện tại tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện vẫn đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình đạt xấp xỉ 5% giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Bức tranh màu xám của tăng trưởng được ghi nhận ở hầu hết các nhóm nước. Tại các nền kinh tế phát triển, tăng trưởng chuyển biến hết sức chậm chạp trong hai năm đầu 2011 – 2012, và chỉ bắt đầu có dấu hiệu lấy lại đà phục hồi từ năm 2013, tuy nhiên quá trình phục hồi vẫn còn khá mong manh. Đối với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, tình hình dường như cũng không mấy sáng sủa hơn. Nếu như giai đoạn 2010 trở về trước, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế này được coi là động lực cho quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu, thì đến giai đoạn này tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu chậm lại.

Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2010 – 2015 (%)

Tăng trưởng GDP

2010

2011

2012

2013

2014f

2015f

Thế giới

5,1

3,9

3,2

3,2

3,6

3,9

Các nền kinh tế phát triển

3,1

1,6

1,3

1,3

1,8

2,4

Mỹ

3

1,8

2,8

1,9

2,8

3

EU

1,8

1,7

-0,7

-0,5

1,1

1,5

Nhật Bản

4

-0,5

1,4

1,5

1,4

1

Các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi

7,3

6,2

5,0

4,7

4,9

5,3

Trung Quốc

10,3

9,3

7,7

7,7

7,5

7,3

Ấn độ

10,1

6,3

4,7

4,4

5,4

6,4

ASEAN

-

4,5

6,2

5

4,8

5,2

Khu vực Đông Âu

 

 

-0,9

2,4

0,7

2,7

Khu vực Châu Mỹ La tinh Caribe

 

 

2,7

2,6

1,3

2,4

   Nguồn: World Economic Outlook, IMF

Cùng với xu hướng suy giảm về tốc độ tăng trưởng GDP, thương mại toàn cầu cũng đã đánh mất đà tăng trưởng, thường xuyên ở mức dưới 5%, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng trung bình đạt 15% giai đoạn 2005 – 2007. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất công nghiệp toàn cầu diễn biến không ổn định. Chỉ số này có sự trồi sụt liên tục thậm chí có những thời điểm giảm xuống dưới ngưỡng 50 điểm (thể hiện sự thu hẹp của hoạt động sản xuất).

Đồng thời, giai đoạn 2011 – 2015 cũng chứng kiến sự tiếp tục đi xuống của dòng vốn đầu tư toàn cầu (thể hiện qua chỉ tiêu tổng lượng vốn xuyên biên giới gộp – gross cross-border capital). Dòng vốn này đã giảm liên tục từ mức đỉnh điểm 11,8 nghìn tỷ USD vào năm 2007, tương đương xấp xỉ 20% GDP toàn, xuống còn chưa đến 2 nghìn tỷ USD vào năm 2009, sau đó bắt đầu phục hồi trở lại đạt mức 6,1 nghìn tỷ trong năm 2010 nhưng lại tiếp tục giảm xuống còn 5,3 nghìn tỷ năm 2011, 4,6 nghìn tỷ năm 2012 và hiện chỉ dao động ở mức khoảng 4 nghìn tỷ USD, tức là chỉ bằng 1/3 so với mức đỉnh của năm 2007, và tương đương khoảng 6% GDP toàn cầu.

Căng thẳng nợ công

Thâm hụt ngân sách tại các nước đang phát triển ngày càng trầm trọng hơn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu khi các nước đồng loạt phải thực hiện các gói kích thích kinh tế để làm gia tăng chi tiêu của chính phủ, cắt giảm thuế hay cứu trợ cho khu vực tài chính. Tính đến năm 2011, tỷ lệ nợ công bình quân của các nước đang phát triển đã lớn hơn 100%/GDP, trong đó đặc biệt là các nước tại khu vực Châu Âu.

Ngoài ra, Mỹ và Nhật bản cũng không thoát khỏi vòng xoáy này. Những khoản chi tiêu khổng lồ trong các gói kích thích được triển khai để vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng đã khiến vấn đề nợ công của Mỹ ngày càng trở nên trầm trọng và đã đẩy nước Mỹ phải đối diện với “vách đá tài chính” vào cuối năm 2012 với khả năng phải cắt giảm chi tiêu và tăng thuế trên diện rộng. Tính đến thời điểm hiện tại tỷ lệ nợ công tại Mỹ đã xấp xỉ 110% GDP, gấp 3 lần so với thời điểm cách đây 10 năm.

Nhật Bản hiện đang đứng đầu thế giới về tỷ lệ nợ công với mức nợ công trên 200% GDP. Sau khi nền kinh tế bong bóng bị vỡ, Nhật Bản phải đối mặt với một giai đoạn giảm phát triền miên, chi phí phúc lợi xã hội không ngừng gia tăng làm xói mòn nguồn thu từ thuế dẫn tới hậu quả tất yếu là tỷ lệ nợ công ngày càng cao. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và những nỗ lực khôi phục kinh tế sau thảm họa động đất và sóng thần đã tiếp tục làm gia tăng số nợ công của Nhật Bản. Năm 2011, tổng số nợ công của Chính phủ đã gấp đôi GDP. Số nợ công ngày càng gia tăng trong năm 2012 khi Chính phủ Nhật Bản tiếp tục chi các khoản đầu tư lớn để tái thiết những khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần tháng 3/2011; và vào năm 2013 khi Chính phủ của thủ tướng Abe mạnh tay đưa ra các khoản kích thích kinh tế mới.

Lạm phát giảm đan xen nguy cơ giảm phát

Giai đoạn 2011 – 2015 cũng ghi nhận những xu thế chuyển biến mang tính tích cực. Trước hết, trái với những giai đoạn trước đây khi kinh tế thế giới tăng trưởng nóng, lạm phát luôn là một thách thức đối với việc duy trì sự ổn định của kinh tế toàn cầu, giai đoạn 2011 – 2015 vừa qua, sức ép lạm phát không quá lớn, thậm chí lạm phát có xu hướng giảm ở mức thấp hơn mục tiêu đặt ra ở các nước phát triển, đặt các quốc gia này vào tình trạng phải đối mặt với rủi ro giảm phát trên diện rộng. Lạm phát chỉ có xu hướng gia tăng trong năm 2011 với mức tăng đạt đỉnh 5,2% trước các áp lực biến động từ các yếu tố nguồn cung, tuy nhiên lại duy trì xu hướng giảm liên tục trong suốt những năm còn lại, và hiện chỉ dao động ở mức 3,8%.

Xu hướng lạm phát giảm được ghi nhận ở tất cả các nhóm nước, đặc biệt tại các nền kinh tế phát triển. Đối với nhóm nước này, lạm phát giai đoạn 2011 đến nay thường xuyên dao động ở dưới mức mục tiêu 2% và hiện vẫn đang tiếp tục xu hướng đi xuống. Đối với nhóm nước đang phát triển và mới nổi, xu hướng lạm phát cũng có chiều hướng chung đi xuống nhưng mức độ biến động khác nhau giữa các nước. Trong khi một số nền kinh tế như Brazil, Indonesia, Ấn Độ vẫn phải đối mặt với áp lực lạm phát khá cao và phải tiếp tục thực hiện các chính sách thắt chặt để kiềm chế lạm phát thì ngược lại một số nền kinh tế như Trung Quốc, Thái Lan, lạm phát lại giảm tốc khá nhanh và hiện còn đang đứng trước cảnh báo về rủi ro giảm phát.

Lạm phát không có nhiều biến động trong giai đoạn 2011 – 2014 là do các áp lực đối với lạm phát từ phía cung cũng như phía cầu là không quá lớn. Về phía cung, giai đoạn 2011 – 2014 giá cả các yếu tố đầu vào không có sự biến động quá mạnh, đặc biệt hình thành xu hướng giảm từ năm 2013 trở lại đây. Năm 2014 là năm ghi nhận mức giảm kỷ lục của giá cả các yếu tố đầu vào, theo đó, chỉ số giá hàng hóa chung giảm xấp xỉ 30%, chỉ số giá lương thực thực phẩm giảm 6,3% trong khi giá năng lượng giảm đến xấp xỉ 39%. Đà sụt giảm này tiếp tục kéo dài sang năm 2015 khi chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm 2015, giá các mặt hàng hóa chung đã giảm 11,3%; trong đó giá lương thực thực phẩm giảm hơn 9% và giá năng lượng giảm xấp xỉ 14%.

Về phía cầu, sức ép lạm phát cũng không thực sự rõ ràng. Kinh tế thế giới chậm phục hồi thể hiện ở cả hoạt động thương mại giảm sút và sản xuất công nghiệp đình đốn cho thấy tổng cầu thế giới ở mức thấp trong giai đoạn vừa qua. Sức ép lạm phát từ phía cầu chỉ đến trong một số thời điểm nhất định khi các nền kinh tế lớn liên tục tung ra các gói kích thích kinh tế, đồng nghĩa với việc một lượng tiền lớn được bơm ra toàn cầu đã tạo áp lực dịch chuyển các dòng vốn nóng, đặc biệt vào các thị trường mới nổi.

Cân bằng cải thiện nhưng chưa bền vững

Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, tình trạng mất cân bằng cán cân vãng lai trên toàn cầu, được đo lường bởi tỷ lệ % GDP của thế giới đang có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Trong đó, những nước có thặng dư mạnh là Trung Quốc và các nền kinh tế định hướng xuất khẩu, còn Mỹ là quốc gia phát triển có mức thâm hụt cao nhất. Những nền kinh tế phát triển khác như khu vực đồng tiền chung Châu Âu, Nhật Bản, nhìn chung cán cân vãng lai được duy trì ở mức cân bằng hơn. Tuy nhiên, kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, tình trạng mất cân bằng này đã có xu hướng thu hẹp lại đáng kể, và xu hướng này vẫn tiếp tục duy trì trong giai đoạn 2011 đến nay.

Tình trạng mất cân đối được thu hẹp lại là do có sự điều chỉnh nhu cầu trong nội tại nền kinh tế của mỗi nước, đối với các quốc gia có thâm hụt cán cân vãng lai lớn, cầu nội địa và nhu cầu nhập khẩu trong nước giảm đã giúp thu hẹp dần mức độ thâm hụt. Ngược lại, tại các nền kinh tế có mức thặng dư cao, hoạt động xuất khẩu cũng bị tác động mạnh do cầu tiêu dùng thế giới suy giảm, từ đó khiến thặng dư cán cân vãng lai không còn lớn như giai đoạn trước khi khủng hoảng xảy ra.

Ngoài ra, sự thay đổi trạng thái cán cân vãng lai cũng có thể bắt nguồn từ quá trình điều chỉnh chính sách tại các quốc gia để hướng tới những thay đổi về mặt cấu trúc. Đối với các quốc gia có mức độ thâm hụt lớn, việc củng cố lại hệ thống tài khóa đi kèm với các biện pháp giúp gia tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước được coi là các biện pháp bền vững giúp khôi phục lại vị thế cán cân. Ngược lại, với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, việc thực hiện một loạt các biện pháp cải tổ để đưa nền kinh tế phát triển theo định hướng cân bằng hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu, gia tăng vị trí của tiêu dùng trong nước (như trường hợp Trung Quốc) cũng đã khiến mức thặng dư khổng lồ giai đoạn trước khủng hoảng có xu hướng thu hẹp lại.. Tuy nhiên, với diễn biến hiện tại thì sự mất cân bằng toàn cầu được thu hẹp ở đây chủ yếu là do tác động của những nhân tố chu kỳ - do sự giảm sút nhu cầu từ các nước thâm hụt, những điều chỉnh chính sách chưa thúc đẩy được tăng trưởng và việc làm như kỳ vọng.

Những tác động đối với thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu

Những diễn biến chủ đạo của kinh tế toàn cầu giai đoạn 2011 – 2015 đã chi phối và ảnh hưởng mạnh đến thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu, trong đó đáng chú ý là diễn biến của các thị trường ngoại hối, thị trường vàng và thị trường chứng khoán.

Trong giai đoạn vừa qua, những biến động trái chiều của kinh tế toàn cầu đã tác động lên thị trường ngoại hối quốc tế, khiến các đồng tiền mạnh trong quỹ dự trữ quốc tế có những biến động phức tạp, trong đó đáng chú ý là diễn biến của đồng USD, đồng JPY và đồng EURO.

Vào năm 2011, 2012, sự chuyển biến chậm chạp về mặt kinh tế cộng với những của thị trường tài chính trong nước đã đẩy đồng USD vào xu hướng tiếp tục mất giá so với hầu hết các đồng tiền mạnh khác, thậm chí đã mất giá mạnh so với đồng EURO ngay cả thời điểm kinh tế khu vực đồng tiền chung Châu Âu lao dốc, chỉ số đồng USD đã có lúc giảm giá mạnh dưới mức 75, thấp hơn nhiều so với mức lớn hơn 90 vào thời điểm hiện nay. Mặc dù không diễn ra liên tục nhưng xu hướng mất giá này của đồng USD đã kéo dài hơn một thập kỷ, và vào nhiều thời điểm của năm 2011 có nhiều lo ngại về niềm tin vào đồng USD sẽ bị sụp đổ có thể sẽ đặt thị trường tài chính toàn cầu vào những rủi ro lớn.

Tại khu vực Châu Âu, sự thiếu vắng các chính sách hiệu quả và sự gắn kết giữa các nước trong việc giải quyết vấn đề nợ công đã tạo áp lực lên đồng EURO, làm cho đồng tiền chung của khu vực Châu Âu lên xuống trồi sụt, không ổn định. Trong khi đó, chính sách kinh tế mới của chính quyền Thủ tướng Anbe và trận động đất của Nhật bản đã tác động làm cho đồng yên Nhật lên giá so với cả đồng USD và EURO, cho dù NHTW Nhật bản đã có những can thiệp để kiềm chế sự tăng gia này. Đồng thời, những biến động của dòng vốn trên toàn cầu đã tạo nên sự bất ổn mạnh trên thị trường ngoại hối tại các nước đang phát triển. Dòng vốn đầu tư gia tăng mạnh cũng đã tạo áp lực giảm giá đồng nội tệ tại Brasil, Nga, Nam phi, Indonexia,...

Tuy nhiên, bước sang năm 2013, 2014, thị trường lại ghi nhận xu hướng phục hồi của đồng USD, sự giảm giá của đồng JPY và xu hướng giảm giá của đồng EURO và các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi. Sự phục hồi của kinh tế Mỹ và khả năng cắt giảm mạnh các gói QE được phát tín hiệu vào năm 2013 đã tác động đến diễn biến của đồng USD trên thị trường ngoại hối. Xu hướng tăng giá của đồng USD đã bắt đầu hình thành liên tục và ổn định từ cuối tháng 7/2014. Tính cho đến thời điểm hết quý I năm 2015, đồng USD đã tăng khoảng 17% so với đồng Euro; 12,5% so với đồng Yên Nhật so với cùng kỳ năm 2014.

Ngược lại, do tác động của chính sách siêu nới lỏng tiền tệ, đồng JPY đã giảm mạnh so với đồng USD, chỉ trong vòng 6 tháng (cuối năm 2012 đến những tháng đầu năm 2013), đồng JPY đã mất giá hơn 20% so với đồng USD và tiếp tục xu hướng giảm cho đến thời điểm hiện nay. Đồng JPY bị mất giá mạnh đã đặt áp lực lên lên hoạt động xuất khẩu của các nước Đông Á cho dù mức độ bao phủ của tác đông này là chưa chắc chắn.

Bên cạnh đó, sự mờ nhạt của các hoạt động cứu trợ tài chính và sự yếu kém của hoạt động kinh tế tại khu vực Châu âu đã chi phối diễn biến không ổn định của đồng EURO, đồng tiền này đã có lúc lên giá mạnh từ mức 1.2 vào giữa năm 2012 lên khoảng 1.4 trong đầu năm 2014, xong hiện tại đã quay lại xấp xỉ mức xuất phát. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi vẫn tiếp tục mất giá mạnh so với đồng USD trong năm 2013 và đã giảm ổn định hơn vào năm 2014.

Những biến động tiền tệ đã đem đến những bất ổn của thị trường ngoại hối và còn có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của khu vực kinh tế thực (hoạt động của các doanh nghiệp). Bên cạnh đó, những biến động tiền tệ, đặc biệt là của đồng USD, cũng tác động tới xu hướng và sự giao động của giá cả trên thị trường hàng hóa. Xu hướng giảm giá trong dài hạn của đồng USD sẽ làm trầm trọng hơn xu hướng tăng giá của hàng hóa vào năm 2011, 2012 và ngược lại trong năm 2013, 2014 và những tháng đầu năm 2015. Mặt khác sự không ổn định của giá cả hàng hóa sẽ làm gia tăng mức độ tài chính hóa trên thị trường này, khuyến khích các hoạt động đầu tư tài chính tràn sang thị trường giao dịch hàng hóa tương lai.

Cùng với thị trường tiền tệ, thị trường vàng cũng có một giai đoạn diễn biến không ổn định trước những biến động của kinh tế toàn cầu. Kể từ năm 2009, vàng đã trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các hoạt động đầu tư khi kinh tế và tài chính toàn cầu rơi vào tình trạng khủng hoảng, giá vàng tăng mạnh, lớn 5 lần so năm 2002, lên tới hơn 1000 USD/ounce vào thời điểm hiện tại. Trong đó, năm 2010 – 2012 là những năm ghi nhận mức tăng mạnh mẽ nhất của giá vàng.

Vào năm 2011, giá vàng đã có lúc đạt ngưỡng cao nhất vào tháng 9 ghi nhận ở mức 1,895 USD/ounce và cuối năm 2012, giá vàng đã giảm xuống còn khoảng 1,657 USD/ounce. Như vậy là trong 2011, 2012, giá vàng vào thời điểm cuối năm đã tăng mạnh so với đầu năm lần lượt là 9% và 8%.

Tuy nhiên bước sang năm 2013, sự phục hồi rõ ràng tại các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Mỹ và sự lên giá của đồng đôla đã khiến giá vàng đã giảm liên tục, kết thúc năm, giá vàng giao dịch đã giảm xuống ở mức trên 1200 USD/ounce từ mức trên 1600 USD/ounce vào cuối năm 2012. Bước sang năm 2014, do tác động của những căng thẳng địa chính trị và các quyết sách điều hành chưa rõ ràng tại khu vực Châu Âu và một số nền kinh tế lớn khác nên giá vàng đã chấm dứt xu hướng giảm giá, gần như tăng trong 3 quý đầu năm, giao động trong ngưỡng 1230 - 1330 USD/ounce và chỉ bắt đầu xu hướng giảm giá vào 3 tháng cuối năm, ở mức < 1200 USD/ounce. Bước sang năm 2015 giá vàng tiếp tục có những dao động tăng giảm và hiện đang ở mức giao dịch khoảng 1205 USD/ounce.

Sự biến động không ổn định của giá vàng trong thời gian vừa qua đã phản ảnh những tín hiệu không ổn định của kinh tế toàn cầu, đồng thời sự lên giá quá mạnh của vàng cũng đã có ảnh hưởng bất lợi đối với giá trị đồng nội tệ (tỷ giá) của những nước có nhu cầu nhập khẩu và đầu cơ vàng cao như Ấn độ, Trung Quốc, Việt Nam,….

Trong khi thị trường vàng và thị trường ngoại tệ chứng kiến những dao động bất ổn định thì ngược lại, thị trường chứng khoán giai đoạn 2011 đến nay lại ghi nhận những tín hiệu phục hồi mạnh mẽ. Với việc triển khai đồng loạt các gói QE tại một loạt các thị trường phát triển như Mỹ, Anh, Nhật và EU đã khiến một lượng thanh khoản lớn được bơm vào nền kinh tế, đồng thời việc duy trì một môi trường chính sách nới lỏng liên tục đã khiến các tài sản tài chính tăng giá, trong đó thị trường chứng khoán của các nước này liên tục tăng trưởng mạnh mẽ sau giai đoạn khủng hoàng tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, không chỉ thị trường chứng khoán tại các quốc gia phát triển gia tăng, mà dòng tiền giá rẻ này còn chảy đến các thị trường đang phát triển và mới nổi, khiến thị trường chứng khoán toàn cầu nhìn chung hồi phục khá tốt sau khủng hoảng. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý cần phải nhận thấy đó là mặc dù cùng mang xu thế tăng giá chung trong cả giai đoạn, tuy nhiên tại các thị trường khác nhau có thể chứng kiến những mức độ biến động khác nhau. Trong khi tại thị trường các nước phát triển, xu thế tăng điểm được duy trì hầu như liên tục trong suốt cả giai đoạn, thì tại các thị trường mới nổi và đang phát triển, mức độ biến động cao hơn. Điều này phù hợp với diễn biến thực tế khi thị trường các nước đang phát triển chịu tác động mạnh hơn từ những thay đổi chính sách tại các quốc gia phát triển cũng như từ những biến động dòng vốn giai đoạn vừa qua.

Tóm lại, giai đoạn vừa qua đã chứng kiến những nỗ lực phục hồi của các nền kinh tế sau khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, đã hơn năm năm trôi qua, kinh tế thế giới vẫn chưa vượt qua được những bất ổn. Các nước lớn tiếp tục loay hoay với vấn đề nợ công, sự yếu kém của khu vực ngân hàng, tổng cầu yếu và sự tê liệt của chính sách. Chính sách tiền tệ mở rộng mạnh mẽ tại các nước đang phát triển đã không thành công trong việc đưa tín dụng vào khu vực kinh tế thực và tạo sức bật cho tổng cầu. Chính sách tài khóa thắt lưng buộc bụng và việc cắt giảm tiền lương tại nhiều quốc gia chưa đem lại kết quả tốt đẹp trong việc giải quyết việc làm, ngăn chặn sự căng thẳng của nợ công và sự yếu kém của khu vực tài chính. Những bất ổn của các nước lớn sẽ có thể dẫn đến những rối loạn tài chính mạnh mẽ và sự sụt giảm tăng trưởng kinh tế không chỉ trong ngắn hạn mà còn không lạc quan cho giai đoạn trung hạn.

Tài liệu tham khảo

1. P. Butzen, M. Deroose, S. Ide, Global imbalances and gross capital flows;

2. Elliott James, Kate McLoughlin and Ewan Rankin, Cross border capital flows since the global financial crisis;

3. UNCTAD, Trade and development report 2011, 2012, 2013, 2014;

4. IMF, World ecnomic outlook 2011, 2012, 2013, 2014;

5. IMF, Global financial stability report 2011, 2012, 2013, 2014;

6. Aizenman J., M. Binici and M.M. Hutchison (2014), The transmission of Federal Reserve tapering news to emerging financial markets, NBER, Working Paper 19980.

7. Arslanalp S. and T. Tsuda (2014), Tracking global demand for emerging market sovereign debt, IMF, Working Paper 14/39.

8. Blanchard O.J., H. Faruqee and M. Das (2010), “The initial impact of the crisis on emerging market countries”, Brookings Papers on Economic Activity 41, 263‑307.

9. Blanchard O.J. and G.M. Milesi Ferretti (2009), Global imbalances in midstream ?, Staff Position Note 09/29.

Và một số trang web quốc tế www.bloomberg.com, www.cnn.com,

 

Phòng Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng Trung Ương

Viện Chiến lược Ngân hàng

 

1 Các số liệu theo thống kê của IMF

1

 


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Hợp tác nghiên cứu
CÁC TIN KHÁC
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
01/05/2025
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
22/12/2015
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
22/12/2015
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
16/12/2015
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
16/12/2015
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
30/11/2015
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
30/11/2015
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
16/11/2015
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
16/11/2015
Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
16/09/2015
Đang hiển thị 1 đến 10 của 94
  • 1
  • 2
  • 3
  • 10
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready