Sáng 11/03, tại Hà Nội, Viên Chiến lược phát triển ( Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) tổ chức Hội thảo công bố báo cáo cuối cùng Chương trình Chia sẻ tri thức Hàn Quốc với Việt Nam năm 2014 (KSP 2014). Tại diễn đàn này, các các chuyên gia Hàn Quốc đã sẻ những kinh nghiệm quản lý trong các lĩnh vực như: chính sách phát triển vùng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, đăng ký công dân quốc gia cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam.
Sáng 11/03, tại Hà Nội, Viên Chiến lược phát triển ( Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) tổ chức Hội thảo công bố báo cáo cuối cùng Chương trình Chia sẻ tri thức Hàn Quốc với Việt Nam năm 2014 (KSP 2014). Tại diễn đàn này, các các chuyên gia Hàn Quốc đã sẻ những kinh nghiệm quản lý trong các lĩnh vực như: chính sách phát triển vùng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, đăng ký công dân quốc gia cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam.
Hội thảo tập trung thảo luận 4 chủ đề: Chính sách phát triển kinh tế vùng bền vững: kinh nghiệm của Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam; Chính sách cung cấp kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy sử dụng giao dịch trực tuyến ở Việt Nam: Tập trung vào hệ thống đăng ký công dân quốc gia; Hệ thống thẩm định công nghệ như một phương pháp cấp vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mang tính đổi mới sáng tạo tại Việt Nam và chuyên đề Bán nhà theo hình thức góp vốn xây dựng và các cơ chế bảo lãnh nhà ở đối với Việt Nam: bài học từ kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Giáo sư Ji Woong Yoon, Đại học Kyunghee (Hàn Quốc) trình bày báo cáo tại Hội thảo
1. Xây dựng Hệ thống dữ liệu dân cư
Trong khuôn khổ KSP, KSP 2014 tập trung vào chủ đề lớn là “Các chiến lược thúc đẩy tiến bộ công nghệ và định cư quốc gia bền vững ở Việt Nam”. Báo cáo “Chính sách cung cấp kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy sử dụng giao dịch trực tuyến ở Việt Nam: Tập trung vào hệ thống đăng ký công dân quốc gia” thu hút được nhiều sự quan tâm của các đại biểu tham dự Hội thảo. Báo cáo đánh giá những cố gắng của Việt Nam trong việc phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông vào mọi lĩnh vực đời sống thời gian qua. Việt Nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng cao trên thế giới trong vòng mười năm qua. Trong đó, ngành CNTT, Viễn thông Việt Nam đang phát triển nhanh hơn so với các quốc gia có cùng trình độ và có tiềm năng lớn để phát triển hơn nữa trong tương lai. Tỉ lệ xâm nhập của các thiết bị di động ở Việt Nam tăng nhanh từ 87% năm 2010 lên 175% năm 2014; dịch vụ 3G được triển khai rộng khắp tại nhiều địa phương, băng thông rộng tăng mạnh, hệ thống cáp quang ngầm dưới biển kết nối với thế giới, tất cả các trường học ở Việt Nam đều được tiếp cận Internet; xếp hạng mức độ sẵn sàng Chính phủ điện tử của Việt Nam năm 2014 đã tăng lên vị trí thứ 99/193 quốc gia (năm 2004, Việt Nam xếp thứ 99); doanh thu thương mại điện tử trên một người mua trực tuyến đạt 120 USD (năm 2013); hệ thống thanh toán điện tử quốc gia phát triển mạnh, tỷ lệ dân số tiếp cận với các dịch vụ tiện ích ngân hàng hiện đại (như Thẻ ATM, Internet banking, Mobile banking, ...) ngày càng tăng... những yếu tố này là tiền đề quan trọng giúp Việt Nam có thể phát triển hiệu quả kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, góp phần thúc đầy quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Đánh giá vai trò của Hệ thống dữ liệu về dân cư, Giáo sư Ji Woong Yoon, Đại học Kyung Hee khẳng định, hệ thống đăng ký công dân quốc gia là một kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin quan trọng, thúc đẩy các giao dịch trực tuyến và nâng cao chất lượng của các dịch vụ mà Chính phủ điện tử triển khai sau này. Chia sẻ các chính sách cung cấp kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy sử dụng giao dịch trực tuyến ở Việt Nam tập trung vào hệ thống đăng ký dân sự (hộ tịch) quốc gia, Giáo sư Ji Woong Yoon, cho biết, nghiên cứu này đưa ra những gợi ý chính sách cho xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công dân quốc gia, có thể dựa trên cơ sở chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu ở Việt Nam. Kinh nghiệm của Hàn Quốc sử dụng công nghệ thông tin để hệ thống hóa và cải cách hệ thống đăng ký dân sự được sử dụng làm chuẩn để thực hiện công việc này.
Ngoài ra, Giáo sư Yoon Jiwoong cũng đã chỉ ra những rào cản đối với lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông nói chung và thương mại điện tử của Việt Nam hiện này là nguồn nhân lực, môi trường pháp lý, logicsties, thanh toán, bảo mật và nhận thức.
Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc trong xây dựng Hệ thống dữ liệu về dân cư quốc gia, Giáo sư Ji Woong Yoon cho biết, Hàn Quốc đã chi ngân sách xấp xỉ 48,8 tỷ Won (tương đương 48,8 triệu USD) trong thời gian từ năm 1987 đến 1991 để xây dựng hệ thống đăng ký công dân quốc gia và mất nhiều năm để thực hiện đầu tư tích hợp hệ thống này với các hệ thống thông tin khác ở các văn phòng chính quyền cấp địa phương. Để làm được điều đó, Chính phủ Hàn Quốc đã đồng bộ được hệ thống đăng ký công dân quốc gia giữa chính quyền cấp trung ương và địa phương, thiết lập được khung chia sẻ thông tin của Chính phủ có khả năng thực thi, minh bạch và hiệu quả cao.
Cũng theo GS. Ji Woong Yoon, hệ thống được xây dựng, phát triển và kết nối tốt sẽ tiết kiệm được chi phí, ngân sách của nhà nước. Năm 2005, Hàn Quốc thiết lập Trung tâm chia sẻ thông tin công cộng. Năm 2011, Chính phủ Hàn Quốc ban hành Luật Chính phủ điện tử, trong đó có những quy định về chia sẻ thông tin chính phủ, theo đó, các bộ, ngành phải chủ động chia sẻ thông tin của mình khi cần thiết. Hiện Trung tâm đã tiết kiệm được khoảng 2 tỷ USD nhờ chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ và các tổ chức công khác.
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, để triển khai thành công Đề án cấp Chứng minh nhân dân điện tử - một thẻ căn cước điện tử công dân có con chip chứa tất cả những thông tin có trong sổ hộ khẩu, hộ tịch (chứa tất cả các thông tin cá nhân), cần thiết lập hệ thống đăng ký công dân quốc gia tích hợp. Các cơ sở dữ liệu thông tin về công dân sau quá trình thu thập cần giao cho một bộ hoặc cơ quan của Chính phủ quản lý, và các bộ, ngành khác đều có thể khai thác những thông tin này trong phạm vi nhất định liên quan đến công tác quản lý nhà nước của mình. Đồng thời, cần phải có những quy định pháp lý cụ thể trong việc khai thác những thông tin quốc gia này; đặc biệt, Chính phủ cần phải xây dựng một chính sách bảo vệ thông tin ở mức cao, giảm sự lo ngại của người dân về việc xâm nhập và rò rỉ thông tin.
2. Chia sẻ tri thức của Hàn Quốc với Việt Nam (KSP)
Đánh giá cao ý nghĩa Chương trình KSP của Hàn Quốc đối với Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương cho biết, Chương trình KSP là sáng kiến của Hàn Quốc nhằm hỗ trợ phát triển các nước đối tác thông qua chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc. KSP bao gồm nghiên cứu chính sách, tham vấn phát triển và tăng cường năng lực nhằm phục vụ mục tiêu hỗ trợ các quốc gia đối tác phát triển thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thông qua kinh nghiệm của Hàn Quốc. Mục tiêu bao trùm của Chương trình này là hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và các nỗ lực tái cơ cấu thể chế của các quốc gia đối tác phát triển thông qua chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc. Chương trình KSP không có ý định đưa ra bất kỳ một giải pháp cuối cùng hoặc cách thức rõ ràng nào để phát triển kinh tế một cách cụ thể mà phân tích các vấn đề kinh tế của một quốc gia từ phía cầu và đưa ra các phương án chính sách mang tính thực tế và hữu ích cũng như tham khảo dựa trên cơ sở những trường hợp và kinh nghiệm tương tự của Hàn Quốc.
Tham dự Hội thảo, ông Jun Dea Joo, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hàn Quốc tại Việt Nam cho rằng, báo cáo cuối cùng của KSP 2014 đã khẳng định nỗ lực lớn của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc dành cho Việt Nam. Đồng thời khảng định, Hàn Quốc tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam để tìm ra những phương thức hữu ích, lâu dài nhất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Việt Nam.
Chương trình KSP, do Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc (MOSF) khởi xướng và bắt đầu được thực hiện từ năm 2004, là một trong những khung khổ hợp tác song phương giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam. Trong khuôn khổ KSP, Hàn Quốc - quốc gia được cộng đồng quốc tế đánh giá là thành công nhất trong việc chuyển từ nước tiếp nhận viện trợ sang nước cung cấp viện trợ với quy mô ngày càng tăng cho quốc gia đang phát triển, đã chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế của mình với các quốc gia đối tác tiếp nhận hỗ trợ của Chương trình.
Với hơn 40 nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế - xã hội mà Việt Nam còn nhiều vướng mắc và mong muốn học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc, KSP đã hoàn thành với những khuyến nghị có giá trị, là đầu vào quan trọng cho các nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn của Việt Nam, đặc biệt là cho xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015.
(Cnth theo Tạp chí thnh)